Suy niệm Lời Chúa Thứ Tư Tuần XXIV Mùa Thường Niên Năm chẵn

Thứ ba - 18/09/2018 22:40 97 0
“Chúng tôi đã thổi sáo mà các anh không nhảy múa, chúng tôi đã hát những điệu bi ai mà các anh không khóc”.
Suy niệm Lời Chúa Thứ Tư Tuần XXIV Mùa Thường Niên Năm chẵn

BÀI ĐỌC I: 1 Cr 12, 31 – 13, 13

“Đức tin, đức cậy, đức mến vẫn tồn tại, nhưng đức mến là trọng hơn cả”.

Trích thư thứ nhất của Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Côrintô.

Anh em thân mến, anh em hãy cầu mong những ơn cao trọng hơn. Và tôi chỉ bảo anh em một con đường hoàn hảo nhất. Nếu tôi nói được các tiếng của loài người và thiên thần, mà tôi không có bác ái, thì tôi chỉ là tiếng đồng la vang dội hoặc não bạt vang động. Và nếu tôi được nói tiên tri, thông biết mọi mầu nhiệm và mọi khoa học; nếu tôi có đầy lòng tin, đến nỗi chuyển dời được núi non, mà không có bác ái, thì tôi vẫn là không. Nếu tôi phân phát hết gia tài để nuôi kẻ nghèo khó, nếu tôi nộp mình để chịu thiêu đốt, mà tôi không có bác ái, thì không làm ích gì cho tôi.

Bác ái thì kiên tâm, nhân hậu. Bác ái không đố kỵ, không khoác lác, không kiêu hãnh, không ích kỷ, không nổi giận, không suy tưởng điều xấu, không vui mừng trước bất công, nhưng chia vui cùng chân lý. Bác ái tha thứ tất cả, tin tưởng tất cả, trông cậy tất cả, chịu đựng tất cả.

Bác ái không khi nào qua đi, ơn tiên tri sẽ bị huỷ diệt, ơn ngôn ngữ sẽ chấm dứt, ơn thông minh sẽ biến mất. Vì chưng chúng ta hiểu biết có giới hạn, chúng ta nói tiên tri có giới hạn, nhưng khi điều vẹn toàn đến, thì điều có giới hạn sẽ biến đi. Khi còn bé nhỏ, tôi nói như trẻ nhỏ, suy tưởng như trẻ nhỏ, lý luận như trẻ nhỏ; nhưng khi tôi đã trưởng thành, tôi loại bỏ những gì là trẻ nhỏ. Hiện giờ, chúng ta thấy mờ mịt qua tấm gương, nhưng lúc bấy giờ, diện đối diện. Hiện giờ, tôi biết có giới hạn, nhưng lúc bấy giờ, tôi sẽ biết như tôi được biết. Hiện giờ, đức tin, đức cậy, đức mến, tất cả ba đều tồn tại, nhưng trong ba nhân đức, đức mến là trọng hơn cả. Đó là lời Chúa.

ĐÁP CA: Tv 32, 2-3. 4-5. 12 và 22

Đáp: Phúc thay dân tộc mà Chúa chọn làm cơ nghiệp riêng mình (c. 12b).

Xướng: 1) Hãy ngợi khen Chúa với cây đàn cầm, với đàn mười dây, hãy xướng ca mừng Chúa. Hãy ca mừng Người bài ca mới, hát mừng Người với tiếng râm ran. – Đáp.

2) Vì lời Chúa là lời chân chính, bao việc Chúa làm đều đáng cậy tin. Chúa yêu chuộng điều công minh chính trực, địa cầu đầy ân sủng Chúa. – Đáp.

3) Phúc thay quốc gia mà Chúa là Chúa tể, dân tộc mà Chúa chọn làm cơ nghiệp riêng mình. Lạy Chúa, xin đổ lòng từ bi xuống trên chúng con, theo như chúng con tin cậy ở nơi Ngài. – Đáp.

ALLELUIA: Tv 147, 12a và 15a

Alleluia, alleluia! – Giêrusalem, hãy ngợi khen Chúa, Đấng đã sai lời Người xuống cõi trần ai. – Alleluia. 

PHÚC ÂM: Lc 7, 31-35

“Chúng tôi đã thổi sáo mà các anh không nhảy múa, chúng tôi đã hát những điệu bi ai mà các anh không khóc”.

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca.

Khi ấy, Chúa Giêsu phán rằng: “Ta sẽ phải nói những người của thế hệ này giống ai đây? Họ giống ai? Họ giống như những đứa trẻ ngồi ngoài đường phố gọi và nói với nhau rằng:

‘Chúng tôi đã thổi sáo cho các anh, mà các anh không nhảy múa.

‘Chúng tôi đã hát những điệu bi ai, mà các anh không khóc’.

Bởi vì khi Gioan Tẩy Giả đến, không ăn bánh, không uống rượu, thì các ngươi bảo: ‘Người bị quỷ ám’. Khi Con Người đến có ăn có uống, thì các ngươi lại nói: ‘Kìa con người mê ăn tham uống, bạn bè với quân thu thuế và phường tội lỗi’. Nhưng sự khôn ngoan đã được minh chính bởi tất cả con cái mình”. Đó là lời Chúa.

(thanhlinh.net)

++++++++++++++++++

19/09/18 – THỨ TƯ TUẦN 24 TN

Th. Gia-nu-a-ri-ô, giám mục, tử đạo       

Lc 7,31-35

TRÂN TRỌNG SỰ KHÁC BIỆT

“Con Người đến, cũng ăn cũng uống như ai, thì các ông lại bảo: ‘Đây là tay ăn nhậu, bạn bè với quân thu thuế và phường tội lỗi.’ ” (Lc 7,34)

Suy niệm: Lối sống của Gio-an Tẩy Giả và của Đức Giê-su thật khác nhau. Gio-an nhiệm nhặt; còn Đức Giê-su thông thoáng cởi mở. Buồn cười là cả hai đều bị người Do Thái chỉ trích, do chính lối sống của mỗi vị. Vạch ra cái ‘buồn cười’ ấy ở đây, Đức Giê-su không chỉ nhằm xác nhận một kinh nghiệm về nhân tình thế thái: Ở sao cho vừa lòng người, ở rộng người cười, ở hẹp người chê. Phải chăng Ngài còn hàm ý rằng không có một lối sống duy nhất tốt, mà có nhiều: mỗi người, theo ơn gọi của mình, sẽ đảm nhận lối sống phù hợp với ơn gọi đó? Điều cốt yếu là cái động lực, cái ‘hồn’ của lối sống mà mình đảm nhận.

Mời Bạn: Cảnh giác mối cám dỗ (nhiều khi trong vô thức) đòi kẻ khác phải giống mình hay phải theo ý mình (như thể ý mình luôn luôn đúng nhất và tốt nhất!). Đức Giê-su gọi những người như vậy là “như lũ trẻ ngoài chợ;” khoa tâm lý ngày nay sẽ xác định cách “chuyên môn” hơn: đó là thái độ “bạo chúa” của trẻ lên hai! Chúng ta không còn là trẻ lên hai nữa, và ta cần học biết tích cực nhìn nhận và trân trọng sự khác biệt nơi người khác, nhất là khi ta nắm giữ những quyền hành nào đó trong gia đình, xã hội hay trong Giáo Hội.

Chia sẻ: Theo bạn, làm sao để dễ chấp nhận người khác?

Sống Lời Chúa: Một cách để chấp nhận người khác là chân thành yêu thương họ, như Đức Giê-su đã yêu thương và trở nên “bạn bè với quân thu thuế và phường tội lỗi.”

Cầu nguyện: Lạy Chúa Giê-su, xin dạy con biết ép mình nên giống Chúa thay vì ép kẻ khác nên giống mình. Amen.

(5 Phút Lời Chúa)

++++++++++++++++++

Hãy Nâng Tâm Hồn Lên

19 THÁNG CHÍN

Thường Xuyên Lãnh Nhận Các Bí Tích

Chương trình mục vụ mà Hội Thánh đã triển khai kể từ sau Công Đồng cung ứng cho chúng ta những sự giúp đỡ kịp thời để củng cố việc huấn luyện tu đức và canh tân tình yêu đối với con người. Trước hết, tôi mời gọi anh chị em tham dự vào các nỗ lực phúc âm hoá mọi người cho Đức Kitô và hướng dẫn các tín hữu sống đời sống bí tích. Sống đời sống bí tích, đó là cách để anh chị em hiểu và đón nhận những ân sủng mà Đức Kitô muốn thông ban cho anh chị em.

Bằng việc thường xuyên lãnh nhận các bí tích với ý ngay lành, anh chị em sẽ trở thành những chứng nhân dạt dào niềm vui trong đời sống Kitô hữu đích thực. Anh chị em sẽ tìm thấy sự đỡ nâng mà mình cần để bước theo Chúa của sự sống. Ngài sẽ sử dụng anh chị em để mạc khải cho con người của thời đại đầy xao xuyến này dung mạo đích thực của Thiên Chúa, Đấng luôn “chan chứa lòng xót thương” (Ep 2,4).

Trong khi năng lãnh nhận các bí tích, anh chị em cũng hãy cộng tác với các mục tử của mình, vì chính sự hiệp nhất với các ngài là điều kiện để anh chị em nhận được tràn trào sức sống của Chúa Thánh Thần. Nhờ vậy, các mục tử sẽ có thể hướng dẫn anh chị em trong công cuộc xây dựng Hội Thánh trên trần gian này, một Hội Thánh đúng nghĩa là cộng đoàn yêu thương, phản ảnh chính sự sống của Thiên Chúa Ba Ngôi. (Thánh Augustinô, De Trinitate, 4,9).

– suy tư 366 ngày của Đức Gioan Phaolô II –

Lm. Lê Công Đức dịch từ nguyên tác

LIFT UP YOUR HEARTS

Daily Meditations by Pope John Paul II

+++++++++++++++++

Lời Chúa Trong Gia Đình

NGÀY 19/9

Thánh Januariô, giám mục tử đạo

1Cr 12,31-13,13; Lc 7, 31-35.

LỜI SUY NIỆM: “Ông Gioan Tẩy Giả đến không ăn bánh, không uống rượu, thì các ông bảo: “Ông ta bị quỷ ám” Con Người đến, cũng ăn cũng uống như ai, thì các ông lại bảo: “Đây là tay ăn nhậu, bạn bè với quân thu thuế và phường tội lỗi. Nhưng Đức Khôn Ngoan đã được tất cả biện minh cho.”

            Thiên Chúa ban cho con người có toàn quyền tự do từ trong tư tưởng cho đến hành động, nên con người có thể đánh giá theo cách suy nghĩ của mình. Nhưng điều điều quan trọng và cần thiết là phải dùng đến Đức Khôn Ngoan để biện minh cho tất cả những gì nơi mình sẽ thể hiện.

            Lạy Chúa Giêsu, Trong Sách Khôn Ngoan có dạy chúng con: “Hãy suy tưởng ngay lành về Đức Chúa và thành tâm tìm kiếm Người. Ai không thách thức Người, thì được Người cho gặp. Ai tin tưởng vào Người, sẽ được Người tỏ mình cho thấy.” (Kn 1,1b-2). Xin cho chúng con: đừng dùng những lý luận hẹp hòi, nông cạn của mình mà phải lìa xa Chúa.

Mạnh Phương

+++++++++++++++++

Gương Thánh Nhân

NGÀY 19-09 THÁNH GIANUARIÔ GIÁM MỤC, TỬ ĐẠO (THẾ KỶ IV)

Thánh Gianuariô danh tiếng không vì cuộc sống hay cái chết của ngài mà chỉ vì việc máu Ngài được lưu giữ tại Naples tan loãng định kỳ.

Câu chuyện Ngài chịu tử đạo còn rất mù mờ vì không được kể từ sớm trong sách các vị tử đạo, mà có lẽ chỉ được đưa vào đó do các tác phẩm của Bêđê viết năm 733. Người ta tin rằng: Ngài là giám mục Bênêventô nước Ý, thời hoàng đế Diôclêtianô. Khi nghe 4 Kitô hữu bị tống giam vì đức tin, Ngài đã tới thăm họ. Bọn người dò xét sau đó đã khám phá ra và Ngài bị bắt giam. Những tường thuật về cái chết của Ngài không giống nhau.

Xem như Ngài cùng các bạn bị ném cho thú dữ xâu xé tại vận động trường Puzzuoli…. nhưng thú dữ đã không xâm phạm tới các Ngài. Thánh nhân sau đó bị xử trảm vào năm 305. Thoạt đầu thi thể Ngài được lưu giữ tại Bênêven tô, nhưng sau này vì sợ chiến tranh tàn phá nên được dời về Monte Vergine và sau này về Naples. Dấu chứng đầu tiên về Ngài dường như là của Uraniô (431) là người cho rằng: nhờ sự chuyển cầu của Ngài mà núi lửa Vesuviô không phun nữa.

Tới thế kỷ XV những hiểu biết trên là bối cảnh cho lòng sùng kính thánh nhân. Nhưng từ đó về sau, máu Ngài được lưu giữ tại Naples đã làm tăng sự chú ý của rất nhiều người. Thánh tích được chứa trong ống nghiệm có hình một chiếc bình và lại được đặt trong một ống kính đặt trên giá trang hoàng lộng lẫy. Như vậy thánh tích được đặt trong hai lớp kính và được gắn kín, không tiếp xúc với khí trời. Chính thánh tích là một chất đen đục chiếm nửa bình đựng. Mỗi năm khoảng 18 lần được trưng bày cho dân chúng, cùng với một thánh tích khác được coi là đầu của vị thánh tử đạo.

Sau một khoảng thời gian thay đổi từ ít phút đến vài giờ, trong khi vị linh mục đảo ngược vài lần bình đựng và cầu nguyện xin trời cao làm phép lạ, thì khối đặc tan loãng ra, đổi thành mầu đỏ, thỉnh thoảng còn sôi lên và sủi bọt nữa. Rất nhiều người nghi ngờ sự kiện này nhưng không có sự đồng nhất trong việc giải thích. Vấn đề chưa được chứng minh.

(daminhvn.net)

+++++++++++++++++

19 Tháng Chín

Ôi Lạy Ðấng Tối Cao

Ðể nói lên tình yêu vô biên và mầu nhiệm của Thiên Chúa, người Hồi Giáo thường kể câu chuyện sau đây:

Một hôm, Ðấng Allah cho gọi một thiên sứ đến và sai xuống trần gian. Ngài truyền lệnh cho vị thiến sứ như sau: “Ngươi hãy xuống trần gian và đưa về đây người đàn bà góa có bốn đứa con thơ”.

Vị thiên sứ ra đi. Ngài gặp ngay người đàn bà góa đang cho đứa con nhỏ nhất bú. Ngài hết nhìn người đàn bà với bốn đứa con dại, lại ngước mắt lên nhìn về Ðấng Allah như xin rút lại lệnh truyền. Làm sao có thể nhẫn tâm để tách biệt người mẹ với những đứa con thơ còn lại… Nhưng ánh mắt van xin của vị sứ thần đã không mảy may đánh động được Ðấng Allah. Cuối cùng, vị sứ thần đành phải vâng lệnh Ðấng Allah để cướp lấy người đàn bà khỏi đám con thơ và đưa về trời.

Hoàn thành công tác, nhưng xem chừng vị sứ thần không thể vui được. Vui thế nào được trước cảnh chia cách giữa mẹ và con. Thấy vị sứ thần buồn bã, Ðấng Allah mới cho gọi ngài lại và đưa ngài vào giữa sa mạc. Ðấng Allah chỉ cho vị sứ thần thấy một tảng đá lớn và bảo ngài hãy đập vỡ nó ra…

Tảng đá vừa vỡ ra, vị sứ thần ngạc nhiên vô cùng, vì từ trong đó, một con sâu nhỏ từ từ bò ra… Hiểu được ý nghĩa của cử chỉ ấy, vị sứ thần thốt lên: “Ôi lạy Ðấng tối cao, màu nhiệm thay công cuộc sáng tạo của Ngài. Với sự không ngoan thượng trí và tình yêu vô biên, Ngài đã không bỏ mặc một tạo vật nhỏ bé như con sâu kia, thì hẳn Ngài cũng sẽ không quên được bốn đứa bé mồ côi là con cái của Ngài”.

Ðâu là hình ảnh chúng ta có về Chúa? Ngài là Thiên Chúa từ nhân, luôn tha thứ, Ngài là người Cha nhân hậu luôn yêu thương săn sóc cho từng đứa con, hay trái lại, Ngài chỉ là một ông thần độc ác mà vì sợ hãi chúng ta phải chạy đến để khỏi bị trừng phạt…?

Trở về với Thiên Chúa, trước tiên là phải gạt bỏ ra khỏi tâm hồn chúng ta hình ảnh bất xứng mà chúng ta gán cho Chúa. Hãy phục hồi lại trong tâm hồn chúng ta hình ảnh của một Thiên Chúa mà Tin Mừng đã mạc khải cho chúng ta: đó là một người Cha luôn yêu thương và không ngừng tha thứ cho chúng ta, một người Cha mà tình thương vượt hẳn những tính toán cân lường của trí khôn loài người chúng ta…

Có những lúc chúng ta cảm thấy tội lỗi đang đè nặng trong tâm tư ư? Hãy mau mắn chạy đến với Ngài.

Có những lúc đau khổ, mất mát che phủ khiến chúng ta nghi ngờ tình yêu của Ngài ư? Hãy tin tưởng rằng, Ngài đang nhìn thấy và cảm thông với từng nỗi khốn khổ của chúng ta và tình yêu nhiệm màu của Ngài luôn nhào nặn để biến những đắng cay chua xót ấy thành ân phúc cho chúng ta.

(Lẽ Sống)

++++++++++++++++++

Lời Chúa Mỗi Ngày

Thứ Tư Tuần 24 TN2

Bài đọcI Cor 12:31-13:13; Lk 7:31-35.

GIỚI THIỆU CHỦ ĐỀ: Sự quan trọng của đức mến.

Tình yêu là một đề tài vô tận của các văn sĩ, thi sĩ. Các tuyệt tác có được là nhờ những cảm hứng đến từ nguồn tình yêu của Thiên Chúa, tổ quốc, cha mẹ, anh chị em, và tha nhân. Chương 13 trong Thư thánh Phaolô gởi cho các tín hữu Corintô là một chương phân tích tuyệt vời về tình yêu. Ngược lại, khi con người không có tình yêu, tất cả sẽ trở nên vô nghĩa và ngay cả trở thành hỏa ngục như triết gia hiện sinh J.P. Sartre nhân định: “Con người là hỏa ngục cho nhau.” Một tìm hiểu chi tiết về các Bài đọc hôm nay sẽ giúp chúng ta nhận ra giá trị quan trọng của tình yêu và mong muốn tập luyện để có được tình yêu. Khi có được tình yêu, chúng ta sẽ dễ dàng tránh khỏi những tật xấu như các Biệt-phái và Kinh-sư mà Chúa Giêsu trách hôm nay.

KHAI TRIỂN BÀI ĐỌC:

1/ Bài đọc I: Đức mến thì cao trọng hơn cả.

1.1/ Sự quan trọng của đức mến: Biết con người có khuynh hướng tìm những gì cao trọng nhất, thánh Phaolô khuyên: “Trong các ân huệ của Thiên Chúa, anh em cứ tha thiết tìm những ơn cao trọng nhất. Nhưng đây tôi xin chỉ cho anh em con đường trổi vượt hơn cả.” Con đường này là con đường yêu mến mà thánh Thêrêxa Hài Đồng cũng xác nhận: “Ơn gọi của con là Yêu.” Có nhiều nghĩa của chữ “yêu,” nhưng thánh Phaolô dùng chữ “đức mến” để nói lên tình yêu trong khuôn khổ của Kitô Giáo. Ngài so sánh sự quan trọng của “đức mến” với một số ơn cao trọng khác:

– Với ơn nói tiếng lạ: “Giả như tôi có nói được các thứ tiếng của loài người và của các thiên thần đi nữa, mà không có đức mến, thì tôi cũng chẳng khác gì” Biết các thứ tiếng là một chuyện nhưng biết dùng những thứ tiếng đó để mưu ích cho tha nhân là chuyện khác. Nếu không biết dùng ơn nói tiếng lạ thì có khác gì chiếc “thùng rỗng kêu to” hay nói như thánh Phaolô: “thanh la phèng phèng, chũm choẹ xoang xoảng.”

– Với ơn nói tiên tri, ơn hiểu biết, và ơn đức tin: “Giả như tôi được ơn nói tiên tri, và được biết hết mọi điều bí nhiệm, mọi lẽ cao siêu, hay có được tất cả đức tin đến chuyển núi dời non, mà không có đức mến, thì tôi cũng chẳng là gì.” Tiên tri là nói thay cho Chúa để hướng dẫn và đem con người về với Chúa. Có những tiên tri ghét người đến độ không muốn kẻ thù trở về để được cứu (trường hợp của tiên tri Jonah). Điều nguy hiểm thường thấy nơi những người học cao hiểu rộng là tính tự kiêu, cho mình là hơn người và khinh thường tất cả những người khác. Rất nhiều người hiểu biết đã từ chối Thiên Chúa! Người có một đức tin mạnh cũng thế, họ nghĩ ai cũng phải có một đức tin mạnh như họ và bắt mọi người cũng phải làm những việc như họ làm; nhưng họ quên để có một đức tin như thế, họ đã phải dùng nhiều thời gian và trải qua biết bao sa ngã!

– Với những việc bác ái và anh hùng: “Giả như tôi có đem hết gia tài cơ nghiệp mà bố thí, hay nộp cả thân xác tôi để chịu thiêu đốt, mà không có đức mến, thì cũng chẳng ích gì cho tôi.” Việc tốt lành thôi cũng chưa đủ, cần có những ý hướng tốt lành nữa. Có những người đem cho hết gia tài chỉ để mua danh tiếng, chứ không cho vì thương người. Có những người tìm tử đạo để giải thóat cuộc đời đau khổ của mình chứ không để làm chứng nhân cho Chúa.

1.2/ Định nghĩa về đức mến:

– Đức mến thì nhẫn nhục và nhân hậu: Tiếng Hy-Lạp có hai phân từ dùng cho kiên nhẫn: kiên nhẫn đợi cơ may tới và kiên nhẫn với con người. Phân từ kiên nhẫn (makrothumein) xử dụng bởi các thánh ký trong Tân-Ước luôn hàm chứa sự kiên nhẫn với con người. Thánh John Chrysostom cắt nghĩa: Phân từ này được dùng cho người bị đối xử cách sai trái; tuy ông có quyền và có cơ hội để trả thù nhưng đã không làm. Trái lại, ông muốn tự người đó nhận ra sự sai trái của họ bằng những việc tốt lành ông làm cho họ.

Chúa Giêsu cũng đã từng dạy các môn đệ hãy có sự kiên nhẫn này qua việc yêu thương và làm ơn cho kẻ thù, cầu nguyện cho những người bắt bớ… để có thể trở nên hòan thiện như Cha trên trời. Kiên nhẫn như thế không phải là yếu đuối nhưng là sức mạnh, không phải là thua cuộc nhưng là cách tốt nhất để chinh phục kẻ thù. Lịch sử có nhiều người đã dùng cách thức này và không ai dùng cách hiệu quả hơn Chúa Giêsu trên Thập Giá. Nhiều người Công Giáo có đức tin vững mạnh và cuộc đời liêm chính nhưng chưa đủ để chinh phục người khác về cho Chúa vì thiếu tính thương người. Họ dễ dàng đứng về phía kẻ mạnh để áp bức người cô thân cô thế.

– Đức mến không ghen tương, không vênh vang, không tự đắc: Người đời thường nói: “Chỉ có hai hạng người trên thế gian: triệu phú và muốn thành triệu phú.” Có hai lọai ghen tương: vì ham muốn tài sản của người khác và vì muốn họ phải mất những gì họ đang có. Lọai ghen tương thứ nhất có thể hiểu vì là tính con người. Lọai ghen tương thứ hai là do bởi sự xui dục của ma quỉ: muốn tha nhân phải chịu đau khổ để mình được thỏa mãn. Ví dụ: một học sinh muốn được điểm A như những học sinh giỏi là điều thông thường; nhưng lại muốn khi mình được điểm A thì các học sinh khác phải không được A như mình! Có những người khi có những gì người khác không có hay được quyền cao chức trọng thì kiêu hãnh tự đắc, coi mình như cái rốn của vũ trụ. Họ khoe khoang để mọi người được biết, bắt người khác phải quỵ lụy mình, và khinh thường tha nhân. Các Kinh-sư và Biệt-phái trong Phúc Âm là những tiêu biểu cho mẫu người này.

– Đức mến không cư xử bất xứng (làm điều bất chính), không tìm tư lợi: Trong tiếng Hy-Lạp, từ cư xử bất xứng (avschmone,w) có hai nghĩa: (1) một hành động ngược lại với những tiêu chuẩn luân lý như lối sống vô luân (1 Cor 7:36); (2) một hành động ngược lại với những tiêu chuẩn xã hội như cách cư xử vô lễ, bất lịch sự, hay không đúng phép xã giao (1 Cor 13:5). Ở đây, thánh Phaolô có lẽ nhấn mạnh vào nghĩa thứ hai hơn. Nhiều người cũng nhận xét có hai lọai người trên thế gian: một lọai chỉ tìm lợi lộc cá nhân, luôn đòi được hưởng đặc quyền và một lọai chỉ để ý đến bổn phận phải đóng góp để tiếp tục phát triển. Để xây dựng xã quốc gia, có người đã đề nghị: Đừng đòi hỏi quốc gia phải làm gì cho bạn, nhưng hãy tự hỏi bạn có thể làm gì để xây dựng quốc gia. Cũng thế, để xây dựng Nhiệm Thể Chúa Kitô, chúng ta đừng đòi hỏi Giáo Hội phải làm gì cho mình, nhưng hãy tự hỏi mình có thể làm gì để xây dựng Giáo Hội.

– Đức mến không nóng giận, không nuôi hận thù: Nóng giận là không làm chủ được con người mình, là thiếu kiên nhẫn. Nóng giận có thể vi phạm trầm trọng đức mến trong lời nói cũng như trong hành động. Bác ái thì xây dựng trong khi nóng giận có thể phá hủy tất cả những gì mà mình và người khác đã xây dựng lâu năm. Động từ “nuôi” trong tiếng Hy-Lạp là động từ dùng trong lãnh vực kế tóan (logizeshthai): phải vào sổ sách tất cả để đừng quên sót. Một trong những nghệ thuật sống là học để quên, nhưng nhiều người luôn nhớ rành mạch tất cả những gì xấu người khác đã đối xử với mình. Có những cha mẹ khi đánh con là đánh và kể luôn tất cả mọi tội con đã phạm từ khi bắt đầu bị đánh tới giờ! Nhớ tất cả các tội của người khác là cách hiệu quả nhất để giết chính mình và giết tha nhân.

– Đức mến không mừng khi thấy sự gian ác, nhưng vui khi thấy điều chân thật: Nhiều người lại có khuynh hướng ngược lại: mừng khi thấy điều dữ xảy ra cho người mình không thích và không vui khi thấy họ được mọi sự lành bằng an. Khi đọc, nghe, hay xem tin tức trên các phương tiện truyền thông, nếu không thấy những điều dữ xảy ra là kết luận tin tức hôm nay chẳng có gì đặc biệt cả. Các con buôn muốn bão cấp 2 sẽ trở thành bão cấp 5 để có thể kiếm lời bằng cách tăng giá những gì dân chúng cần, vì họ biết bão sẽ chẳng làm thiệt hại gì đến họ.

– Đức mến che chở tất cả, tin tưởng tất cả, hy vọng tất cả, và chịu đựng tất cả: Động từ “che chở” được dịch từ tiếng Hy-Lạp “ste,gw” đến từ danh từ “ste,gh” có nghĩa là mái nhà. Động từ được dùng cho việc lợp mái nhà để giữ những người trong nhà khỏi mưa nắng. Có lẽ thánh Phaolô muốn dùng từ này ở đây để nói lên rằng một khi có đức mến, con người có thể tìm mọi cách để che chở khuyết điểm của tha nhân, không để tội lỗi họ bị phơi bày ra cho người khác thấy. Tin tưởng tất cả có hai chiều kích: Trước tiên, tin tưởng nơi Thiên Chúa là Đấng có thể làm được mọi sự. Sau đó, tin tưởng nơi tha nhân có khuynh hướng tôn trọng Sự Thật, yêu những gì tốt lành, và quí mến mọi sự tốt đẹp. Với niềm tin như thế, con người có quyền hy vọng những gì họ mong đợi sẽ đến và sẽ không ngần ngại kiên trì hy sinh chịu đựng đau khổ để tha nhân được sống. Như những nhà nông, người có đức mến sẽ làm tất cả những gì họ có thể làm được, chịu dầm mưa giãi nắng; sau đó, họ đặt trọn niềm tin tưởng vào Trời sẽ ban cho một mùa gặt tốt đẹp.

1.3/ Tại sao đức mến quan trọng? Thánh Phaolô trả lời bằng cách so sánh đức mến với các ơn gọi khác về tính thời gian, sự hòan hảo, và sự cao trọng tuyệt đối. Sau khi so sánh, Ngài kết luận: “Đức mến không bao giờ mất được.”

– Về tính thời gian: Ơn nói tiên tri cũng chỉ nhất thời. Khi Chúa cần phải sửa dạy dân chúng, Ngài sẽ dùng các tiên tri. Nhưng khi những gì Chúa muốn đã đạt được, Ngài không cần đến vị tiên tri đó nữa. Ơn nói các tiếng lạ cũng có ngày sẽ hết như ơn tiên tri. Khi về trời, hoặc tất cả chỉ xử dụng một ngôn ngữ hoặc tất cả sẽ được Chúa ban ơn để hiểu mọi thứ tiếng.

– Về sự hiểu biết: Ơn hiểu biết cũng chỉ nhất thời và giới hạn vì sự hiểu biết thì có ngần; khi cái hoàn hảo tới, thì cái có ngần có hạn sẽ biến đi. Thánh Phaolô dùng hai hình ảnh để dẫn chứng sự bất tòan của ơn hiểu biết:

* So sánh sự hiểu biết của trẻ con và của người trưởng thành: Cũng như khi tôi còn là trẻ con, tôi nói năng như trẻ con, hiểu biết như trẻ con, suy nghĩ như trẻ con; nhưng khi tôi đã thành người lớn, thì tôi bỏ tất cả những gì là trẻ con. Sự hiểu biết ở thế gian này cũng bất tòan như sự hiểu biết của con trẻ; một khi đã về hưởng hạnh phúc với Chúa thì sự hiểu biết sẽ hòan hảo như sự hiểu biết của người đã trưởng thành.

* So sánh sự hiểu biết qua gương và qua người thật: Bây giờ chúng ta thấy lờ mờ như trong một tấm gương, mai sau sẽ được gặp Thiên Chúa mặt giáp mặt. Bây giờ tôi biết chỉ có ngần có hạn, mai sau tôi sẽ được biết hết, như Thiên Chúa biết tôi.

– Về sự tòan hảo: Hiện nay đức tin, đức cậy, đức mến, cả ba đều tồn tại, nhưng cao trọng hơn cả là đức mến. Đức tin cần thiết khi chưa gặp được Chúa; một khi đã gặp được Ngài, đức tin sẽ không cần thiết nữa. Đức cậy là hy vọng những gì mình chưa có; một khi đã có rồi, đức cậy cũng sẽ không cần thiết. Chỉ có đức mến là tồn tại, một khi đã yêu rồi thì cứ tiếp tục yêu; nồng độ của tình yêu sẽ thắm thiết hơn và hòan hảo hơn.

2/ Phúc Âm: Thói quen phê bình, chỉ trích

Một trong những đặc tính của trẻ là chúng sống theo cảm xúc nhất thời: khi nào muốn ăn là ăn, muốn chơi là chơi. Chúng không cần biết những ước muốn của chúng có hợp lý không cho tới khi bị cha mẹ ngăn cấm và tập cho chúng biết sống kỷ luật. Nếu không được cha mẹ tập để sống theo kỷ luật, đứa trẻ sẽ tiếp tục những thói quen đó dầu chúng đã trở thành người lớn. Chúa Giêsu ví các Kinh-sư và Biệt-phái như những đứa trẻ này vì họ không chịu sống theo đường lối của Thiên Chúa đã họach định mà cứ ngoan cố sống theo sở thích mình: “Họ giống như lũ trẻ ngồi ngoài chợ gọi nhau mà nói: “Tụi tôi thổi sáo cho các anh, mà các anh không nhảy múa; tụi tôi hát bài đưa đám, mà các anh không khóc than.”

Vì các Kinh-sư và Biệt-phái lấy mình làm tiêu chuẩn để phê bình người khác nên họ không thỏa mãn với bất cứ ai có lối sống khác họ. Họ phê bình Gioan Tẩy Giả là bị quỷ ám vì ông không ăn bánh, không uống rượu như họ. Khi Chúa Giêsu đến, cũng ăn cũng uống như ai, thì họ lại bảo: “Đây là tay ăn nhậu, bạn bè với quân thu thuế và phường tội lỗi.”

Tuy vậy, kế họach của Thiên Chúa không vì họ mà phải thay đổi vì vẫn có những người sống theo Đức Khôn ngoan chỉ dẫn. Vẫn có những người nghe theo lời giảng của Gioan Tẩy Giả, bỏ đường tội lỗi, và quay trở về với Chúa. Những người này sẽ là bằng chứng hùng hồn cho sự khôn ngoan và kế họach của Thiên Chúa. Các Kinh-sư và Biệt-phái có thể làm trở ngại, nhưng không thể thắng vuợt được Đức Khôn Ngoan của Ngài.

ÁP DỤNG TRONG CUỘC SỐNG:

– Đức mến có thể ví như máu lưu thông trong cơ thể. Máu cần cho sự sống không phải chỉ cho thân thể mà còn tất cả các chi thể. Chi thể nào mà máu không vận chuyển tới sẽ bị đau và nếu không được chữa trị kịp thời sẽ chết. Cũng vậy, tình yêu là động lực cho tất cả mọi hành động của con người: vì yêu Chúa và yêu tha nhân, con người dám hy sinh chịu đựng đau khổ để tòan Thân Thể của Chúa Kitô được lành mạnh. Không có tình yêu mọi công việc sẽ bị đình trệ và dần dần tắt hẳn và cuộc sống sẽ trở nên vô nghĩa. Như lời Thánh Thêrêxa Hài Đồng nói: “Không có tình yêu Giáo Hội sẽ không còn và máu tử đạo cũng sẽ hết.”

– Khi thiếu vắng tình yêu, con người sẽ trở nên cau có, gắt gỏng, khó chịu. Họ sẽ không hài lòng về bất cứ những gì xảy ra, và sẽ luôn tìm những điều xấu của tha nhân để có lý do phê bình. Ngược lại, một khi được ở trong tình yêu, con người sẽ dễ dàng thông cảm và tha thứ mọi khuyết điểm của tha nhân, đúng như lời ca dao Việt-Nam:

Yêu nhau yêu cả đường đi – Ghét nhau ghét cả tông ti họ hàng.

Yêu nhau biết mấy cho vừa – Một trăm chỗ lệch cũng kê cho bằng.

Linh mục Anthony Đinh Minh Tiên, OP

****************

 Tags: nhảy múa, bi ai

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Đăng ký nhận tin
Nhập email để nhận được những tin tức mới nhất từ chúng tôi.
Thống kê truy cập
  • Đang truy cập30
  • Máy chủ tìm kiếm3
  • Khách viếng thăm27
  • Hôm nay13,171
  • Tháng hiện tại126,691
  • Tổng lượt truy cập779,837
Đánh giá website

Quý vị đánh giá website GPLS thế nào?

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây