Loan báo cuộc khổ nạn lần thứ nhất – Chúa Nhật XXII Thường niên – Năm A

Thứ bảy - 29/08/2020 00:19 199 0
Chính hôm trước ngày tử nạn, Chúa Giêsu đã nói đến niềm vui của Người, lúc mà quân canh rình chực Người để bắt lấy. "Kẻ nào mất sự sống mình sẽ tìm được lại".
Loan báo cuộc khổ nạn lần thứ nhất – Chúa Nhật XXII Thường niên – Năm A

CÂU HỎI GỢI Ý

1. Tại sao Chúa Giêsu loan báo “từ bấy giờ" (c.21) cuộc Khổ nạn và Phục sinh của Người?

2. Làm sao Phêrô vừa là phát ngôn viên một mặc khải của Thiên Chúa (16, 17) vừa là khí cụ của Satan (16, 23)?

3. Các môn đồ phản ứng thế nào khi nghe loan báo ba lần cuộc Khổ nạn (16, 22- 23; 17, 23b; 20, 20- 23)? Có sự tiến triển trong ba cuộc loan báo đó không? Phải chăng Chúa Giêsu luôn đề cập đến sự Phục sinh của Người?

4. Đâu là ý nghĩa của các lời loan báo Khổ nạn này so với chính cuộc Khổ nạn? Phải chăng chúng chỉ là những sấm ngôn miêu tả một biến cố tương lai?

5. Đâu là chủ ý thần học của Mt trong việc móc nối chặt chẽ lời Chúa Giêsu khen Phêrô (cc. 17-19) và lời Người khiển trách ông liền sau đó (cc.22- 23)?

1. Trong Tin Mừng Mt, ta thấy có ba lời loan báo về cuộc Thương Khó (16, 21; 17, 22- 23a; 20, 17- 19) tạo nên ba cao điểm của một phần kéo dài cho tới trình thuật Khổ nạn. Sau mỗi lời loan báo đều có một nhận xét ghi lại sự u mê của các môn đồ (16, 22- 23; 17, 23b; 20, 20- 23). Đó là những nhận xét đơn sơ thuộc về ký sự, nhưng lại mang nặng một ý nghĩa thần học đối với cả Tin Mừng. Sau cùng, cứ mỗi lần như thế, Chúa Giêsu lại quảng diễn cho các môn đồ hiểu thêm ý nghĩa của sứ mệnh Người (16, 24- 28; 18, 1- 4; 20, 24- 28). Thành thử đây là một trình thuật được khai triển theo nhịp điệu tam phân.

Cũng nên ghi nhận có một sự tiệm tiến trong lời mặc khải của Chúa Giêsu và trong phản ứng của các môn đồ. Sau cùng phải lưu ý rằng Chúa Giêsu không ngừng nhắc đến cuộc Phục sinh. Người không chỉ nói tới Thập giá, nhưng bao giờ cũng là Thập giá và Phục sinh, là sự chết và sự sống, dù về chính bản thân hay về các môn đồ.

Tất cả điều đó thật đầu ý nghĩa. Ba lời loan báo như muốn dẫn vào trình thuật về cuộc Khổ nạn để chuẩn bị và giải thích nó một cách thần học. Cuộc Khổ nạn chẳng phải là một biến cố từ ngoài in vào định mệnh của Chúa Kitô, như kiểu một tai nạn phải chấp nhận. Không! Nó là thành tố và là cao điểm của định mệnh Người. Là đường đưa đến Phục sinh, mầu nhiệm này gồm hai phương diện, mà một có tính cách chung quyết: sự sống, niềm vui. Đàng khác, môn đồ và Sư phụ không thể tách rời nhau. Cả hai đều liên kết trong cùng một số phận.

2. Ghi chú thời gian “từ bấy giờ", mà Mt rất nhấn mạnh, nhắm cho thấy đã đến giờ đề cập đến điều mới mẻ. Người ta đi từ mặc khải về Chúa Giêsu tới mặc khải về Con Người đau khổ. Song song bên đó, người ta cũng thấy phải đối đầu với một loại u mê cứng lòng tin mới, vốn không còn là của đám đông, song là của các môn đồ: họ nhận ra Đấng Messia, nhưng đồng thời từ chối việc Người phải chịu đau khổ. Tương ứng với việc đào sâu viễn ảnh thiên sai là việc nới rộng nhãn giới đức tin vậy.

Theo Mc và Mt (chứ không phải lẽ), Chúa Giêsu "bắt đầu” nói đến cuộc Khổ nạn của người. Viết như thế, hai ông muốn nhấn mạnh sự kiện có tiến triển trong lời mặc khải thiên sai. Dĩ nhiên, đấy chẳng phải là một tiến triển tâm lý trong tâm thức Chúa Giêsu (một viễn tượng ở ngoài đường hướng của các Tin Mừng), song là một tiến triển trong việc biểu lộ chương trình cứu độ của Thiên Chúa. Đồng thời đó cũng là khả định rằng “từ bấy giờ", chủ đề Khổ nạn trở thành trọng tâm thường xuyên.

3. Bây giờ ta hãy xem tính cách “mới mẻ" của mặc khải thiên sai hệ tại ở chỗ nào. Nó không giản lược vào viễn tượng cuộc bắt bớ, mà Chúa Giêsu đã phần nào ám chỉ (10, 24 tt). Đúng hơn tính cách mới mẻ đó phát xuất từ chữ “phải" nghĩa là hệ tại sự kiện: đau khổ là thành phần của chương trình cứu chuộc.

Hạn từ dei ấy (phải), mà các nguồn liệu đều ghi lại cho ta, không chỉ diễn tả một xác tín thuộc bình diện lịch sử và tâm lý dựa trên các nhận xét Chúa Giêsu rút từ môi trường và hoàn cảnh của Người, nhưng còn biểu hiệu cái ý thức rõ ràng của Người về một sự cần thiết thuộc bình diện thần học.

Trong Kinh thánh, (đặc biệt trong Tân ước), động từ dei không còn chỉ một sự bắt buộc của định mệnh, nhưng được dùng để chỉ thánh ý của Thiên Chúa; đúng hơn, trong Tân ước, hạn từ này mang một giá trị cánh chung: nó diễn tả một sự tất yếu bắt nguồn từ chính bản tính Thiên Chúa và quy hương về việc thực hiện chương trình của Ngài trong các biến cố cánh chung. Từ đó, bản văn chúng ta không những muốn nói Chúa Giêsu loan báo về cánh chung, nhưng sâu xa hơn, còn khẳng định rằng chính số phận của Chúa Kitô, tức là cuộc tử nạn của Người, thuộc về cánh chung. Tóm lại, khổ nạn không phải là một sự kiện "ngoại lệ", cũng chẳng có gì là một biến cố bất ngờ xảy đến trong sứ mệnh Chúa Giêsu, nhưng là nòng cốt của sứ mệnh Người. Điều mới mẻ là ở chỗ đó vậy.

4. Tuy nhiên phải đi xa hơn nữa. Bản văn không chỉ quả quyết là cuộc Khổ nạn nằm trong chương trình cứu độ của Thiên Chúa, nhưng còn khẳng định rằng Chúa Giêsu đã ý thức về điều đó. Thật không đủ tí nào khi bảo rằng việc Người quyết định lên Giêrusalem - cái quyết định tạo nên khúc quanh quan trọng của đời người - chỉ có mục đích duy nhất là đặt dân chúng đối diện với sứ điệp về Nước Thiên Chúa, vốn phải đến đó trong thành thánh, để mời gọi họ quyết định trong giờ tối hậu này. Đúng thế, nhưng còn hơn nữa. Chúa Giêsu đã đi đến cái chết "cách tự nguyện". Người đã không tiên đoán cái chết hoàn toàn như người đời, như những ai đã thấy Người lên Giêrusalem (x. Mc 10, 32; Ga 11, 16). Không! Người đã nhìn nó rời ánh sáng chương trình của Thiên Chúa như là một việc phục vụ.

5. Mc dùng động từ "giảng dạy" (8, 31). Mt lại thích động từ "tỏ cho hay"(deiknuein). Một lần nữa, đây không chỉ là tiên báo tiên đoán cuộc Khổ nạn để rồi chuẩn bị các sứ đồ sống biến cố đó, nhưng là tỏ cho họ thấy nó ăn khớp với chương trình của Thiên Chúa, nó thật là tối cần. Phải chứng minh là nó cần thiết, vì nó không hiển nhiên, không là một biến cố mà người ta thay là bắt buộc. Chứng minh thế nào? Lc bảo phải đi từ Kinh thánh (24, 26- 27.46; coi Mc 5, 12).

Mt không nói rõ gì về vấn đề này. Nhưng trong thực tế, động từ dei bao giờ cũng hàm án một sự quy chiếu về Thánh Kinh để diễn tả việc hoàn tất Kinh Thánh (vd. Mt 26, 54). Vì chính trong Thánh Kinh mà người ta nhận ra chương trình của Thiên Chúa. Ở đây sẽ không ai phủ nhận rằng nền tảng Thánh Kinh phải tìm trong Is 53. Vả lại các sấm ngôn về cuộc Khổ nạn không xuất hiện như những bản văn lẻ loi - kiểu những phiêu nham - dọc dọc theo Tin Mừng. Chúng chèn vào trong đó như những biểu hiệu sáng tỏ ít nhiều của một tư tưởng bàng bạc và bao giờ cũng quy chiếu, nhiều lúc cách minh thiên về sấm ngôn người tôi tớ của Thiên Chúa.

6. Trước viễn ảnh cuộc Khổ nạn, Phêrô làm một cử chỉ thụt lùi và Chúa Giêsu phải nghiêm khắc sửa trị ông, dù người vừa mới ca tụng niềm tin của ông. Không phải vô tình mà Mt tường thuật kế cận nhau lời Chúa Giêsu ca tụng và khiển trách môn đồ mình. Tất cả mọi tác giả Tin mừng đều đặt tương phản sự yếu đuối của Phêrô với cái tên képha (tảng đá) của ông. Chính họ đã cố tình nhấn mạnh sự đối nghịch đó để cho thấy chính nhờ ân sủng, nhờ Thiên Chúa lựa chọn, chứ không phải nhờ các đức tính tự nhiên, mà ông là Tảng đá trên ấy Chúa Giêsu xây dựng Giáo Hội Người. Một cách tổng quát hơn và đi xa hơn trường hợp Phêrô, chính chủ đề đối nghịch giữa trình diện bản tính tự nhiên và bình diện ân sủng, xuất hiện ở đây. Chủ đề này - yếu đuối và ân sủng - thường có trong Thánh Kinh, được đặt nổi bật ở c.17, được ám chỉ ở c. 18 nếu đọc trong nhãn giới Is 28, 16), và lại được đề cập ở c. 22-23.

7. Trước khi nghiên cứu các khẳng định khác nhau của Chúa Giêsu ở cc. 21- 27 (được nhập lại nơi đây, nhưng có lẽ được công bố trong nhiều dịp khác biệt), nên nêu ra cái điểm chính liên kết chúng thành một: đó là sự quy chiếu về Chúa Giêsu. Nói cách khác, chẳng có sự từ bỏ nào được đòi hỏi vì chính nó, nhưng vì Chúa Giêsu. Do đấy câu 24 thực sự là câu căn bản. Dưới một quan điểm khác, ta có thể bảo rằng rốt cuộc phải liên kết các lời nói ấy vào cuộc Khổ nạn của Chúa Kitô, là cái giải thích lý do nỗi đau khổ và từ bỏ của môn đồ, là cái làm cho ra thông thường sự từ bỏ và khổ đau ấy. Hơn nữa, mối liên hệ này còn cho thấy sự đau khổ của môn đồ là nơi mà số phận của Thầy lại được trở thành hiện tại.

CHÚ GIẢI CHI TIẾT

"Chứ sẽ có đâu như thế !": Đó luôn luôn là Satan với lời xúi giục cổ điển: "Các ngươi chẳng chết chóc gì đâu, nhưng sẽ trở nên như các thần" (Mt 3, 4-5), chính nó lại đối diện với Chúa Giêsu ở đây, cũng như hồi Người bắt đầu sứ vụ: "Nếu Ngài là Con Thiên Chúa... ", các thiên thần) sẽ nâng Ngài trên bàn tay họ" (Mt 4, 5). Tiếng kêu của Phêrô, kèm theo những lời trách cứ đúng là có nghĩa "Nếu ngài là Chúa Kitô – vì Ngài là Chúa Kitô - điều đó không thể nào xảy ra được". Thế mà chính vì là Kitô mà Chúa Giêsu phải chết.

"Xéo đi sau Ta, hỡi Satan! Ngươi là cớ vây phạm cho Ta: Cái đập vào mắt ta trong biến cố này, là những tiếng dữ dội Chúa Giêsu dùng để trả lời Phêrô ; dĩ nhiên Mt không chủ ý kể lại một vụ hiểu lầm sơ sài, chóng qua. Vị trí của câu mắng sau lời tuyên xưng và thiên sai tính và sau lời loan báo đầu tiên về cuộc Khổ nạn mặc chóng một sự nặng nề đặc biệt. Vừa mới được khen là có phúc, giờ đây Phêrô bị gọi là Satan ; lúc ấy Ngươi là đá, bây giờ Ngươi là cớ vấp phạm cho Ta (cách dịch của BJ : Ngươi cản ngăn Ta rõ ràng quá yếu). Ở đây sự tương phản gần như là mâu thuẫn : Từ địa vị Tảng đá nền móng khá vững chắc trên đó Chúa Giêsu xây dựng Giáo Hội Người, môn đồ Phêrô trở nên viên đá vấp phạm mà chính Người suýt phải vấp. Khi hiểu sự nghiêm khắc của Chúa Giêsu đối với những người gây gương xấu cho kẻ khác cùng sự thẳng tay của các giải pháp Người đưa ra để chống lại hạng làm gương xấu (18, 6- 9), ta mới lượng được sự khắt khe tàn nhẫn của lời người khiển trách Phêrô. Người đáp lại ông với những từ ngữ đã dùng để trả lời Satan khi bị cám dỗ trong sa mạc : "Xéo đi, Satan" (4, 10). Chính vì trong cả hai trường hợp, Phêrô và Satan đều nghĩ rằng, vì là Con Thiên Chúa, Chúa Giêsu sẽ lợi dụng tư cách đó như một đặc quyền cá nhân để chiếm đoạt một vinh quang, thuần túy phàm trần.

"Vì ý tưởng của ngươi không phải là ý tưởng của Thiên Chúa" : Đây là một song đối tiêu cực với điều Chúa Giêsu đã nói ở câu l7 : "Không phải thịt máu đã mặc khải cho ngươi, mà là Cha Ta, Đấng ngự trên trời". Trong việc gần như tự phát chống đối cuộc Khổ nạn của Chúa Giêsu, Phêrô đã để thịt và máu nói, do đó tư tưởng của ông không thể phù hợp với mặc khải của Chúa Cha. "Quả thế, ý nghĩ của Ta không phải là ý nghĩ của các ngươi, và đường lối của Ta không phải là đường lối của các ngươi" (Is 55, 8).

"Nếu ai muốn đi sau Ta" : Dù trực tiếp ngỏ với các môn đồ chỉ thị này vẫn không nếp coi như một lời khuyên sống trọn lành dành cho một nhóm Kitô hữu ưu tú : bất cứ ai (Hy ngữ tis) muốn theo Chúa Giêsu, thì phải nghe và vâng theo chỉ thị đó, vì nó mô tả chính cuộc sống kitô hữu cơ bản. Dĩ nhiên, đây chẳng phải là một điều kiện nhiệm ý, nhưng là một sự dấn thân tích cực mà người môn đồ không được trốn tránh.

"Vì kẻ muốn cứu lấy sự sống mình thì sẽ mất ; còn kẻ nào mất sự sống mình vì Ta thì sẽ tìm lại được" : Câu này là câu kế tiếp dùng chữ sự sống với hai nghĩa khác nhau. Chữ ấy trước tiên chỉ con người cụ thể với sự sống thể lý trong thời gian của nó, nhưng đồng thời cũng chỉ sự sống vĩnh cửu theo nghĩa Gioan. Thành thử ta có thể giảng giải ra như sau : kẻ nào muốn cứu lấy sự sống trong thời gian của mình sẽ mất sự sống vĩnh cửu, còn kẻ nào đành mất sự sống trong thời gian của mình vì Ta, thì sẽ tìm được sự sống vĩnh cửu.

Câu 26 cũng phải được hiểu trong cùng chiều hướng như câu trước, nghĩa là phải mặc cho chữ sự sống hai nghĩa trên đây. Nếu không, sự nghịch lý Chúa Giêsu nói lên sẽ thành một câu lý luận tầm thường: dù lời lãi cả và thế gian, con người cũng không thể hưởng thụ được nó nếu bị thiệt mất sự sống trong thời gian của mình, tức là chết đi. Ở đây ý nghĩa hoàn toàn trái ngược: nào có ích gì cho con người khi được lời lãi tất cả thế gian, nếu vì đó mà lại thiệt mất sự sống vĩnh cửu.

"Hay người ta sẽ cho gì để chuộc lại sự sống mình?": Đây là một câu tục ngữ mà nếu hiểu một cách thông thường thì sự sống con người quý giá hơn tất cả mọi cái. Nhưng theo văn mạch và đem áp dụng vào sự sống vĩnh cửu thì nó có nghĩa: cái gì có thể bù đắp lại việc mất sự sống vĩnh cửu? Câu trả lời diễn dịch từ câu trước: Không gì bù đắp được, ngay cả vũ trụ.

Câu 27 đưa ra lý do sâu xa cho những chọn lựa cơ bản của môn đồ: đó là Con người một ngày kia sẽ đến phán xét các chọn lựa đó. Và cuộc phán xét này sẽ định đoạt số phận tương lai của họ.

KẾT LUẬN

Cuộc Khổ nạn là một yếu tố trong chương trình cứu rỗi: nó rất "cần thiết". Đó là phần thâm sâu nhất, mầu nhiệm nhất, "mới mẻ" nhất của tâm hồn và sứ mệnh Chúa Giê-su. Nhưng đó cũng là lý do trường cửu của sự vấp phạm; nó đã là cớ vấp phạm cho dân Do thái, cũng như là đề tài thắc mắc của Giáo Hội sơ khai và Giáo Hội mọi thời. Trước đấy, nó đã là vấn đề của sách Gióp: sau cuộc lưu đầy, Israel tự thắc mắc về ý nghĩa sự "công chính" của Thiên Chúa. Nói cách khác, được làm tuyển dân của Thiên Chúa, được làm đối tượng của tình yêu Ngài có nghĩa là gì? Qua lời mặc khải của Chúa Giêsu, điều mà trong sách Gióp xem như là một luật trừ (sự đau khổ của người công chính) thì nay thành luật chung: tình yêu Thiên Chúa đi ngang qua thập giá. Gương Phêrô từ chối nhìn nhận dung mạo đau khổ của Chúa Kitô là một bài học cho giáo Hội và cho mọi kẻ tin.

Ý HƯỚNG BÀI GIẢNG

1. Chúa Giêsu bình thản loan báo cái chết của Người. Đấng mà nguyên việc xuất hiện đã làm nẩy sinh mùa xuân của thế giới, nay sẽ phải nếm cơn hấp hối của sự từ bỏ hoàn toàn. Người ý thức sáng suốt định mệnh của mình, tuy nhiên vẫn biết rõ rằng, theo cách tính toán nhân loại, điều sắp xảy đến lẽ ra chẳng được xảy đến. Nhưng Người không buồn tủi, mà hoàn toàn tín thác vào Chúa Cha: Người biết hòn đá bị loại bỏ dù thế nào đi nữa cũng sẽ trở thành viên đá đỉnh góc.

2. Chúng ta luôn có phản ứng như Phêrô khi phải chạm trán với thập giá. Cô đơn, nghèo khổ, đau ốm, bấp bênh tương lai mất người thân thuộc, bất lực chữa trị tật xấu, tất cả hầu như không thể chấp nhận đối với chúng ta. Thế nhưng, chính đó là cái Chúa Giêsu yêu cầu chúng ta vác lấy để đi theo Người.

Vì thiếu đức tin nên ta thường phẫn uất, bất bình khi gặp thử thách. Như Phêrô, ta không thực sự tin Thiên Chúa thừa sức mạnh để làm phát sinh sự sống từ cái chết, thừa nhân hậu để từ chính thập giá làm phát xuất niềm vui. Tuy nhiên, chính hôm trước ngày tử nạn, Chúa Giêsu đã nói đến niềm vui của Người, lúc mà quân canh rình chực Người để bắt lấy. "Kẻ nào mất sự sống mình sẽ tìm được lại". Mầu nhiệm vĩ đại, cái mầu nhiệm mà các thánh đã từng kinh nghiệm trong cuộc đời chịu đóng đinh của họ, đó là niềm vui bất khả phân ly với thập giá. Vâng, nếu được chấp nhận vì tình yêu, thập giá sẽ trở nên nhẹ nhàng. Điều này không ngừng bị sự khôn ngoan trần gian phản đối, vì trần gian chỉ rêu rao sự tiện nghi và việc chạy theo khoái lạc: nó luôn hứa ban hạnh phúc nhưng bao giờ cũng chỉ đem đến thất vọng ê chề. Nó là kẻ thù không đội trời chung của thập giá. Nhưng khốn nạn thay, chính khi quay lưng với thập giá là trần gian quay lưng với niềm vui, với sự sống đích thực. Trần gian không biết và mãi mãi sẽ không biết rằng niềm vui và đau khổ có thể hòa hợp với nhau khi có sự hiện diện biến đổi của tình yêu.

Học viện Giáo hoàng Piô X Đà Lạt

 Tags: tử nạn

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Đăng ký nhận bản tin
Nhập email để nhận được những tin tức mới nhất từ chúng tôi.
Thống kê truy cập
  • Đang truy cập25
  • Máy chủ tìm kiếm7
  • Khách viếng thăm18
  • Hôm nay5,098
  • Tháng hiện tại5,098
  • Tổng lượt truy cập8,179,485
Đánh giá website

Quý vị đánh giá website GPLS thế nào?

Thánh Phêrô và Phaolô
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây