Thiên Chúa cứu rỗi chúng ta nhờ Chúa Con trong Chúa Thánh Thần - Chúa Nhật Chúa Ba Ngôi - Năm A

Thứ sáu - 05/06/2020 18:41 198 0
Đoạn Tin Mừng của chúng ta, đi liền sau cuộc đối thoại giữa Chúa Giêsu và Nicôđêmô (3, 1- 12), là một bài suy niệm về Con độc nhất. Nhưng nói đến Con, tức là nhắc tới Cha, và ở đây Cha là Thiên Chúa.
Thiên Chúa cứu rỗi chúng ta nhờ Chúa Con trong Chúa Thánh Thần - Chúa Nhật Chúa Ba Ngôi - Năm A

CÂU HỎI GỢI Ý

1. Ba câu này chứa đựng thực sự một học thuyết về Thiên Chúa Ba Ngôi theo nghĩa nào?

2. Câu 17 nói Thiên Chúa không sai Con đến trong thế gian để xử án. Nhưng trong Ga 9,39 Chúa Giêsu lại bảo: "Chính để xét xử mà Ta đã đến trong thế gian". Có mâu thuẫn không?

1. Thoạt nhìn, khía cạnh ba ngôi của bản văn này không rõ ràng lắm, vì nếu thấy có nhắc đến Thiên Chúa (Chúa Cha) và Con một Ngài, ta cũng chẳng tìm đâu ra lời đề cập minh nhiên đến Chúa Thánh Thần cả. Tuy vậy, dù không nói rõ, đoạn văn vẫn ngụ ý và văn mạch của nó xác nhận điều ấy.

2. Đoạn Tin Mừng của chúng ta, đi liền sau cuộc đối thoại giữa Chúa Giêsu và Nicôđêmô (3, 1- 12), là một bài suy niệm về Con độc nhất. Nhưng nói đến Con, tức là nhắc tới Cha, và ở đây Cha là Thiên Chúa. Chính Ngài được trình bày cho chúng ta như nguyên lý cứu rỗi. Chính Ngài đã sai Con đến trong thế gian. (c. 17) qua việc Nhập thể, đã ban Người cho thế gian (c. 16) qua cuộc Tử nạn của Người, để cứu rỗi thế gian.

Abraham đã chấp nhận sát tế con một mình (St 22,1- 18), nhưng Thiên Chúa đã ngăn chân kịp thời, để chỉ dành riêng cho Ngài việc phó nộp chính Con yêu (Rm 8,32). Như thế Thiên Chúa đã cho thấy Ngài yêu thương hết thảy mọi người và muốn cứu rỗi tất cả (1Tm 2, 3-6; Tt 2,11). Sở dĩ con người hư mất, là vì họ chối từ tình yêu của Chúa Cha và món quà Ngài ban tặng là Con một của Ngài. (cc.16-18).

3. Tự việc chiêm ngắm Con Người từ trời xuống để rồi lên lại bằng con đường thập giá (cc.13- 15), thánh sử đã đưa chúng ta đến việc chiêm ngắm Người Con độc nhất (cc.16-18). Ta biết rằng Tin Mừng thứ tư không ngừng nhấn mạnh đến mối tương quan duy nhất nối kết Chúa Giêsu với Cha Người trên trời (đặc biệt hãy xem Ga 1, 14. 18 ; 5,19- 47 ; 6, 37- 46 ; 6, 57 ; 7, 25- 29 ; 8, 13- 30. 49- 50; 10, 15- 18. 25- 38; 11, 42- 43; 12, 26- 28; 13,1. 31- 32; 14, 1- 14; 16, 22- 23; 17, 1- 5. 10- 11. 18- 26).

Ở đây niềm tin vào Danh (nghĩa là vào ngôi vị) của Người Con độc nhất được xem như là điều kiện cần thiết để được cứu rỗi. Ai cố ý không chịu chấp nhận mầu nhiệm nhiệm sinh vĩnh cửu, và mầu nhiệm nguồn gốc thiên giới này của Ngôi Lời nhập thể (Ga 1, 1; 1, 14; 6, 41- 47. 64- 72) là tự loại mình ra khỏi các hồng ân của Thiên Chúa: Họ tự kết án chính mình (c.18). Trái lại, ai tin vào mầu nhiệm này thì tự mở đường vào sự sống vĩnh cửu (cc.16- 17).

Việc hòa hợp tính cách độc thần với tính cách đa ngôi vị trong Thiên Chúa là một mầu nhiệm vĩ đại mà ta không thể biết nếu Thiên Chúa đã chẳng mặc khải cho qua Chúa Kitô. Và ta phải tuyên xưng các dữ kiện của mầu nhiệm ấy mặc dầu không thể xác định ý nghĩa của nó cách nào khác ngoài cách tin tưởng tuyệt đối vào giáo huấn Chúa Kitô.

4. Bản văn ta đang nghiên cứu không trực tiếp nói đến Thánh Thần. Nhưng nhờ chỗ khác, ta biết rằng Thiên Chúa và Chúa Giêsu cứu rỗi ta bằng cách ban Thánh Thần cho ta (Ga 7, 37- 39; Gl 4,4-7). Tuy nhiên, cuộc đối thoại với Nicôđêmô đã đặt nhiều cái mốc khi nói đến não trạng thiêng liêng (thần khí) và qua đó nói đến Thánh Thần là tác giả trách nhiệm của não hàng ấy; nhưng chỉ Kitô hữu nào đã làm quen với giáo huấn hóa Chúa Kitô và của Giáo Hội mới có thể mặc cho các lời đối thoại trên một ý nghĩa siêu việt như thế. 

Thần khí trong đó được đặt đối nghịch với xác thịt (c.6), với những cái nhìn thô thiển (trần tục) về vấn đề tôn giáo (c.12). Nó được so sánh với gió, vì cũng có nguồn gốc và ảnh hưởng bí mật (c.8). Mối tương quan của nó với nước, mạch nước, cho thấy nó là nguyên lý của sự sinh hạ mới (tái sinh bằng phép rửa) và nguyên lý, của việc vào nước Thiên Chúa (cc 5.8). Đây hãy còn là một giáo huấn sơ khai về Chúa Thánh Thần (giáo huấn cao siêu hơn sẽ được ban bố sau này, trong Ga 14, 15-17. 26; 15, 26; 16, 4- 15); nhưng có thể bảo đấy là chương khảo luận đại cương về Chúa Thánh Thần. Thiên Chúa (Cha) sai Con một Ngài đến với ta để Người cứu rỗi ta bằng cách thông ban Thánh Thần. Và Thánh Thần đưa ta lên cùng Chúa Cha nhờ Chúa Kitô (Gl 4, 4- 7; Rm 8, 15- 17).

CHÚ GIẢI CHI TIẾT

“Thiên Chúa đã yêu mến thế gian đến nỗi ... ": Công trình cứu rỗi được nối kết với nguyên lý tối hậu của nó là tình yêu của Thiên Chúa đối với thế gian. Việc sai phái Chúa Con, như là dấu tích tình yêu của Thiên Chúa, đã được lựa 4,9-10.16.19 làm nổi bật. Tư tưởng này, tiềm tàng trong Tin Mừng thứ tư, đã được khai triển trong chương 13 và các chương kế tiếp.

“Vì Thiên Chúa không sai Con đến trong thế gian để xử án thế gian ": Câu này xác định mục đích sứ mệnh của Chúa Con đối với thế gian: không phải để xét xử, nhưng để cứu rỗi thế gian (Ga 4,42; 1 Ga 4, 14). Nhưng tại sao Chúa Giêsu lại quả quyết trong 9,39: "Chính để xét xử mà Ta đã đến trong thế gian. Thưa điều Thiên Chúa muốn là cứu rỗi thế gian ; tuy nhiên việc Chúa Con đến nhất thiết gây nên quyết định chọn lựa dứt khoát của con người, sự chọn lựa này làm nên việc xét xử. Quyết định chính yếu ấy của tất cả đời người, chính là việc gắn bó vào "Con Một của Thiên Chúa" (c.18) bằng đức tin, hay trái lại là sự chối từ không chịu tin. Câu. 18 dịch sát chữ là "Kẻ tin vào Người thì không bị án xử (trong các câu 17-1 8, BJ cả 3 lần đều dịch "luận phạt", trong lúc bản Hy lạp là "án xử"); kẻ không tin thì đã bị “xét xử rồi". Án xử thành ra không tự Chúa Con mà đến, nhưng tự thế gian đã không chịu đón nhận ơn cứu độ mà Chúa Kitô đem tới cho. Thế gian khép lòng trước tình yêu của Chúa Cha tỏ hiện trong việc sai phái Chúa Con, nó loại bỏ Đấng Trung gian duy nhất là Đấng có thể đưa nó đến sự sống. Thành ra, vì ích kỷ, thế gian đã chọn lựa ở lại trong sự chết. Một án quyết sẽ có thể long trọng công bố, xác nhận tình trạng này (x. cuộc phán xét cánh chung vào ngày Quang lâm trong các Tin Mừng Nhất lãm) nhưng sẽ không thay đổi tình trạng đó nữa.

KẾT LUẬN

Không được chần chừ lần lữa hoặc giả điếc làm ngơ trước mặc khải trực tiếp nhất, hồng ân cứu độ cao quý nhất và tình yêu tuyệt đối này của Thiên Chúa. Vì hãy nhớ rằng cái chết của Chúa Giêsu mặc cho mọi phản ứng của con người ý nghĩa cánh chung đích thực của nó.

Ý HƯỚNG BÀI GIẢNG

1. Niềm tin vào Thiên Chúa Ba ngôi có được là nhờ niềm tin vào Chúa Giêsu Kitô. Mọi giáo huấn về Thiên Chúa đều được chứa đựng trong con người của Chúa. Từ đó việc tin vào Chúa Con đã hàm chứa việc tin vào Chúa Cha và Chúa Thánh Thần, vào Thiên Chúa Ba Ngôi. Vì thế Tin Mừng đã nói: “Phàm ai tin vào Người thì không phải hư đi nhưng được sự sống đời đời. Sự kiện trong ngày lễ Thiên Chúa Ba Ngôi, Giáo Hội chọn một bản văn có chủ ý nhấn mạnh tầm quan trọng của niềm tin vào Chúa Giêsu Kitô, cho thấy khởi điểm lộ trình và mục đích của niềm tin đã được bao hàm trong việc gắn bó sống động vào Chúa Kitô. Ai đến với Chúa Kitô thì cũng đến với Chúa Cha và được như thế là nhờ ơn Chúa Thánh Thần.

2. Nhưng đây còn một vấn nạn khác mà Tin Mừng muốn trả lời: Thiên Chúa cứu thế gian bằng cách nào? Bằng cách sao Con của Ngài đến trong thế gian. Thế nhưng ngày nay Chúa Kitô đến trong thế gian bằng con đường đặc biệt nào? Bằng Giáo Hội. Do đó Giáo hội có sứ mệnh làm cho Chúa Kitô hiện điện trong thế gian. Giáo Hội phải thông đạt một sự hiện diện đích thực chứ không chỉ giảng dạy, đưa ra học thuyết, giáo huấn mà thôi. Thiên Chúa Ba Ngôi đã tự trở nên gần gũi với nhân loại trong con người Chúa Giêsu Kitô, Đấng được mặc khải trong Giáo hội và nhờ Giáo hội. 

3. Kẻ tin vào Chúa Giêsu đến nỗi sẵn sàng chia sẻ số phận tử nạn và phục sinh của người, thì được vào trong mầu nhiệm sống động của Thiên Chúa. Điều này giải thích tại sao sứ điệp của các sứ đồ, ở thời đầu Giáo hội, không phải là một bài giáo lý về Thiên Chúa Ba Ngôi, nhưng là lời khan báo về Chúa Giêsu Kitô. Suốt dòng lịch sử Giáo hội, và nhất là qua các công đồng, Giáo Hội sẽ cố gắng công thức hóa cho mình một tư tưởng về mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi. Nhưng việc chính của Chúa Thánh Thần trong Giáo Hội (trong mỗi người chúng ta) là làm sao cho Giáo Hội trở thành và mãi mãi là kẻ tin vào Chúa Giêsu Kitô.

4. "Ai tin vào Con Người thì chẳng bị án xử; ai không tin thì đã bị án xử rồi vì đã chẳng tin". Đây là nghịch lý của một sự tự do chỉ có thể chọn lựa giữa sự sống và cái chết. Không có nhiều cách sống, nên không thể có sự chọn lựa giữa nhiều giả thuyết khác nhau. Hoặc được tất cả hoặc mất tất cả. Tình yêu của Chúa Cha, biểu lộ trong Chúa Con và kích động trong ta nhờ sự hiện diện của Chúa Thánh Thần, xem ra bi thảm vì có tính cách quyết định. Tình yêu không phải là cái gì có thể chọn lựa tuỳ ý giữa bao cái khác. Nó là sự sống của con người. Sự tự do mà Thiên Chúa ban cho con người là tiếng mời gọi diệu kỳ nhất, mời gọi đi đến với tình yêu, đồng thời cũng là khả năng hủy diệt nguy hiểm nhất, nhiều kẻ đã sợ tự do; có lẽ họ thích đừng phải đương đầu với một chọn lựa như thế, vì họ coi sự chọn lựa đó dã man hơn là dịu dàng và tế nhị. Tuy nhiên, chính khi tự do yêu thương mà con người thực sự là người. Nếu không có sự chọn lựa ấy (với nhiều khía cạnh bi thảm của nó) thì con người chỉ còn là một người máy đã bị quy định trước. Nhưng đối với ai lựa chọn theo Chúa Giêsu, đối với ai, nhờ Chúa Thánh Thần soi sáng, "đã tin vào Danh Con Một Thiên Chúa" thì thật hạnh phúc dường nào! Tất cả trở thành bình an và vui sướng trong sự hiệp thông mà Chúa Thánh Thần đã thực hiện.

 

Tác giả bài viết: Học viện Giáo hoàng Pio X Đà Lạt

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Đăng ký nhận bản tin
Nhập email để nhận được những tin tức mới nhất từ chúng tôi.
Thống kê truy cập
  • Đang truy cập78
  • Máy chủ tìm kiếm29
  • Khách viếng thăm49
  • Hôm nay11,497
  • Tháng hiện tại387,611
  • Tổng lượt truy cập8,141,129
Đánh giá website

Quý vị đánh giá website GPLS thế nào?

Thánh Phêrô và Phaolô
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây