Hứa ban Thần Khí – Chúa Nhật VI Phục Sinh – Năm A

Thứ sáu - 15/05/2020 12:16 89 0
“Nếu các con yêu mến Ta, các con sẽ giữ các lệnh truyền Ta”. Gioan không bao giờ cho phép tình yêu thoái hóa thành tình cảm suông hay xúc động thuần túy. Tình yêu được biểu lộ trong sự vâng phục. Điều này cũng đúng cho tình yêu của Chúa Con đối với Chúa Cha (x. 15, 10).
Hứa ban Thần Khí – Chúa Nhật VI Phục Sinh – Năm A

HỨA BAN THẦN KHÍ
CHÚA NHẬT VI  PHỤC SINH
(Ga 14, 15- 21)

CÂU HỎI GỢI Ý

1. Đoạn này nằm trong văn mạch nào?

2. Nhiệm vụ của Thần khí đối với các môn đồ sẽ hệ tại ở điểm nào? Tại sao Chúa Giêsu gọi Ngài là "Đấng Bầu chữa khác"?  Có nhiều Đấng Bầu chữa sao?

3. Làm sao giải thích việc thế gian sẽ không còn thấy Chúa Giêsu, nhưng các môn đồ sẽ thấy Người (18- 20)? Chúa Giêsu ám chỉ đến loại trở về nào đây?

4. Câu 21 nói đến những lệnh truyền gì? Trong câu này phải chăng Chúa Giêsu xác nhận rằng tình yêu của chúng ta phải đi trước tình yêu của Người ?

CHÚ GIẢI

1. Đoạn này là một phần lấy trong diễn từ giã biệt đầu tiên 13, 31 - 14, 31). Cho nên phải nghiên cứu nó theo văn mạch diễn từ ấy.

“Ta ra đi và Ta sẽ trở lại" Diễn từ giã biệt đầu tiên mang chủ đề chính là sự ra đi và trở lại của Chúa Giêsu. Người sắp bỏ các môn đồ để chịu khổ nạn và chết (13, 33. 36). Nhưng việc ra đi này cũng là trở về với Cha (14, 12 ; x. 14, 2tt), là tôn vinh Cha và con  3, 31- 32), vì trong Chúa Giêsu, Cha tự tỏ mình như Thiên Chúa cứu độ. Vì thế nên đến giờ chết là giờ Người được tôn vinh, Chúa Giêsu thực sự trở thành đường dẫn về Chúa Cha (14, 2- 6) và là kẻ mặc khải Cha (14, 7- 11). Ngoài ra, việc trở về của Chúa Giêsu bên cạnh Cha cũng là trở về với các thuộc nhân của Người, chứ không phải chỉ là việc kéo ơn Thần khí khi được tôn vinh mà thôi (14,16-26 ; x. 7, 39). Thật vậy, chính Chúa Giêsu sẽ trở lại với môn đồ không phải chỉ vì một ngày kia Người sẽ đem họ đi với người (14, 3), nhưng vì họ sẽ thấy Người "một ít nữa" (14, 18- 19). Người sẽ tỏ mình (14, 21) và sẽ cùng Chúa Cha đến với họ (14, 23).

Một trong những câu cuối cùng của diễn từ giã biệt thứ nhất này tóm tắt lời hứa ấy như sau: "Các con đã nghe Ta bảo các con: Ta ra đi và Ta sẽ đến với các con" (14, 28). Thành thử diễn từ có mục đích chuẩn bị các môn đồ trước các biến cố sắp tới, nó cũng nhắm làm vững mạnh đức tin của họ đang bị lung lay vì lời loan báo ra đi và lời tiên đoán việc Giuđa phản bội (13, 21 -30) cùng Phêrô chối Thầy (13, 36- 38).

Diễn từ mang hình thức một cuộc đối thoại giữa Chúa Giêsu và môn đồ. Nó mặc tính cách một bài quảng diễn theo 5 điểm (13, 31- 36b ; 13, 36b- 38 ; 14, 2- 6 ; 14, 7- 14 ; 14, 15- 24), điểm này bổ túc cho điểm kia và mỗi điểm gồm ba giai đoạn. Mỗi lần Chúa Giêsu đều khởi sự với một câu xác quyết huyền bí diễn tả bằng những ngôn từ song nghĩa mà các môn đồ không thể nắm được ý nghĩa đích thực, bấy giờ họ đặt câu hỏi. Và câu hỏi này cho Chúa Giêsu cơ hội để xác quyết lại và nói rõ tư tưởng của mình, đồng thời nâng các môn đồ lên lãnh vực của mầu nhiệm con người và công việc Người. Đây là phương pháp hành văn đặc thù của Gioan, một phương pháp ngoài ra còn mang ý nghĩa thần học sâu xa: tự sức nặng, các môn đồ, và cả chúng ta, chẳng tài nào thấu hiểu được ý nghĩa của các biến cố, ý nghĩa của mầu nhiệm Chúa Giêsu. Đoạn văn của chúng ta thuộc về điểm thứ năm của diễn từ trong đó Chúa Giêsu hứa sẽ tỏ mình ra cho những ai yêu mến Người.

2. Ngược lại với thế gian, các môn đồ nhờ đức tin đã nhận ra bên cạnh họ sự hiện diện của Thần khí trong con người Chúa Giêsu. "Các con biết Ngài vì Ngài lưu lại nơi các con" (17b). Họ được hứa ban một sự hiện diện mật thiết hơn và hữu hiệu thực sự. Lời hứa này được thực hiện khi Chúa Cha sẽ thông ban Thần khí cho họ theo lời xin của Chúa Giêsu vinh hiển: Ngài sẽ ở với họ (16b), trong họ (17b).

Trong bốn đoạn khác, Chúa Giêsu chỉ cho biết nhiệm vụ của Thần khí đối với các môn đồ sẽ hệ tại điểm nào: Ngài sẽ đào sâu  đức tin của họ bằng cách làm cho họ hiểu, từ bên trong, cuộc đời và sứ điệp của Chúa Giêsu (14, 26 ; 16, 12- 15); Ngài sẽ củng cố họ vững vàng trước các đợt tấn công của thế gian và thúc đẩy họ làm chứng những gì đã biết (15,26-27); Ngài sẽ làm cho thế gian bất công đã từ khước Chúa Giêsu phải bẽ mặt (16, 7-11). Chính trong viễn tượng này mà Thần khí do Chúa Giêsu hứa ban là “Thần khí sự thật" (c. 17). Ngài sẽ đem mặc khải sự thật của Chúa Giêsu vào trong các tâm hồn, sẽ ban trí thông hiểu sâu sắc hơn về mầu nhiệm Chúa Giêsu, về đời sống, cử chỉ, lời nói của Người, như thế Người sẽ soi sáng các hoàn cảnh mới mà người Kitô hữu phải đương đầu. Đồng thời Người cũng là "Đấng bầu chữa" (5, 26 ; 16, 7 ; 1 Ga 2, 1), không dành riêng để chỉ Thánh Thần đâu. Trong 1 Ga 2, 1 , Chúa Kitô cũng là Đấng Bầu Chữa, nghĩa là Người biện hộ cho tội nhân bên cạnh Chúa Cha, và, trong bản văn chúng ta đang nghiên cứu đây, Thần khí được gọi là Đấng Bầu chữa khác, thay thế Chúa Kitô. Thành thử ý nghĩa nguyên thủy của từ ngữ vẫn được duy trì nhưng người ta chú trọng đến vai trò hơn là đến ngôi vị: Kẻ bầu chữa là người giúp đỡ, chuyển cầu, biện hộ hay là chứng nhân gỡ tội trước tòa án (x.15,26; 16,9; 1Ga 2, 1). Để đứng vững trước những biến cố đau thương đang báo điềm và trước thời gian cô đơn, cái thời gian mà như số phận Chúa Kitô phải chịu, là thời gian bách hại, các môn đồ cần có một sự nâng đỡ, một người hướng dẫn, một vị bảo trợ. Cho đến bây giờ, Chúa Giêsu đã phù trợ họ duy trì họ hiệp nhất với nhau và giữ gìn họ cho Chúa Cha (17,12). Đàn chiên đã có thể tin tưởng vào chủ chăn của mình: Nhưng giờ đây, chủ chăn ra đi, nên họ cần người trợ giúp khác. Vì thế Chúa Cha sai Ngài đến, nhân danh Chúa Giêsu (14, 26), như kẻ th.ay thế Chúa Giêsu (x. 14, 13), để tiếp tục công việc của Người qua trung gian các môn đồ vậy.

3. Những câu làm thành đoạn văn chúng ta loan báo ba cuộc tỏ mình ba "lần đến": việc ban Thần khí (cc.15-17), việc Chúa Giêsu trở lại bên cạnh các thuộc nhân của Người (cc. 18- 20), việc Người tỏ mình và cùng đến với Chúa Cha (cc.21-24). Không một cuộc tỏ mình nào trong ba lần đó tách rời một trong Ba Ngôi: Thần khí được Cha ban theo lời cầu xin của Chúa Giêsu; sự trở lại của Chúa Giêsu sẽ làm cho các môn đồ hiểu rằng Người hợp nhất với Cha, vì tình yêu của Người đối với môn đồ và tình yêu của Chúa Cha đối với họ chỉ là một; Người sẽ trở lại cùng với Chúa Cha. Tất cả đều cho thấy có một sự mạch lạc sâu xa giữa ba lần tỏ mình.

Trong cả ba trường hợp, việc tỏ mình nhằm cho các môn đồ chứ không nhằm cho thế gian (x.cc.17.19.22). Hạn từ sau cùng này ở đây chăng ám chỉ loài người mà "Thiên Chúa đã sai con Ngài đến để thế gian nhờ Người mà được cứu rỗi" (3,17 ; x.1, 29 ; 4, 42 ; 6, 33. 51 ; 12, 47), nhưng chỉ toàn thể những kẻ từ khước vị Thiên Chúa Cứu thế đó (ví dụ 1,10c ; 15, 1- 8t). Đoạn văn của chúng ta đây chứng nhận có một sự đối nghịch quyết hệt giữa thế gian ấy với Thiên Chúa. Đây là một thứ nhị nguyên, không phải thuộc lãnh vực “siêu hình", như thể thế gian tự nguyên thủy là xấu, nhưng là một thứ nhị nguyên mà ta có thể gọi là "luân lý". Có những người cố tình từ khước Thiên Chúa. Vì chẳng thừa nhận Chúa Giêsu và sứ điệp của Người, nên họ không tin vào Người (16, 9 ; 8, 23tt), không yêu mến Người (x.14, 22t), lại còn ghét Người nữa (15, 18). Tuy nhiên, Chúa Giêsu chẳng bảo rằng kẻ không tin kẻ đó chẳng có thể đạt đến đức tin và đức mến được đâu! Nhưng để đạt đến đó họ cần phải khước từ sự lệ thuộc vào thế gian. Tất cả đoạn văn chúng ta - ít nhất cách mặc nhiên - là một lời kêu gọi gửi đến mọi người để họ thực hiện một cuộc đổi đời cơ bản vậy.

Thành thử mặc dầu bản văn khởi sự với lời hứa ban Thần khí nhưng việc trở lại của Chúa Giêsu, như chúng ta đã bảo, vẫn được đặt lên hàng đầu, nếu chúng ta xét bài diễn từ trong toàn bộ của nó. 

“Còn ít nữa thế gian sẽ chẳng thấy Ta" (c. 19a) . Do việc người chết đi mà, theo quan niệm của thế gian, Chúa Giêsu từ ấy thuộc về quá khứ. Nhưng cũng tại vì thế mà thế gian tự lên án chính mình: Chúa Giêsu sẽ không còn hiện diện cho họ nữa (so sánh với 7, 33t ; 21). Trái lại, đối với môn đồ, những tiếng "còn ít nữa” hàm chứa một lời hứa sẽ trở về (so sánh với 16, 16- 22): Chúa Giêsu sẽ trở về với họ (c. 18b). Xin lưu ý là trong câu này, việc trở lại được nhắc tới bằng động từ erchostai, động từ Gioan thường dùng để chỉ những lần hiện ra của Đấng Phục sinh (x.20,19.24.26). Đây có ý nói về hành động uy quyền tối cao của Chúa Phục sinh, của Chúa cánh chung, Đấng vẫn đến, mặc dầu cửa đóng kín nhưng Các môn đồ bấy giờ sẽ hưởng được một kinh nghiệm độc nhất vô nhị: "Các con sẽ thấy Ta sống". Lời hứa ấy trở nên thực tại chiều ngày Vượt qua khi các môn đồ thấy Đấng phục sinh (x. 20, 20. 25)

Tuy nhiên chữ "các con sẽ thấy" không chỉ áp dụng cho việc quan sát bằng mắt và vào trạng huống Vượt qua mà thôi. Việc các môn đồ nhìn thấy Chúa Kitô còn là một nhận thức đích thực: nó đi liền với ý thức về sự hiệp nhất đời sống giữa Chúa Giêsu và Chúa Cha, sự hiệp nhất mà các môn đồ sẽ đạt được nhờ Chúa Giêsu (c.20b). Họ cũng sẽ sống: "Các con sẽ thấy Ta sống, và các con cũng sẽ sống" (c.19b).

Các môn đồ sẽ hiểu được điều đó khi thấy Đấng phục sinh. Nhưng Chúa Giêsu đã bảo rằng Người sẽ không để họ mồ côi (c 18a). Lời hứa này cho thấy có một sự hiện diện mà lần hiện ra cuối cùng của Đấng phục sinh sẽ không chấm đứt. Trong ngày ấy Người nói, các con sẽ biết được là Ta ở trong Cha Ta, và các con ở trong Ta, và Ta ở trong các con" (c:20), "Ngày ấy" chỉ thời đại cánh chung khởi sự với việc Chúa được tôn vinh lúc Vượt qua và kéo dài suốt thời gian của Giáo Hội. Suốt thời gian chúng ta đang sống, thì Chúa vẫn đến và chúng ta vẫn thấy Người: không còn thấy như các môn đồ thấy Đấng phục sinh, nhưng là thấy bằng đức tin, là ý thức được một sự hiện diện và một sự thông hiệp đời sống. Tóm lại các câu 18-20 gợi lên vừa thực tại của các lần Chúa hiện ra sau khi sống lại, vừa kinh nghiệm sống của Giáo Hội sau biến cố Phục sinh.

4. Cái kinh nghiệm của Giáo Hội này cũng được mô tả ở (cc. 21) Chúa Giêsu loan báo Người sẽ tỏ mình (c.21b), hay, như đã nói rõ sau lời cắt ngang của Giuđa, là sẽ cùng với Chúa Cha trở lại (c 23b). Tỏ mình và trở lại cho riêng những ai yêu mến Chúa Giêsu. Tình yêu này hệ tại việc tuân giữ các lệnh truyền của Người (c.21 ; xin xem c. 15 trong đó "giữ lệnh truyền" không phải là hậu quả, nhưng chính là bản chất của tình yêu đối với Chúa Giêsu) hay !ời Người (cc.23t). Hình như "lệnh truyền" và "lời" đều chỉ cùng một thực tại: mặc khải của Chúa Giêsu xét như  là quy tắc hành động: "lời" nhấn mạnh đến yếu tố thứ nhất (mặc khải), “lệnh truyền" nhấn mạnh đến yếu tố thứ hai (quy tắc hành động).

Các bản văn khác của Gioan cho chúng ta biết các lệnh truyền này hệ tại điều gì: tình yêu huynh đệ (13, 34t ; 15,12- 24 ; 1 Ga 4,21), và lòng tin vào Chúa Giêsu như là Đấng được Cha sai đến (x. 16,27). Đó không phải là hai lệnh truyền tách rời nhau: tình yêu huynh đệ dựa trên lòng tin vào Chúa Giêsu, Đấng được sai đến để mặc khải và thực hiện tình yêu cứu độ của Chúa Cha cho hết mọi người. Nên, trong 1 Ga 3,23, đức tin và tình yêu huynh đệ được liên kết với nhau dưới một danh xưng "lệnh truyền". Thành ra các môn đồ phải yêu thương nhau như Chúa Giêsu đã yêu thương họ (13, 34b ; 15, 12): nghĩa là theo gương người và còn hơn thế nữa, do bởi tình yêu của Người.

"Ai yêu mến Ta thì được Cha Ta yêu mến và Ta sẽ yêu mến kẻ ấy" (c. 21 ; x. c. 23a). Điều đó không có nghĩa là tình yêu của chúng ta có trước. Đúng hơn đây là một cuộc đối thoại tình yêu mà Chúa Cha và Chúa Giêsu đi bước đầu (x.1Ga 4,10. 19). Yêu mến Chúa Giêsu và do đó yêu mến anh em mình, tóm lại là tin vào anh yêu Thiên Chúa, là lãnh nhận tình yêu ấy, là đi vào trong sức năng động của nó và lưu lại trong đó: "Như Cha đã yêu mến Ta, Ta cũng đã yêu mến các con. Hãy lưu lại trong lòng mến của Ta. Nếu các con giữ các lệnh truyền của Ta, các con sẽ lưu lại trong lòng mến của Ta" (15, 9- 10a ; x. 17, 26). Đối với các môn đồ, tiếp nhận tình yêu của Chúa Cha mà Chúa Giêsu mặc khải, yêu mến anh em mình bằng tình yêu mà Chúa Giêsu yêu mến họ, là yêu mến Chúa Giêsu và Chúa Cha. Vì thế nên trong tình yêu này, sự hiện diện của Chúa Giêsu và của Chúa Cha được thể hiện. "Chúng Ta sẽ đến với kẻ ấy và sẽ đặt chỗ nơi mình họ" (c.23). Đây chính là một sự hiện điện hỗ tương: các môn đồ lưu lại trong tình yêu Thiên Chúa, và Chúa Cha cùng Chúa Giêsu đặt chỗ ở trong mình họ.

CHÚ GIẢI CHI TIẾT

“Nếu các con yêu mến Ta, các con sẽ giữ các lệnh truyền Ta”. Gioan không bao giờ cho phép tình yêu thoái hóa thành tình cảm suông hay xúc động thuần túy. Tình yêu được biểu lộ trong sự vâng phục. Điều này cũng đúng cho tình yêu của Chúa Con đối với Chúa Cha (x. 15, 10).

“Đấng Bầu chữa khác": Được vay mượn từ ngữ văn pháp luật, tiếng Paraklêtos chỉ người được mời tới bên cạnh bị cáo để giúp đỡ và bênh vực cho đương sự: thành thử nghĩa đầu tiên là trạng sư, người biện hộ. Từ đó, ta thấy xuất hiện nghĩa "Đấng An ủi hãy Đấng chuyển cầu. Nơi Gioan thì ý nghĩa pháp lý thắng thế. Thần khí giúp đỡ các môn đồ trong vụ án vĩ đại mà thế gian đeo đuổi chống lại họ, nhưng những tiểu dị vừa nêu trên có thể áp dụng và nhấn mạnh tùy trường hợp. Theo nghĩa Chuyển cầu, thì Chúa Giêsu cũng là Paraklêtos như Thần khí. Vậy nếu chỉ có một trung gian duy nhất là Chúa Giêsu (1Tm 2, 5), thì vẫn có hai Đấng bầu chữa: Chúa Giêsu, "luôn sống để cầu bầu cho chúng ta" (Dt 7,23) và Thần khí, "Đấng chuyển cầu cho ta bằng những tiếng rên khôn tả" (Rm 8, 26).

“Và Ngài ở trong các con". Nhiều chỉ cảo và thủ sao có giá trị dùng động từ này ở thì tương lai: Ngài sẽ ở. Người ta có thể đưa ra nhiều lập luận vững chắc để bênh vực cho cả hai lập trường. Tuy nhiên, phần lớn các nhà chú giải gần đây xem ra thích cách đọc: Ngài ở hơn.

“Ta sẽ không bỏ các con mồ côi” Tiếng orphanos cũng được dùng cho các môn đồ không có thầy: xem Platon, Phédon 116a, trong đó các bạn hữu của Socrate được gọi là những orphanoi khi ông chết, và xem Lucien, De morte Peregrini 6.

“Ai yêu mến Ta, sẽ được Cha Ta vêu mến”. Gioan không muốn nói riêng tình yêu của Thiên Chúa bị lệ thuộc vào sự vâng  phục của con người, điều ấy sẽ mâu thuẫn với 3, 16 ; 13, 34 ;  15, 9. 12 ; 17, 23. Tư tưởng của ông, trong lúc này, tập trung vào mối liên hệ hỗ tương giữa Chúa Cha, Chúa Con và các tín hữu -xem 13, 34. Bởi vì các môn đồ yêu thương lẫn nhau, nên dưới mắt người đời họ là những thành phần của gia đình Thiên Chúa; tình yêu của họ đối với Chúa Giêsu và sự hiệp nhất giữa họ với Người chứng tỏ là Chúa Cha yêu thương họ trong Người. Trước đó, xét như là thụ tạo, họ đã được Chúa Cha yêu mến rồi (1Ga 4, 10) ; nay với tư cách là Kitô hữu, họ còn hơn là một sự ngoại trưng của mầu nhiệm Nhập thể; họ là ngoại trưng của nhân cách tập thể của Đầu Nhiệm Thể.

KẾT LUẬN

Trong thời gian của Giáo Hội, thời gian chúng ta đang sống, Chúa Giêsu vẫn hiện diện với Cha Người và với Thần khí. Sự hiện diện ấy được thể hiện cho tất cả những ai mở lòng đón nhận Ba Ngôi Thiên Chúa. Nó là sự thông giao, thông hiệp, vì không phải là một hiện diện trừu tượng, "vô tính" nhưng hiện diện hỗ tương, hiện diện theo nghĩa mạnh của hạn từ. Sự hiện diện của Chúa Giêsu đối với chúng ta bây giờ gần gũi hơn, thắm thiết hơn, hữu hiệu hơn là khi Người còn tại thế, bởi vì nay Người hiện diện như Đấng được tôn vinh, như Chúa cánh chung hằng ban cho chúng ta Thần khí và làm cho chúng ta đi vào. trong sự thông hiệp đời sống với Chúa Cha. Vì vậy chúng ta phải nói đến một sự hiện diện trong khiếm diện. Nối tiếp cách hiện diện lịch sử của Chúa Giêsu, có một cách hiện diện mới là hiệp nhất với Chúa Giêsu và Chúa Cha, dưới sự hướng dẫn của Thần khí.

Ý HƯỚNG BÀI GIẢNG

1. Trong bài Tin Mừng của phụng vụ hôm nay, Chúa Giêsu hứa sai một Đấng Bầu chữa. Danh xưng lạ lùng này, vốn không có trong cách dùng thông thường của ngôn ngữ chúng ta, là chữ phiên dịch từ một kiểu nói Hy lạp có nghĩa được kêu tới bên cạnh…” ; các tiếng đồng nghĩa với nó có thể là: người trợ giúp, trạng sư, kẻ nâng đỡ ... Khi Chúa Giêsu nói đến một vị Bầu chữa khác, ta có thể nghĩ rằng chính Người là Đấng Bầu chữa đầu tiên là Vị rồi đây được sai đến với các sứ đồ sẽ làm cho họ hiểu hơn về Người; Ngài sẽ là kẻ mặc khải, bảo vệ Chúa Kitô trong tâm hồn người tín hữu chống lại các cơn cám dỗ và bách hại của thế gian.

2. “Thần khí ... mà thế gian không thể lãnh nhận Tiếng “thế gian" ở đây phải hiểu là toàn bộ các quyền lực phản nghịch với Thiên Chúa và Đấng Kitô của ngài Thần khí của thế gian này thiết yếu là một não trạng bất nhất, một bầu khí thiêng liêng nhiễm độc do nhiều sai lầm và ngu dại, do óc kiêu căng cố chấp và tự mãn ngớ ngẩn, một thái độ tâm lý và luân lý đóng kín con người lại. Thế gian ấy không tin cả đến sự khả hữu thần tính của Chúa Kitô và bởi thế cũng chẳng tin việc Thần khí ngự đến. Ở chỗ khác, Chúa Giê-su có nói là Người sẽ cầu xin Chúa Cha che chở các môn đồ người, tức chúng ta hôm nay, cho khỏi thế gian tội lỗi này.

3. “Ai yêu mến Ta sẽ được Cha Ta yêu mến”. Chúng ta gặp lại ở đây, dưới hình thức rõ ràng và đánh động hơn, một trong những chân lý cơ bản thường năng được trình bày trong Tân ước. Tương quan giữa chúng ta với Chúa Giêsu cấu tạo nên tương quan với Chúa Cha. Vâng giữ lệnh truyền của Chúa Giêsu là vâng phục Chúa Cha; cầu nguyện với Chúa Giêsu là cầu nguyện với Chúa Cha; ca tụng Chúa Giêsu, tức nhìn nhận thực thể của Người trong niềm thán phục và vui mừng, là phó thác vào Chúa Cha."Các con sẽ phải khốn quẫn, nhưng hãy vững lòng! Ta đã thắng thế gian" (Ga 16, 33).

4. Sự hiện diện hữu hình của Chúa Giêsu không phải là tất cả. Sự hiện diện của Người trong nội tâm còn quý trọng hơn. Như thánh Phaolô, chúng ta không nên tiếc vì đã chẳng sống vào thời của Tin Mừng. Thật là nguy hiểm khi chỉ biết Chúa Giêsu qua những vẻ bên ngoài theo xác thịt, mà không sống mật thiết với Người trong Thần khí.

5. Thánh Thần là hồng ân được ban cho chúng ta như hoa quả mà Chúa Kitô thâu lượm được nhờ cuộc Tử nạn của Người. Chính khi làm cho chúng ta đồng hóa với Chúa Kitô mà Thánh Thần đặt trong chúng ta tâm tình con thảo mà Chúa Cha mong đợi nơi chúng ta. Như thánh Phêrô nói: “Tất cả những ai được Thần khí tác sinh, đều là con cái Thiên Chúa”. Quả thế, không phải anh em đã nhận lấy Thần khí của hàng nô lệ để mà phải sợ hãi; nhưng anh em đã nhận lấy Thần khí của hàng nghĩa tử làm cho chúng ta thốt lên: Abba, Cha ! Chính Thần khí chứng thực cho thần hồn ta rằng: ta là con cái Thiên Chúa (Rm 8, 14- 16). "Ta sẽ không để các con mồ côi. Ta sẽ trở lại với các con". Chúa Giêsu đã đến làm cho chúng ta thành nghĩa tử của Cha Người. Người đã đến bằng con đường nhập thể để thực hiện kế hoạch tình yêu đó.

 

Tác giả bài viết: Học viện Giáo Hoàng Pi-ô X Đà Lạt

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Đăng ký nhận bản tin
Nhập email để nhận được những tin tức mới nhất từ chúng tôi.
Thống kê truy cập
  • Đang truy cập55
  • Máy chủ tìm kiếm10
  • Khách viếng thăm45
  • Hôm nay7,238
  • Tháng hiện tại187,407
  • Tổng lượt truy cập6,699,048
Đánh giá website

Quý vị đánh giá website GPLS thế nào?

THÁNH ĐA MINH ÁNH SÁNG GIÁO HỘI
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây