Dụ ngôn tiệc cưới - Chúa nhật XXVIII thường niên - Năm A

Chủ nhật - 11/10/2020 04:46 257 0
Chúa nói dụ ngôn cho chúng ta, là Người đang sống trong Giáo Hội. Người cảnh giác chúng ta: đừng tưởng rằng các ngươi đã đến đích, đã an vị; giữa các ngươi có đủ loại, kẻ dữ người lành, cỏ lùng lúa tốt.
Dụ ngôn tiệc cưới - Chúa nhật XXVIII thường niên - Năm A

CÂU HỎI GỢI Ý                                  

1. Dựa vào dàn bài tổng quát của các chương 21-22, hãy nêu lên đặc tính tranh luận của 3 dụ ngôn nhắm biện minh cho ý định Thiên Chúa:

- Dụ ngôn hai người con (21, 28-32) phân biệt các tội nhân bất tuân đích thực trong dân Israel.

- Dụ ngôn các tá điền sát nhân (21, 33-43) lật tẩy mưu đồ sát nhân của người Do thái và loan báo Thiên Chúa sắp có chương trình chuyển giao sứ mạng của người Do thái cho dân ngoại.

- Dụ ngôn tiệc cưới hoàng gia (22, 1-14) gom góp vào trong một bức tranh vĩ đại các dữ kiện của hai dụ ngôn trước (khước từ vâng phục, sát hại Người Con, tiêu diệt quân giết người, kêu gọi những kẻ khác).

Đọc lại cả ba dụ ngôn ấy và xác định độ cao dần của chúng... (làm việc, thu hoa trái, đến dự tiệc v.v...)

2. Trên phương diện nội dung thần học, có tiến triển từ dụ ngôn này qua dụ ngôn khác không?  

3. So sánh dụ ngôn tiệc cưới với dụ ngôn song song trong Lc 14, 16-24. Có sự khác biệt nào?  Dụ ngôn nào có hậu cảnh Cựu ước phong phú hơn?

4. Dụ ngôn của Mt có thể kết thúc dễ đàng ở c.10 không?  Phải chăng ta có thể nói đến một dụ ngôn thứ hai với các câu 11-14? Với mục đích nào Mt đã chèn các câu ấy vào đây?

5. Phải chăng câu 14 muốn nói rằng phần lớn nhân loại sẽ bị án phạt?

6. Lấy tính cách có vẻ thực và các chủ (đề Cựu ước làm tiêu chuẩn nhận định, hãy phân biệt trong dụ ngôn này đâu là những nét có tính cách dụ ngôn và đâu là những nét có đặc tính ẩn dụ?

1.Ta thấy ngay dụ ngôn này có bà con với dụ ngôn trước. Vì bên kia là một chủ nhà có thửa vườn nho, bên này là một ông vua khoản đãi bữa tiệc. Gia chủ hai lần đã sai tôi tớ đi thâu hoạch hoa màu thuộc về ông, nhà vua cũng sai gia nhân hai lần đi mời khách dự tiệc đến. Trong cả hai trường hợp, các gia nhân không đạm được mục đích, lý do là vì lòng độc ác của những người mà họ được phái đến. Trong cả hai câu chuyện đâu có nói tới "người con". Trường hợp đầu, đó là kẻ sau cùng được sai đến; trường hợp sau, đó là kẻ mà người ta chuẩn bị tiệc cưới cho; và trong cả hai, các gia nhân đều chịu ngược đãi và cuối cùng bị sát hại. Các điểm tương đồng đó giữa hai câu chuyện đã lôi kéo sự chú ý của chúng ta vào một đường hướng rõ rệt có chủ ý của tác giả Tin Mừng. Chủ vườn nho và ông vua cùng một nhân vật: Cha trên trời; người con thì rõ ràng là Đấng đã tự xưng mình là “Con" (11, 27) ; các gia nhân trong hai trường lợp làm ta nghĩ tới những kẻ được Thiên Chúa sai đi, nghĩa là các ngôn sứ ; còn những kẻ được mời là dân bất trung đã quản lý không tốt vườn nho.

Nhưng cách sắp đặt câu chuyện hàm chứa điều khác trong dụ ngôn các tá điền, đó là vấn đề một yêu sách công bằng thuần túy, còn ở đây là một lời mời, một vinh dự ban cho kẻ nào đó. Trên kia, người chủ kỹ lưỡng đòi phần hoa lợi của mình, còn ở đây thì ông vua đại lượng và hào phóng muốn cho con thật nhiều người chia sẻ niềm vui tiệc cưới của con ông. Màu sắc quả tươi sáng hơn trong dụ ngôn mới. Thái độ lãnh đạm - nếu không muốn dùng một từ ngữ mạnh hơn - do đó đắc tội hơn nhiều. Vì không còn phải là vấn đề vi phạm một quyền lợi nữa, nhưng là một sự xúc phạm danh dự nặng nề Người ta thích các công việc đồng áng hay bán buôn thường ngày hơn một lời mời dự bữa tiệc thịnh soạn. Nhưng thái độ thờ ơ lãnh đạm ấy đã biến sang thái độ đối nghịch hận thù mà không rõ tại sao. Phải chăng vì các kẻ được mời cho rằng mình bị gia nhân sách nhiễu nên đã ngược đãi và giết chết họ? Và người ta có thể tự đặt cho mình cái câu hỏi mà Chúa Giêsu vừa nêu lên trước đó cho các kẻ chống đối Người: Khi ông chủ vườn nho đến, ông sẽ xử với những tá điền ấy ra sao?  (21, 40). Câu trả lời không còn đựơc đưa ra như một sự đe dọa bằng lời nói nữa, nhưng là một hành động trừng phạt. Có sự đi lên từ dụ ngôn này qua dụ ngôn kia vậy.

2. Ông vua phản ứng bằng một cuộc xuất chinh tàn phá. Ông huy động binh lính và sai họ đi. Họ có sứ mạng tru diệt lũ sát nhân và thiêu hủy thành của chúng. Một độc giả chăm chú sẽ khó chấp nhận sự gia trọng đột ngột tình thế này. Hình như các người được mời đều thuộc thành phố nơi đang xảy ra bữa tiệc. Vậy thì phải chăng tất cả thành sẽ bị tiêu diệt cùng với mọi kẻ vô tội đang ở bên trong, trong lúc thật ra chỉ có lũ sát nhân mới đáng bị sự báo thù cay nghiệt ấy? Phải chăng những kẻ sát nhân không chỉ là dăm ba người trong số các khách được mời? Phải chăng những kẻ chỉ cho biết rằng họ không quan tâm đến lời mời mà chỉ thích làm công việc riêng, cũng phải chịu một hình phạt như mấy kẻ sát nhân kia? Những câu hỏi vừa nêu cho thấy rằng có một sự gián đoạn bên trong câu chuyện ở câu 7. Hẳn là có một cái gì khác hơn cái mà dụ ngôn nói tới ban đầu. Vì nếu người ta tiếp tục câu chuyện một cách hợp lý, thì phải nhảy sang ngay việc mời những người khác, những tân thực khách. Thành thử cuộc xuất binh chinh phạt xuất hiện như một vật thể xa lạ trong câu chuyện.

Hình như ở đây thánh sử liên tường đến việc tiêu diệt thành Giêrusalem vốn đang xảy ra lúc ông soạn thảo bản văn. Chỉ có điều ấy mới có thể giải thích được tầm mức quan trọng của cuộc xuất binh chinh phạt và sự tiêu diệt toàn thành. Vào năm 70 sau Chúa Kitô, Giêrusalem bị đốt cháy cùng bị san bằng tận gốc. Và các kẻ sát nhân không phải chỉ là một vài người như bản văn đòi hỏi để có thể chấp nhận được, nhưng là tất cả mọi tá điền đã giết chết người con sau khi đã cùng nhau bàn tính (21, 38-39). Rõ ràng là một trình thuật do truyền thống truyền đạt đã được tác giả giải thích ở đây, một lối giải thích rút từ một biến cố thời sự. Mt nghĩ rằng phải giải thích lời Chúa Giêsu như thế và ông hoàn toàn ý thức việc ông làm. Cái ông cho chúng ta, không phải chỉ là chứng từ trung thực về những lời nói của Chúa Giêsu đã được chuyển cho ông, nhưng còn là cách giải thích các lời đó cho mọi phần tử trong các cộng đoàn đầu tiên của Giáo Hội. Hai khía cạnh ấy có liên quan mật thiết với nhau. Vì chỉ có lời được hiểu và được giải thích do Giáo Hội xuất phát từ các sứ đồ mới có thể xem như là Lời Chúa đối với chúng ta, lời được Thánh Thần linh ứng và liên hệ đến chúng ta tất cả.

Thành thử đối với Mt, việc Giêrusalem bị phá hủy điêu tàn là một hình phạt Thiên Chúa giáng xuống trên tội Israel cứng lòng và giết chết Đấng Messia. Như ta đã biết, có nhiều cách giải thích các biến cố của lịch sử. Các ngôn sứ đã giải thích lịch sử dưới ánh sáng đức tin và các tác giả Kinh Thánh đã làm công việc của sử gia chính theo viễn tượng ấy, trong Cựu ước cũng như trong Tân ước. Trong Cựu ước, người ta gặp nhiều lối giải thích khác nhau về cùng một biến cố, tùy theo khả năng hiểu biết, quan niệm và bối cảnh lịch sử của soạn giả. Trong Tân ước cũng vậy, vì chân lý của lịch sử luôn luôn lớn hơn và đầy đủ hơn các cố gắng khác nhau để tường thuật lịch sử trong toàn bộ của nó. Thành thử ta có thể giải thích sự phá hủy thành Giêrusalem như là một hình phạt, nhưng đừng quên rằng đó chỉ là một trong số nhiều cách giải thích.

3. Các gia nhân có nhiệm vụ kêu mời những người khác mà không được chọn lựa. Họ được lệnh đem bào phòng tiệc những ai họ bắt gặp trên đường. Việc này đã thực hiện và phòng tiệc không mấy chốc tràn ngập đủ mọi hạng khách ăn cưới. Các người mới được mời thật hỗn tạp, nhưng sự hỗn tạp này chẳng phải do khác biệt về y phục, về địa vị xã hội hay do các yếu tố ngoại lai. Đó là một sự khác biệt nội tại, chủ yếu, những kẻ dữ và người lành (c.10). Và đấy là điểm kỳ dị! Sự việc chỉ có thể hiểu được từ thực thi mà tác giả của câu chuyện nghĩ đến. Lời mời đã được gởi tới cho Israel, nhưng dân này đã không muốn đón nhận, nên bây giờ nó được ngỏ cho một dân mới, không còn là một dân gồm những kẻ trong sạch và thánh thiện nữa, nhưng là một xã hội rất đa tạp gồm người dữ và người lành. Ta gặp họ, cả hai thứ trong Giáo Hội, như cỏ lùng giữa lúa. Phòng tiệc đã đầy, lời mời đã đạt được điều nó mong đợi. Tất cả mọi người đều có thể vào cách tự do. Nhưng rồi sẽ có sự phân biệt cuối cùng. Nói theo ngôn ngữ của dụ ngôn, thì lời mời tự nó không bảo rằng người ta sẽ tham dự thật sự vào hôn lễ. Trước tiên cần phải phán xét, phải phân tách cỏ lùng ra khỏi lúa đã. Đó chính là mục tiêu nhắm tới trong phần thứ hai của dụ ngôn.

Người ta thắc mắc tự hỏi làm thế nào mà một người bắt gặp giữa đường lại có thể có áo cưới được. Như thế chẳng phải là bất công lắm sao? Cái phía gây khó chịu mà ta gặp trong câu chuyện này cho thấy rõ đây muốn nói đến một cái gì khác hơn là y phục cụ thể. Chúng ta được chuẩn bị để giải thích như thế vì tác giả dụ ngôn đã ghi chú trước là trong phòng có người dữ kẻ lành. Hiển nhiên là kẻ không mặc áo cưới thuộc vào hạng người dữ. Chỉ có điểm này mới giải thích được cách đối xử mà y sắp chịu. Người ta không chỉ đuổi y ra ngoài mà còn nắm vào nơi tối tăm, chỗ khóc lóc và nghiến răng. Y bị lên án trầm luân vậy.

Vì cỏ lùng mọc bên cạnh lúa tốt trong Hội Thánh, nên có sự lựa chọn ngay trong hàng ngũ các kẻ tin. Họ đã được mời nghĩa là đã nghe tiếng gọi ngỏ với họ, nhưng không phải vì thế mà họ đương nhiên được vĩnh viễn cứu thoát. Số người được gọi rất đông, có nghĩa là người ta để cho nhiều kẻ đi vào mà không phân biệt một ai, không đặt một điều kiện nào cả. Họ chẳng cần giữ luật Môisen, chẳng cần phải cắt bì, vì lối vào: được mở rộng thênh thang. Nhưng việc tự do gia nhập này không làm nên một bảo đảm, vào trong cộng đoàn Giáo Hội chẳng có nghĩa là vào trong Nước Trời của thời thế mạt đâu. Phải phân biệt niềm trông cậy đầy tin tưởng và phó thác với tình tự phụ vô lý rằng mình sẽ nắm chắc phần rỗi. Hình như đó là sứ điệp thần học hàm chứa trong phần thứ hai này của dụ ngôn. Nó có giá trị cho mọi thời.

4. Câu kết của dụ ngôn đặt ra một vấn đề giải thích đặc biệt. Trong nhiều thế kỷ, phần lớn giáo phụ và thần học gia, dựa vào bản văn này, đã nói về số ít người được chọn như là một điều được chấp nhận cách chung chung. Nhưng dần dần, họ đã cảm thấy là cách giải thích đó khó phù hợp với cái tín điều luôn được công bố trong Thánh Kinh, là Thiên Chúa yêu thương con người với một lòng thương lạ lùng vô hạn (Ep 2, 4). Đàng khác, những tiến bộ của khoa chú giải đã cho thấy rằng rất nhiều khi, trong quá khứ, người ta đã dùng các bản văn Kinh Thánh mà không để ý cho đủ đến văn mạch, khiến đôi lúc phạm ít nhiều phản ngựa. Vì vậy người ta đã tìm cách đưa ra nhiều lối giải thích thỏa đáng hơn về câu kết luận nói trên.

Ngày nay người ta có thể thu gọn các lối giải thích được chấp nhận vào hai lối chính. Một cho rằng các "kẻ được chọn" của dụ ngôn là những người thụ hưởng một ơn đặc biệt giúp họ sống một cách thân tình với Chúa hơn những người khác và được nương dựa vào lòng thương xót dư đầy của Người đối với họ. Các kẻ được "chọn" như thế tất nhiên là số ít, trong lúc đại đa số các người “được gọi chỉ nhận được một ơn chung mà thôi, nhưng không phải vì thế mà bị loại ra khỏi bàn tiệc Nước Trời.

Cách giải thích thứ hai, ngày nay phổ thông hơn, là cách giải thích giới hạn câu xác quyết của Chúa Giêsu vào trường hợp duy nhất của người Do thái thời Người. Trong câu nói ấy, cách giải thích bảo Chúa Giêsu chỉ nhắm các người Do thái đương thời, được gọi tất cả vào Nước Thiên Chúa biểu hiện trong bản thân Người, nhưng đại đa số đã chẳng chịu vào qua việc từ khước Đấng Messia.

Hai cách giải thích này không phải là vô giá trị, nhưng khó phù hợp với dụ ngôn. Cách thứ nhất giả thiết rằng thực khách bất xứng bị đuổi ra ngoài vì đã muốn gian lận nhập vào nhóm nhỏ người được ưu đãi; nhưng dụ ngôn quả quyết rõ ràng anh ta bị đuổi vì thiếu điều tối thiểu cần phải có để cho bữa tiệc được trang nghiêm chỉnh tề. Cách thứ hai lại càng khó thỏa mãn hơn. Thật vậy, thực khách bị đuổi đã vào với nhóm người được mời thứ hai, thành ra đó là một người ngoại chứ không phải là một người Do thái; thế nhưng chính vào lúc anh ta bị đuổi mà Chúa Giêsu mới thốt lên câu nói về số ít người được tuyển chọn. Đàng khác, dấu hiệu theo mặt chữ thì câu nói hình như bị các sự kiện làm cho mâu thuẫn, vì trong số đông thực khách, chỉ có một mình thực khách bất xứng bị đuổi ra ngoài, thì làm sao mà có thể nói đến số “ít” được tuyển chọn được?  

Có một giải đáp đơn giản hơn xóa tan ngay lui khó khăn vừa nói. Nó thuộc lãnh vực ngữ học -và hệ tại chỗ giả thiết có một tỷ giảo cấp (comparatif) kiểu sêmita được dấu ẩn dưới công thức "gọi nhiều chọn ít" khiến cho ta được phép dịch là: Số người được mời gọi thì đông hơn, còn số được chọn lại ít hơn".

Một nhận xét sơ đẳng về văn phạm hy bá cho thấy rằng hy bá không có những hình thức đặc biệt cho các tĩnh từ ở tỷ giảo cấp (comparatif) hoặc tối thượng cấp (superlatit), nên người ta phải nại đến những uyển từ (périphrase). Vì thế, trong tiếng Hy lạp của Tân ước các tĩnh từ (nguyên cấp (positif) đôi khi cũng có một nghĩa rõ rệt tỷ giảo cấp hay tối thượng cấp và chỉ có văn mạch mới giúp khám phá ý nghĩa hiểu ngầm ấy. Một ví dụ: tốt (kalon) cho nó nếu nó đã không sinh ra phải hiểu là: “Thà con người đó đã không sinh ra thì tốt hơn”. Những thí dụ về hiện trạng này ta ít năng gặp: Mc 5, 42; Mt 22, 36; Lc 10, 42; Lc 1, 42; Lc 18, 14...

Thành thử thật là chính đáng và tự nhiên khi hỏi phải chăng có một tỷ giảo cấp nào đó ẩn dấu dưới hai tĩnh từ “nhiều và “ít trong câu văn. Nếu có thì châm ngôn sẽ như thế nào. “Kẻ được gọi thì đông hơn, kẻ được chọn thì ít hơn". Thế mà công thức này hoàn toàn phù hợp với văn mạch của dụ ngôn chúng ta. Thật vậy, dụ ngôn cho thấy các người được gọi có rất nhiều, vài kẻ lại từ chối và một người đã bị loại ra. Được gọi thì nhiều dĩ nhiên, nhưng người được chọn thì ít hơn kẻ được gọi; và vì thế cần phải lo làm sao cho có đủ những điều kiện cần thiết để ơn gọi của chúng ta đạt đến sự tuyển chọn cuối cùng.

Để chứng thực cho lối giải thích này, ta cần phải ghi nhận là đoạn văn của Mt được hiểu trong ý nghĩa vừa gợi hoàn toàn hòa vận với một sấm ngôn căn bản khác của Tin Mừng, sấm ngôn duy nhất trong đó Chúa Giêsu đã minh nhiên trả lời cho vấn đề số người được chọn. Đó là bản văn quen thuộc của Lc 13, 22-24: người rảo khắp các thành các làng mà giảng dạy và tiếp tục hành trình đi Giêrusalem. Có kẻ nói với Người: “Thưa Ngài, ít người được cứu thôi phải không? ". Người bảo họ: “Hãy chiến đấu để qua cửa hẹp mà vào, vì Ta bảo các ngươi, có lắm kẻ sục tìm cách vào, nhưng không được". Nếu thực sự Chúa Giêsu đã muốn để lại cho các sứ đồ, về vấn đề này, một giáo huấn chính xác, thì chắc chắn Người đã lợi dụng cơ hội đó để giải thích mà không cần phải nói quanh. Thế mà thay vì cho ta biết về số người được chọn, người lại khuyến giục ta hãy luôn cố gắng để qua cửa hẹp. Chớ gì câu trả lời này cho chúng ta. Những điều khác thuộc về Thiên Chúa!

CHÚ GIẢI CHI TIẾT

“Về nước Trời cũng giống như vua kia”. Nước Trời không giống như một ông vua; nhưng trong Nước Trời được Chúa Kitô khai mào, sẽ xảy ra điều mà dụ ngôn sắp kể lại (x. 13, 24; 18, 23; 25, 1). Cựu ước và Do thái giáo năng chỉ Thiên Chúa dưới những nét của một vì vua (Tl 8, 23; 1 Sm 8, 7 ; Xh 19, 6 ; Tv 11, 4 ; 47, 3 ; 93, 1- 2 ; 95, 3- 5; 103, 19 ; Gr 10, 7...).

“Làm tiệc cưới cho hoàng tử. Hình ảnh bữa tiệc thiên sai chắc chắn được vay mượn từ Cựu ước (Is 25, 6; 55, 1 -3). Nó diễn tả tính cách nhưng không của ơn cứu độ Thiên Chúa ban cho dân Ngài và được tiên trông qua bữa ăn của Môisen với 70 kỳ lão, trước sự hiện diện của Đấng Vĩnh cửu trên núi Sinai, sau hy tế đền tội (Xh 24,11). Sách Khải huyền cũng trình bày ngày quang lâm của Nước Thiên Chúa như là việc cử hành lễ cưới của Con Chiên (Kh 19).

“Nhưng họ không muốn đến": Sự từ chối được diễn tả một cách rành rẽ qua động từ muốn động từ rất được Mt ưa thích (x. 11, 14; 16, 24; 18, 30; 19, 17; 23, 27b). Việc đáp lại lời mời không phải là chuyện khuynh hướng bẩm sinh hay chuyện tình cảm, nhưng là chuyện quyết định tự ý hoàn toàn. Xa hơn chút nữa (c. 5), Mt cho thấy các thực khách không nhèm đếm xỉa, đến lời mời không quan tâm rằng đó chính là thái độ hờ hững đáng tội, là sự thờ ơ hiểu theo nghĩa mạnh nhất.

“Khách mời đã không đáng dự”. Sự bất xứng của các kẻ được mời không do tự nhưng khiếm khuyết hay vô tri tự nhiên, vì sau đó đủ mọi hạng người sẽ được triệu mời, lành cũng như dữ (c. 10); họ bất xứng vì đã từ chối.

“Vậy các người hãy ra các ngã đường, hễ gặp ai thì mời vào tiệc cưới, kiểu nói vậy hãy đi" (poreuesthe oun) nhắc cho ta nhớ những tiếng mà Chúa Giêsu sẽ dùng để sai các môn đồ đến với dân ngoại: vậy các ngươi hãy đi thâu nạp các môn đồ khắp muôn dân" (28, 19). Ơn cứu độ nhưng không của Chúa Kitô, dù bị người Do thái khinh chê, vẫn được cống hiến cho bất cứ ai nghe lời mời gọi của các kẻ phục vụ Tin Mừng trong khắp nẻo đường thế giới : "Nhiều kẻ sẽ từ phương Đông, phương Tây mà đến và được dự tiệc cùng Abraham, Isaac và Giacóp trong nước Trời" (8, 11). Sự cứng lòng và từ chối của Israel chỉ khai mào thời gian của Giáo Hội, thời gian mà một khi Tin Mừng được rao giảng cho mọi dân tộc (24, 14), phòng tiệc sẽ tràn ngập đủ hạng người. Thành thử việc sai các gia nhân lần thứ ba tương ứng với việc sai các sứ đồ đến với dân ngoại sau khi Chúa Giêsu phục sinh. Ở đây, chúng ta gặp lại chiều hướng phổ quát và truyền giáo rất được Mt chú trọng (2, 1- 2 ; 3, 9 ; 8, 5-10 ; 8, 28- 34 ; 15, 21- 28 ; 13, 47 ; 21, 43. ..).

"Bất luận dữ hay lành”. Chi tiết này làm ta liên tưởng tới dụ ngôn lưới cá (13, 47- 50) ; “kẻ dữ" đây là những người có tội được mời cách nhưng không, sẽ cải thiện đời sống một khi đã vào trong Nước Trời hay Giáo Hội, hoặc là các kẻ dữ theo nghĩa tuyệt đối mà một ngày kia sẽ bị loại ra khỏi Nước Trời (hay khỏi Giáo Hội). Các câu 11-14 tiếp theo sau xét đến hạng kẻ dữ này. 

“Nhà vua đi vào coi khách dự tiệc”. Đây là cuộc phán xét sau cùng; hãy so sánh với các dụ ngôn của ch.13 (vd: cỏ lùng, lưới cá) và của ch.25 (mười trinh nữ nén vàng, chiên và dê): trong các dụ ngôn ấy nói tới sự lựa chọn, phân tách kẻ dữ người lành. Những câu này, của riêng Mt, chắc chắn là để sửa lại một lối giải thích tự do quá trớn về các câu 1-10. Dĩ nhiên, việc gia nhập vào Giáo Hội là nhưng không thật đấy, song chớ quên rằng đó là Giáo Hội của Vua. Thiên Chúa "khám xét": Dân mới của Ngài kỹ lưỡng vô cùng vì ân sủng Ngài luôn luôn đòi hỏi.

"Sao bạn vào đây mà không mặc y phục lễ cưới? ": Y phục lễ cưới này là cái gì vậy? Đó chỉ có thể là thực tại và được biểu hiệu trong dụ ngôn thợ vườn nho qua hình ảnh hoa quả Nước Trời. Đó là sự công chính luôn được Tin Mừng Mt đòi hỏi nơi tín hữu, sự công chính hay là sự trung thành mới mà các chương 5-7 đã cho một vài ví dụ (5, 20; 6, 33...). Để đi vào Nước Trời, cần phải mặc áo cứu độ" (Is 61,10), "mặc lấy Chúa Kitô" (Ep 4, 24; Gl 3, 27). Vì thế, chỉ những ai đã "giặt áo mình trong máu Con Chiên" (Kh 7, 9-17) mới có thể đứng vững trước ngai Con Chiên trong ngày lễ cưới (x. Kh 19, 6-8).

“Người ấy câm miệng": Người Do thái quan niệm rằng các việc lành phúc đức sẽ bầu cử cho họ trước mặt Thiên Chúa. “Ai thực thi huấn lệnh thì người ấy sắm cho mình một kẻ chuyển cầu" (Châm ngôn tiên tổ 4,13). Một ý tường tương tự cũng được tìm thấy trong Cv 10, 4. Người khách đã không thực thi việc phúc đức thành ra câm miệng lại: chẳng một ai chuyển cầu biện hộ cho y.

KẾT LUẬN

Dân Do thái, kẻ thừa hưởng lời hứa của Thiên Chúa, là những người đầu tiên được đón nghe Tin Mừng, do từ chính Chúa Giêsu (Người chỉ giảng dạy cho họ) cũng như do các sứ đồ (các vị luôn luôn bắt đầu từ nơi họ, ngay cả Phaolô, trong các thành ngài rao giảng), nhưng họ đã không sẵn sàng tiếp đón. Tuy nhiên, sự cứng lòng của họ, dầu bí nhiệm đến đâu (Ga12, 37- 43), cũng không thể làm cho ý định quan phòng của Thiên Chúa thất bại. Các dân ngoại, được rao giảng Tin Mừng muộn hơn, sẽ dần dà đi vào trong Giáo Hội của Chúa Kitô. Và chính thánh Phaolô (Rm 11, 26) có hé mở cho thấy trong tương lai, Israel sẽ trở lại với Người cách ồ ạt, khiến sau cùng Do thái và dân ngoại, hiệp nhất trong một Giáo Hội, có thể cùng nhau tạo thành Israel của Thiên Chúa. trong lúc chờ đợi, mỗi người phải cố gắng mặc lấy Chúa Kitô bằng cách thực thi việc làm.

Ý HƯỚNG BÀI GIẢNG

1. Bàn tiệc cưới của Giáo Hội là bàn tiệc Thánh Thể, được Chúa Ki-tô khai mạc với các sứ đồ trong bữa tiệc ly (Mt 26, 26-29) và luôn được tái diễn từ ngày Hiện Xuống trong Giáo Hội sơ khai (Cv 2, 42) cũng như  trong các cộng đoàn Kitô hữu mới (1Cr 11, 23-29). Để xứng đáng tham dự bàn tiệc Thánh Thể này, phải mặc áo cưới, nghĩa là sống một đời phù hợp với Tin Mừng của Chúa Kitô. Và từ bàn tiệc Thánh Thể này đến bàn tiệc Thánh Thể khác, chúng ta sẽ càng ngày càng trở nên đồng hình đồng dạng với Chúa Kitô và đủ điều kiện để một ngày kia tham dự vào bàn tiệc thiên quốc trong tình thân mật với Thiên Chúa, nơi đó Thiên Chúa sẽ là tất cả niềm vui của chúng ta.

2. Khi lãnh nhận phép Thánh Tẩy, chúng ta đã được mặc một chiếc áo trắng và linh mục đã chúc chúng ta gìn giữ nó tinh tuyền cho đến ngày phán xét trước tòa án của Chúa Kitô. Nếu chúng ta đã làm bẩn chiếc áo rửa tội này, chúng ta luôn có thể trình diện nơi tòa án của lòng thương xót là Bí tích Giải tội. Ở đó Chúa Kitô, qua lời Bí tích của vị đại diện Người, sẽ tẩy sạch áo cưới của chúng ta và lại kêu mời chúng ta dự tiệc cưới của Vua, trong niềm vui của tình thân được tái lập. Đừng có làm như những người được mời đầu tiên của dụ ngôn mà từ chối hồng ân lớn như thế.

3. Thiên Chúa luôn kêu mời chúng ta vào trong tình thân mật của Ngài, mời ta hưởng niềm vui được phục vụ Ngài (phục vụ là thống trị vì Chúa). Người ta có thể phản đối lời mời ấy bằng một thái độ thù nghịch công khai, điều này rất may là họa hiếm. Thường thường người ta phản đối bằng thái độ lãnh đạm tôn giáo, được che dấu dưới nhiều cớ dễ dãi: không có thì giờ, nhiều việc khác cấp bách hơn…v.v... Như những kẻ đầu tiên được mời của dụ ngôn, ta không thèm đếm xỉa đến lời mời đã nhận được. Trong phương diện này, trách nhiệm Kitô hữu nặng nề hơn trách nhiệm của người ngoại, vì Kitô hữu biết rằng mình được mời đự tiệc, trong khi lương dân chỉ có thể trực giác cách mơ hồ thôi, trong đáy sâu thẳm của lòng họ.

4. Chúa nói dụ ngôn cho chúng ta, là Người đang sống trong Giáo Hội. Người cảnh giác chúng ta: đừng tưởng rằng các ngươi đã đến đích, đã an vị; giữa các ngươi có đủ loại, kẻ dữ người lành, cỏ lùng lúa tốt. Các gia nhân của Ta dã quy tụ các ngươi, họ đã lấy tất cả những gì họ gặt: tốt cũng như xấu. Chẳng phải vì các ngươi ở trong mà các ngươi được xét đoán kẻ ở ngoài, những kẻ đã từ chối không chịu đến. Vì có một cách khác làm sỉ nhục cho Đấng mời gọi chúng ta là định cư trong nhà Người như thể trong nhà của chúng ta, quên rằng Người đã mời gọi chúng ta, quên rằng chúng ta ở trong Giáo Hội là nhờ ân sủng thuần túy, quên rằng chỉ có cách sống đạo của chúng ta mời định đoạt về số phận được tuyển chọn cuối cùng.

5. Mặc lấy Chúa Kitô là mặc lấy các tâm tình: lân tuất, nhân hậu, khiêm nhu, nhẫn nại, hiền từ (Cl 3, 9-13), là tha thứ như Người đã tha thứ cho ta, là yêu mến như Người đã mến yêu ta, là trở nên một Kitô khác, là được biến đổi trong Người,  là chân thật trong các cuộc giao tiếp với anh em, là đừng để cho cơn giận có thời giờ ra chai cứng lại thành hiểu lầm nhau, là nỗ lực làm việc để có thể chia sẻ cho những người túng thiếu.

6. Thiên Chúa mời chúng ta dự tiệc của Ngài không những là qua tiếng nói của Giáo Hội hay các linh mục, nhưng còn qua bất cứ một người vô danh nào mà chúng ta biết lắng nghe, qua một biến cố lay động cuộc sống, qua một thử thách mà chúng ta trải vượt, qua một niềm vui mà chúng ta thường thức. Trong mức độ mà các con người và các biến cố ấy kêu gọi chúng ta, thúc bách chúng ta phản ứng, buộc chúng ta chọn lựa sống đạo, vì đó chính là các gia nhân đến nài xin tự do của ta, đến thông ban cho ta một Tin Mừng: "Tiệc cưới đã sẵn". 

Học viện Giáo hoàng Pi-ô X Đà Lạt

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Đăng ký nhận bản tin
Nhập email để nhận được những tin tức mới nhất từ chúng tôi.
Thống kê truy cập
  • Đang truy cập81
  • Máy chủ tìm kiếm9
  • Khách viếng thăm72
  • Hôm nay13,595
  • Tháng hiện tại374,462
  • Tổng lượt truy cập8,127,980
Đánh giá website

Quý vị đánh giá website GPLS thế nào?

Thánh Phêrô và Phaolô
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây