Cuộc hiện ra của Đấng Phục Sinh và việc ban Thần Khí - Chú giải Tin mừng lễ Hiện Xuống

Thứ năm - 28/05/2020 21:43 149 0
Sứ mệnh của môn đồ là sứ mệnh được tiếp tục của Chúa Giêsu. Vì, như F.Godet đã nói rất đúng, thật ra chỉ có một sứ mệnh từ trời xuống trần gian, là sứ mệnh của Chúa Giêsu ... Sứ mệnh của các môn đồ được bao hàm trong sứ mệnh của Ngươi và kết thúc việc thực hiện sứ mệnh đó cho trần gian...
Cuộc hiện ra của Đấng Phục Sinh và việc ban Thần Khí - Chú giải Tin mừng lễ Hiện Xuống

CUỘC HIỆN RA CỦA ĐẤNG PHỤC SINH
VÀ VIỆC BAN THẦN KHÍ
(Ga 20, 19-23)

CÂU HỎI GỢI Ý

1. Hãy thử phân tích cơ cấu của bản văn này.

2. Qua bản văn, ta nhận ra mấy loại "hiện ra" của Đấng Phục Sinh ?

3. Tại sao Gioan đưa ra một chi tiết địa điểm mơ hồ: "nơi các môn đồ đang ở". Ông muốn nhấn mạnh đến khía cạnh nào của sự kiện ?

4. Theo Gioan, Chúa Giêsu cho môn đồ xem tay và cạnh sườn Người vì mục đích gì? Có giống mục đích như trong Lc 24,39 không ?

5. Công thức : "Như Cha đã sai Ta, Ta cũng sai các con” (c. 21) độc đáo ở chỗ nào? Hãy tìm trong Gỉoan những chỗ dùng lối song đối Thiên Chúa-Chúa Giêsu, Chúa Giêsu- môn đồ như vậy.

6. Tại sao Gioan dùng kiểu nói: Chúa Giêsu thổi Thần khí trên các môn đồ (c.22) ?

7. Đặt trong văn mạch của Tin Mừng Gioan, thì việc tha và giữ tội nói lên quyền gì ?

Trong Tin Mừng thứ tư, trình thuật hiện ra của Chúa Giêsu cho các môn đồ Vâo chiều Phục sinh đi tiếp theo sau cảnh hiện ra với Maria Mađalêna. Mặt khác, nó lại được kéo dài trong cảnh hiện ra cho các môn đồ với sự có mật của Tôma. Giữa hai cảnh, trình thuật làm thành một toàn thể biệt lập và tương ứng, xét theo ý nghĩa căn bản, với cảnh Chúa Giêsu hiện ra cho nhóm mười một trên núi Galilê trong một 28, 16- 20, và với cuộc hiện ra ở Giêrusalem trong Lc, 24, 36- 49. Trình thuật ngắn ngủi này (Ga 20, 19- 23), được sách Bài. đọc dùng như là Tin Mừng ngày lễ Hiện suông, đã đặt ra nhiều vấn đề. Ở đây ta chỉ có thể xét đen một ít vấn đề mà thôi.

I. CƠ CẤU CỦA BẢN VĂN

Trình thuật gồm hai cảnh song song.

Trong cảnh nhất (cc. 19- 20), có một vài tiếng dẫn nhập xác định không gian và thời gian của sự kiện cùng nói lên tầm trong của các môn đồ. Chúa Giêsu đến và chúc bình an. Đoạn một công thức chuyển tiếp ("nối thế rồi") đưa biến cố trọng đại vào Chúa Giêsu cho xem tay và cạnh sườn người. Các môn đồ đều tràn ngập vui sướng vì được thấy Chúa.

Ta đi sang cảnh hai (cc. 21- 23) bằng một công thức hành văn (“Chúa Giêsu lại nói với họ lần nữa”) công thức này có thể là dấu báo hiệu một trình thuật có nguồn gốc khác. Chúa Giêsu lặp lại câu chào bình an và đọc lên lời sai phái các môn đồ đi truyền giáo: Như  Cha đã sai Ta, Ta cũng sai các con. Bấy giờ xuất hiện lài công thức chuyển tiếp ("nói thế rồi để, như trong cảnh nhất, báo hiệu việc chuyển qua biến cố trọng đại: Chúa Giê-su thổi hơi trên các môn đồ và bảo: "Hãy nhân lấy Thánh Thần": Trình thuật kết thúc với lời trao ban quyền tha thứ và cầm giữ tội: "Các con tha tội cho ai thì tội họ được tha, các con cầm giữ tội ai, thì tội họ bị cầm giữ ”. 

Lược đồ sau đây làm hiện lên sự song đối giữa hai cảnh :

Các câu 19-20

Các câu 21- 23

1. Vào lúc xế chiều ngày ấy, ngày thứ nhất trong tuần, nơi ở của các môn đồ các cửa đều đóng kín vì sợ người Do thái ; Chúa Giêsu đã đến đứng giữa họ và nói: "Bằng yên cho các con"

1 . (Cũng khung cảnh ấy)

Chúa Giêsu nói với họ một lần nữa: "bằng yên cho các con. Như Cha đã sai Ta, Ta cũng sai các con" .

2. Nói thế rồi,

2. Nói thế rồi,

3. Người cho họ xem tay cạnh sườn Người

3. Người thổi hơi (trên họ) vànói với họ: "Hãy chịu lấy Thánh Thần".

4. Các môn đồ mừng rỡ vì được thấy Chúa.

4. Các con tha tội cho ai, thì tội họ được tha. Các con cầm giữ tội ai, thì tội họ bị cầm giữ " .

Qua lược đồ trên, ta nhận ra hai loại hiện ra của Đấng Phục sinh được trình bày trong hai cảnh song song. Một cuộc hiện ra để người ta nhận biết: Chúa Giêsu đến với các môn đồ, họ nhận ra Người, lòng tràn ngập mừng vui. Một cuộc hiện ra để ủy thác sứ mệnh: Chúa Giêsu Phục sinh thông truyền cho các môn đồ trách nhiệm nối tiếp công việc của Người ở trần gian. Như trong một 28, 16-20 và nhất là trong Lc 24, 30- 49, tất cả hai cuộc hiện ra đều được liên kết trong cùng một biến cố.

Từ cảnh này đến cảnh kia, không những chỉ có liên tục, mà còn có cả tiến triển. Trong cảnh nhất, các môn đồ đi từ nỗi lo sợ người Do thái đến niềm vui được thấy Chúa, trong cảnh hai thì với từ sự bằng yên đã tìm lại được đến việc được sai đi thi hành sứ mệnh theo lời Chúa Kitô, Đấng sinh đông họ bằng hơi thở sáng tạo của Thánh Thần.

Xin lưu ý tính cách Kitô-tâm của tất cả trình thuật. Sáng kiến hoàn toàn do Chúa Giêsu. Mọi hành động đều xuất phát từ Người. Chính Người “đến”. Người “cho xem" các dấu vết Khổ nạn,  chứng tích của việc Người chiến thắng"sự chết. Các môn đồ vui mừng được thấy Người; Người ban bình an, ủy thác sứ mệnh mình và thổi Thánh Thần vào họ; từ nhóm người nhát đảm này, Người dùng lời tạo nên một đội quân xung phong để sai đi vào trần gian, trang bị bằng quyền năng, bẻ gãy sức mạnh của tội lỗi.

Tâm tình của các môn đồ, lo lắng và mừng vui, chỉ được gợi lên một cách kín đáo, khác hẳn với Luca là người dồn tất cả phần đầu của trình thuật: mình cho họ. Chủ đề "cứng lòng tin" bị bỏ qua ở đây; nó sẽ được quảng diễn một cách cụ thể trong cảnh sau, khi nói về sự nghi ngờ của tôm. Thành ra chính cơ cấu của trình thuật biểu lộ phương hướng chủ yếu của nó. Như toàn thể Tin Mừng gian, nó đặt trọng tâm trên việc mặc khải con người Chúa Giêsu".

2. CẢNH NHẬN RA CHÚA GIÊSU (cc. 19- 20)

 Khung cảnh thời gian: "vào lúc xế chiều” hiện tại phân từ trong tiếng Hy lạp, ngụ ý rằng biến cố xảy ra vào buổi tối hay ẩn khuya như Hoskyns đã nghĩ (The Fourth Gospel, London, 1947, tr .544). Kiểu nói “ngày ấy”, có lẽ đã được thêm vào một bản văn nguyên thủy ngắn hơn, muốn xác định ráng đó cũng là ngày khám phá mồ trống (cc . 1- 10) và ngày hiện ra với Maria Mađalêna (cc 11- 18). Thành ngữ ngày thứ nhất trong tuần, vốn đã được dùng trong trình thuật viếng mộ, nhấn mạnh tính cách duy nhất thời gian ấy.

Còn địa điểm thì được xác định một cách quá mơ hồ qua kiểu nói: Nơi các môn đồ đang ở". Văn mạch của cả chương cho biết dó là Giêrusalem. Thật ra, thánh sử muốn dừng lại ở một sự kiện thuộc lãnh vực tâm lý, luân lý và ngay cả thần học hơn là sự chính xác địa hình. Điều ông ta lưu ý là, nơi các môn đồ đang ở mọi cửa đều đóng kín vì sợ người Do thái. Không phải là định hình nhưng là định tính vậy: Chúa Giêsu đến nơi các môn đồ sợ hãi đang lẩn trốn sau những biến cố của cuộc Khổ nạn.

Theo một số tác giả, việc ghi nhận rằng các môn đồ sợ người Do thái chỉ là một chi tiết thuần túy văn chương, không có giá trị lịch sử nào, ý tưởng tự cảm thấy nguy ngập chẳng có nền tảng đâu hết (R.Bultmann, Das Evangelium Johannes, Gottingen, 1953 tr.535). Theo một quan niệm khác, thánh sử muốn qua đó cho thấy các môn đồ thiếu sẵn sàng để tin vào một kết cục may mắn của cái chết Chúa Giêsu đến chừng nào. Thật vậy trong Tin Mừng thứ tư, chi tiết này nối dài chủ đề về sự sợ hãi (phobos) do người Do thái hay "thế gian” gây nên nơi các môn đồ hay nơi bạn hữu của Chúa Giêsu (7, 13 ; 19, 38 ; x 12, 15 ; 19,8). Nỗi sợ hãi ấy vào chiều Phục sinh, tương ứng với trạng thái tinh thần của các môn đồ suốt. Bữa Tiệc ly (14, 1 .27 ; 16, 32) và vào lúc nghe những lời loan báo của Chúa Giêsu trong các diễn từ giã biết (15, 18- 16, 4). 

Còn thành ngữ "cửa đóng kín", chi tiết riêng của Gio-an  nhắm làm nổi bật tính chất siêu việt của việc Chúa Giêsu đến. Chỉ cần quan sát vị trí của thành ngữ trong câu văn thì rõ: nằm sau  mấy xác định thời gian và trước chi tiết mơ hồ về không gian.  Ngoài ra, nó còn xuất hiện lại trong câu 26, nhưng chẳng có lời giải thích "vì sợ người Do thái" đi kem. Bản văn bấy giờ chỉ nói: Chúa Giêsu đến, trong lúc các cửa đều đóng kín ". Trong tư tưởng của thánh sử, sự kiện này mặc khải phương thức hiện điện siêu nhiên của Chúa Giê-su phục sinh. 

Thành ngữ  “Chúa Giê-su đến" cũng là điểm riêng biệt của Tin Mừng thứ tư. Không có trong Luca (24, 38), nhưng nó thật quan trọng nơi Gioan, vì ông trình bày cuộc hiện ra như là việc Chúa  Kitô đến. Nơi câu 24, việc đến ấy tóm kết biến cố trong những gì là đặc trưng nhất. “Tôma không ở với họ khi Chúa Giêsu đến”. Thật là lạ lùng khi thành ngữ đó cũng tái xuất hiện trong 21, 13 để dẫn nhập vào cảnh bữa ăn trên bờ hồ: Chúa Giêsu ở đấy giữa các môn đồ, thế mà thánh sử vẫn viết: "Chúa Giêsu đến là cầm lấy bánh”. Thành ngữ xem ra thuộc về ngữ vựng Gioan dùng trong các trình thuật hiện ra. Như sẽ thấy sau này, có lẽ nó có một nguồn gốc phụng vụ.

“Và Người đứng giữa họ” : Trong việc tường thuật sự kiện này, Lc và Ga hầu như hoàn toàn trùng hợp với nhau. Bỗng nhiên, Chúa Giêsu ở đó, đứng giữa môn đồ Người. Luca nhấn mạnh nhiều hơn đến sự ngạc nhiên của mấy ông: "Họ đang nói ...” chính giữa lúc họ đang chuyện trò thì Chúa Giê-su có mặt. Còn với kỉeu nòi “Chúa Giê-su đến”, Gio-an lại lôi kéo và giữ sự chú ý trên con người của Chúa Ki-tô đã đến đang lúc “cừu đóng kín”.

“Người nói với họ: Bình an cho các con". Trong Tin Mừng thứ tư chủ đề bình an (elrênê) được liên kết, theo lối phản đề, với chủ đề sợ hãi (phobos) và chính chủ đề này, như đã bảo, lại được liên kết với chủ đề sự chống đối của thế gian cứng lòng tin. Chẳng

hạn trong các diễn từ giã biệt (14,27; 16,33). Bằng sự hiện diện của lệnh, Chúa Giêsu phục sinh đến đánh tan niềm xao xuyến gây ra nơi các môn đồ do việc Người ra đi, cuộc ra đi đã để họ 'mồ côi" (14,18tt) và đã bỏ mặc họ cho sự ghen ghét của thế gian (15.18tt). Trong viễn tượng ấy của Gioan, tiếng bình an mang một ý nghĩa rộng bằng ý nghĩa nó đã mặc trong các diễn từ của bữa Tiệc ly. 

“Nói thế rồi", Gioan viết tiếp. Như đã bảo trên kia, công thức chuyển tiếp này dẫn vào sự kiện trọng đại của trình thuật, sự kiện nối tiếp và làm hậu quả của những lời nói vừa được thốt ra. Chúa Giêsu vừa mới chúc bình an cho các môn đồ. Nói thế rồi và để dẫn chứng cho lời cầu chúc đó, Người cho họ xem tay và cạnh sườn Người.

Khác với Luca, Gioan chẳng nói rõ lý do lẫn ý nghĩa của cử chỉ Chúa Giêsu. Nơi Luca, cử chỉ này có mục đích đánh tan mọi nghi ngờ của các môn đồ liên can đến thực tại việc hiện ra. Giọng điệu có vẻ biện minh: “Hãy xem ... ma nào có thịt có xương" (Lc 24,39). Trình thuật Gioan trái lại có chiều hướng thần học : Chúa Giêsu làm một cử chỉ mặc khải. Người tỏ bày cho môn đồ xem tay và cạnh sườn mình, không phải để cất khỏi họ mọi lo sợ trở thành nạn nhân của một ảo tưởng, nhưng tích cực hơn là để họ, khi khám phá ra những dấu tích thương khó trên thân xác Người, “thấy” Người là "Chúa" (13, 13) và nhờ thế niềm vui của họ được trọn vẹn (x. 17,13).

Điều đó phù hợp với việc Gioan dùng động từ "tỏ bày" ở thể tác động, với chủ từ là Giêsu. Động từ ấy luôn mang ý nghĩa mặc khải. Như ngay từ đầu Tin mừng, Chúa Giêsu được người Do thái xin “tỏ một dấu chỉ" để biện minh việc Người đuổi những kẻ buôn bán ra khỏi Đền thờ. Bấy giờ Người đã tuyên bố rõ ràng là không tỏ dấu chỉ nào khác ngoài dấu chỉ thân xác phục sinh của Người, Đền thờ mới (2,18- 22 ; 5, 20 ; 10, 32 ; 14, 8tt).

Thật ra, cử chỉ Chúa Giêsu tỏ cho môn đồ xem tay và cạnh sườn Người mang một ý nghĩa phức tạp. Đónhư thể là Chúa Giêsu bảo với họ: "Hãy an tâm, chính Ta đây" (ego einti). Như trong cảnh đi trên biển (6,20) và trong Lc 24,39, Chúa Giêsu làm cho họ nhận biết Người. Các vết tích Khổ nạn xác nhận danh tánh, lai lịch Người. Nhưng, trong khi Luca nhấn mạnh đến thực tại thế lý của thân xác phục sinh, thì Gioan đặt nổi mối dây liên kết Đấng Phục sinh hôm nay và Đấng chịu đóng đinh hôm qua: cả hai cũng chỉ là một Chúa Giêsu.

Theo con mắt của Gioan, đấy là một sự kiện thần học tối quan trọng. Đối với ông, Cứu Chúa là con người Giêsu mà tay đã bị đinh xuyên thủng (c.25: Gioan là tác giả duy nhất đề cập đến dinh) và cạnh sườn đã bị lưỡi đòng của tên lính phanh ra (19, 34), là con người Giêsu đã đến nhờ nước cùng máu (1 Ga 5, 6), là Đấng đã chết và này đang sống đến muôn đời" (Kh 1, 18). Như  H. van den Bussche đã nói rất đúng: "Sự phục sinh đòi buộc phải có thập giá. Không thể phủ nhận, loại trừ thập giá như một cơn ác mộng ... Sự bình an (mà Chúa Giêsu đem đến cho các môn đồ vào chiều Phục sinh) tích hợp các dấu vết của cuộc Tử nạn" (Jean, DDB, 1967, tr.550).

Chủ ý liên kết Đấng Phục sinh và Đấng chịu đóng đinh của đồi Canvê đặc biệt tỏ rõ qua việc đề cập đến vết thương cạnh sườn. Cho tiết này là của riêng Gioan. Luca chỉ nói tới tay và chân Chúa Giêsu mà thôi. Điều đó dễ hiểu vì chỉ mình Gioan đã kể lại cảnh lưỡi đòng đâm thâu. Nhưng việc đề cập đến cạnh sườn mang lại cho biến cố, trong Tin Mừng thứ tư, một ý nghĩa vô cùng sâu xa. Người ta biết cảnh lưỡi đòng xuyên thủng cạnh sườn Chúa Giê-su có tầm mức biểu tượng và ý nghĩa thần học (19, 34- 37). Dưới con mắt của thánh sử, cảnh đó nói lên rằng Chúa Giêsu đã chết như Người Tôi tớ của thiên Chúa và như con chiên Vượt qua mới, bị sát tế để cứu rỗi thế gian. Chính Chúa Giêsu đã hiện ra trong tư cách ấy cho các môn đồ vào chiều phục sinh. Từ cạnh  sườn Con Chiên bị lưỡi đòng của tên lính phanh ra đã vọt ra máu và nước, biểu tượng của ơn Thần khí và của công cuộc cứu độ: Giáo Hội và các nhiệm tích (x.1Ga 5,7). Chính để thông ban các ân huệ đó mà Chúa Giêsu đến với các thuộc nhân của Người.

“Các môn đồ mừn.g rỡ vì được thấy Chúa”. Gioan Tẩy giả, đầu Tin Mừng, đãmừng rỡ khi nghe tiếng Tân Lang (3,29). Các môn đồ, chiều Phục sinh, mừng rỡ khi thấy Chúa. Đây không phải là một tri giác đơn thuần có tính cách thể lý và vật chất, cả trong trường hợp Gioan Tẩy giả, nhưng là một tri giác của đức tin (C Traets, voi Jésus ét le Père en lui, se lon lỊevangile se saint Jean, trong Analecta Gregoriana, 159, Roma, 1967, tr.83tt.189). Trình thuật tiếp theo (cc.24-29) cho thấy rõ điều đó. Kiểu nói “thấy Chúa", mà Maria Mađalêna đã dùng (c. 18) và các môn đồ lấy lại (c 25) dẫn tới tiếng kêu của Tôma: “Lạy Chúa tôi và là Thiên Chúa của tôi", tiếng kêu bị Chúa Giêsu bình phẩm trong môt bài giáo huấn về đức tin.

Niềm vui của các môn đồ đặt cơ sở trên niềm tin vào sự hiện diện của Chúa (13, 13) đang sống, vị Chúa được nhận biết như là Đấng chịu đóng đinh hôm qua: Nơi Luca, niềm vui vỡ bờ này quá đường đột đến nỗi đã cản ngăn, một cách nghịch lý, việc biểu lộ niềm tin (24, 41). Nơi Gioan thì tất cả xem ra được gạn lọc: Chẳng có sự ngập ngừng nào được đề cập. Trong lòng các môn đồ dâng cao sự bình an và niềm vui phục sinh, dấu chỉ đã vượt thắng nỗi ô nhục và phần đầu của tnnh thuật đã kết thúc chính nơi việc chiêm ngưỡng Chúa Phục sinh ấy.

3. SAI ĐI TRUYỀN GIÁO VÀ BAN THÁNH THẦN (cc. 21 -23)

“Một lần nữa, Chúa Giê-su nói với họ: Bình an cho các con”. Như đã ghi nhận ở trên, công thức hành văn chuyển mạch này có thể là dấu hiệu chuyển sang một trình thuật có nguồn gốc khác. Để mô tả cảnh mới này. Gioan phải tách biệt với Luca nhiều hơn trong cảnh trước. Ngoài ra, không hiểu tại sao Chúa Giêsu lặp lại lời chào bình an cho các con trong khi người đã chẳng nói một lời nào khác và về phía các môn đồ thì đã chẳng có một phản ứng nào được ghi nhận, ngoại trừ cái niềm vui được thấy Chúa.

Công thức sai đi truyền giáo. “Như Cha đã sai Ta, Ta cũng sai các con" là nét độc đáo của Gioan, xét về kết cấu văn phạm, ngữ vựng lẫn viền tượng thần học. Việc trình bày Chúa Giêsu như là dâng được Cha sai " là trung tâm điểm nền Kitô học của thánh Gioan. Hơn nữa, kiểu song đối giữa hành động Chúa Cha đối với Chúa Giê-su và hành động của Chúa Giêsu đối với môn đồ, được diễn tả qua thành ngữ : “ Như Cha…Ta cũng ...” đã trở đi trở lại nhiều lần trong Tin Mừng thứ 4 :  như Chúa Giêsu sống nhờ Cha, Đấng đã sai Người, thì kẻ ăn Ngươi cũng sống nhờ Người (6, 57) ; như Cha biết Người và Người biết Cha, thì người cũng biết chiên người và chiên người biết người (10,15) ; như Cha đã yêu mến người., Người cũng đã yêu môn các thuộc nhân (15,9). Kiểu nói sai đi truyền giáo của 20, 21 đã gặp hầu như nguyên văn trong lời nguyện tương tế: “Như  Cha đã sai Con đến trong thế gian, thì Con cũng sai chúng đến trong thế gian” (17,18). Gioan đã rất nhiều lần nhấn mạnh đến lầm mức của lối song đối này. Nó ám chỉ nhiều hơn một loại suy. Chúa Giêsu không những so sánh hai thực tại, Người còn cho các môn .đồ được tham dự vào sự sống người đã nhận từ  Cha, vào mối dây hiểu biết hỗ tương nối kết Người với Cha vào tình yêu của Cha đối với Người, vào sứ mệnh Người đã lãnh nhận từ Cha.

Ở đây Chúa Giêsu không chỉ rõ đích điểm lẫn đối tượng của sử mệnh. Động từ "sai phái" được dùng trong, chẳng có túc từ. Nhưng bản văn lời nguyện thượng tế giữa bao bản văn khác, nói rõ rằng thế gian là đích điểm của sứ mệnh đó. Chính trong thế gian mà, như Chúa Giêsu, các môn đồ được sai vào.

Còn về đối tượng của sứ mệnh, nhiều bản văn Gioan cũng cho phép ta xác định được. Như Chúa Giêsu, các môn đồ phải chu toàn thánh ý Chúa Cha và tiếp tục công việc mà Chúa Cha đã trao phó trong tay Người (3,35; 5,20; 6,38-40; 13,3; 17,2-4), nghĩa là kế đồ cứu rỗi của Ngài đối với nhân loại. Họ phải đưa kế đồ đó đến đích điểm (4, 34-38). Như Chúa Giêsu, lương thực của họ là làm theo thánh ý Chúa Cha (4,34). Vậy là một giai đoạn mới mở ra trong lịch sử cứu rỗi, trong đó công trình của Chúa Giêsu được tiếp tục trong các c”ông việc còn lớn lao hơn" (14, 12) của môn đồ Người. 

Sự đồng nhất giữa sứ mệnh các môn đồ và sứ mệnh Chúa Kitô phải hiểu theo nghĩa chặt. Sứ mệnh của môn đồ là sứ mệnh được tiếp tục của Chúa Giêsu. Vì, như F.Godet đã nói rất đúng, thật ra chỉ có một sứ mệnh từ trời xuống trần gian, là sứ mệnh của Chúa Giêsu ... Sứ mệnh của các môn đồ được bao hàm trong sứ mệnh của Ngươi và kết thúc việc thực hiện sứ mệnh đó cho trần gian (commentairt de l'evangile ae sa.int J. III, Neuchàlel, 1885, tr. 643tt).

Sự hiện diện và lời nói của Chúa Giêsu phục sinh ngay lúc đầu sứ mệnh của Giáo Hội là một ý tướng chung cho cả 4 Tin Mừng. Dầu sao, khi liên kết chặt chẽ sứ mệnh của môn dỗ vào sứ mệnh của Con Thiên Chúa thì Tin Mừng Gioan đã mang lại cho ý tưởng trần chiều sâu đích thực của nó. Do mối dây nối kết sứ mệnh của các môn đồ với công cuộc Nhập thể, tất cả đều đi lên cùng Chúa Cha, Đấng “đã sai Con Ngài đến trong thế gian ... để thế gian nhờ Người mà được cứu rỗi” (3,17; 8,26; 12, 49tt).

Sứ điệp của các môn đồ cũng không kém quy hướng về  Chúa Kitô. Chúa Giêsu là đối tượng thực liếp của sứ điệp họ (20, 30tt ; 1 Ga 1, 1 tt). Như Chúa Giêsu đã mặc khải Cha, Đấng sai người (17,6.26) thì các môn đồ cũng sẽ phải rao truyền cho thế gian Chúa Giêsu phục sinh đó, Đấng đã từ bỏ thế gian mà về cùng Chúa Cha (13, 1) và đã sai chính ho. Họ sẽ lấy la i sứ điệp đã được ủy cho Maria Mađalêna. “Hãy đi gặp anh em Ta và bảo với họ : Ta lên cùng Cha Ta và cũng là Cha các con, Thiên Chúa của Ta và cũng là Thiên Chúa của các con” (20, 17). Sứ điệp phục sinh này được tóm kết trong công thức ngắn gọn: “Chúng tôi đã thấy Chúa” (20, 18.25 ; X. 1 Cl 9, 1).

Một cử chỉ của Chúa Giêsu kết thúc việc mạc khải chiều kích ba ngôi của sứ mệnh : “Nói thế rồi, Người thổi hơi” trên các môn đồ. Như đã lưu ý trên kia, dụng ngữ “nói thế rồi” dẫn vào một biến cố trọng đại như là một hậu quả và một sự soi sáng cho những lời trước đó… cử chỉ thổi hơi cắt nghĩa và củng cố lời sai phái thi hành sứ mệnh. Hơn nữa, chính Chúa Giêsu còn chú giải hành vi của mình bằng cách nói kèm theo: “Hãy nhận lãnh Thánh Thần".

Thiết tưởng cần lưu ý đến động từ Gioan dùng để chỉ việc thông truyền Thánh Thần cho môn đồ (emphusân: thổi). Người ta không bắt gặp động từ này nơi nào khác trong Tân ước và nó cũng xuất hiện đột ngột trong Tin Mừng thứ tư. Thường người ta bảo Thần khí được ban cho, được gởi đến hay là được tuôn tràn chứ không bao giờ được thổi. Chính trong Cựu ước, chữ này cũng hiếm hoi ... Nó xuất hiện trong St 2,7 để chỉ việc thổi sinh khí vào mũi con người trong ngày sáng tạo; nó cũng xuất hiện trong Kn 15,11 nhưng lần này được hên kết với "thần khí". Nơi Edêkien 37, 9. Được nối kết cũng với thần khí, từ ngữ lại dùng để mô tả việc hồi sinh các bộ xương khô, hình ảnh. của việc phục hưng Israel vào cuối bao cuộc thử thách. Việc ám chỉ đến một hành động sáng tạo được ngụ ý do việc Kinh Thánh dùng động từ này, có thể có trong Gioan 20,12 lắm. Cử chỉ của Chúa Giêsu là dấu hiệu của một cuộc sáng tạo mới. Nhờ sức mạnh của Thánh Thần phát xuất từ Chúa Kitô phục sinh, một thế giới mới bất đầu; Israel mới được khai mạc nhờ sứ mệnh của các môn đồ trong thế gian. Đó là ý nghĩa kín đáo, nằm đầu trình thuật, của kiểu nói “ngày thứ nhất trong tuần" ; ngày này là dấu báo hiệu một thời đại mới (x.20, 1), báo hiệu sự tách biệt của các môn đồ đối với thế giới Do thái.

Cần phải nhấn mạnh dạn mối liên lạc chặt chẽ giữa việc ban Thánh Thần và sứ mệnh truyền giáo. Thật vậy, sứ mệnh này giả thiết đã có một cuộc biến đổi tận căn trong các môn đồ, một cuộc biến đổi nâng họ lên tầm vóc 'công việc siêu phàm mà Chúa Giêsu trao cho họ. Chỉ mình Thánh Thần mới có khả năng thực hiện cuộc sáng tạo mới ấy. Do tác động của Ngài, các môn đồ được thánh hiến cho sứ mệnh, như Chúa Giêsu đã được thánh hiến và được sai đến trong thế gian" (10, 3. 6 ; x 1, 33 ; 17, 17- 19).

Mối tương quan giữa Thánh Thần và sứ mệnh này đã được nói đến từ đầu Tin Mừng thứ tư. Trong 3,34, Gioan nói về Chúa Giêsu như sau: “Kẻ Thiên Chúa đã sai, thì nói được lời của Thiên Chúa, vì Ngài (Thiên Chúa? hay Đấng Thiên Chúa sai?) ban thần khí không theo lường hạn”. Cho dù chủ từ của mệnh dề sau là ai, thì vẫn có một sợi dây liên tục nối kết Thiên Chúa Đấng sai phái, Chúa Kitô Kẻ được sai nói lời Thiên Chúa, ơn Thần khí và đức tin cùng sự sống đời đời (trong những câu tiếp sau: 3, 36). Chính trong sự kết hiệp mật thiết với Thần khí được ban vô lường hạn mà lời của Đấng được sai làm chớm nở đức tin, đức tin ban sự sống đời đời. Được tái lạo và thúc đẩy bởi cũng Thần khí đó, các môn đồ Chúa Kitô trở nên đủ khả năng truyền thông, đến lượt họ, những lời đưa dẫn con người đến sự sống (20, 31) bởi vì những lời ấy cũng là "thần khí pà sự sống (6,63).

Trình thuật kết thúc bàng việc ban quyền tha tội cho các môn đồ: "Các con tha tội cho ai, thì tội họ được tha. Các con cầm giữ tội ai, thì tội họ bỉ cầm giữ' . Việc Chúa Giêsu dành quyền tha tội này đã gây đụng độ sâu xa với các ký lục Do thái (Mc 2,5-7) Nay Người ban quyền đó cho các môn đồ không hạn chế. Người trao phó cho sự thận trọng của họ. Chính họ sẽ là quan án.

Không nên giới hạn quyền các môn đồ vào chức vụ khuyên bảo người ta trở lại bằng cách loan báo cho họ ơn cứu rỗi trong Chúa Giêsu Kitô. Các môn đồ nhận được quyền năng tha thứ tội lỗi cho hối nhân. Họ cũng nhận được quyền cầm giữ tội, nghĩa là quyền đọc trên bất hối nhân lời phán quyết tuyên bố đương sự còn đang bị tách rời khỏi sự hiệp thông với Thiên Chúa và anh em cho tới khi cải thiện đời sống (x. 1Ga 1, 3 .6- 10 ; 5, 16). Đó là một quyền có tính chất cộng đoàn, tính chất Giáo Hội, ban uy thế và sức mạnh, không chỉ để thừa nhận vào phép thánh tẩy, mà còn để thứ tha hay cầm giữ những lỗi phạm giữa lòng cộng đoàn của các môn đồ. 

Nếu đặt lại trong văn mạch của Gioan, thì đó là quyền hướng dẫn đến nguyên sống những ai đã đư~ thanh tẩy khỏi những lỗi lầm, hầu nhờ việc hiệp nhất với Cây Nho đích thực, họ tạo thành một dân thánh của Thiên Chúa trong đức tin và đức ái (15, 1- 17). Như thế, qua sứ mệnh của các môn đồ, thế gian sẽ nhận ra sứ mạng của Người Con được Cha sai đến (17, 19- 21).

Có nên nối kết một cách trực tiếp, hơn thế nữa một cách độc hữu, hành động của Thánh Thần được ban cho các môn đồ với công việc xóa tội này chăng'? Xét cho thật kỹ thì bản văn Tin Mừng không cho phép điều đó, vì việc ban Thần khí được liên kết một cách trực tiếp với chuyện sai phái thí hành sứ mạng. Các môn đồ được Thần khí tái tạo với mục đích nối dài chính sứ mệnh của Chúa Giêsu trong toàn thể của nó. Thần khí không được trực tiếp mô tả như là tác giả của việc thanh luyện, nhưng như là nguyên lý sáng tạo của sứ mệnh.

Tuy nhiên, trong sứ mệnh của họ, có một nét được xác định mà ta phải cho . là quan trọng: đó là quyền tiêu diệt tội lỗi. Nét đó càng quan trọng hơn nữa vì Tin mừng Gioan đã mở đầu với việc mặc khải Chúa Kitô như là "Chiên Thiên Chua khử trừ tội thế gian" (1, 29) và là “Đấng thanh tẩy trong Thánh Thần" (1, 33). Không phải vô lý mà người ta đã coi đây là một lối "đóng khung" rộng lớn của ngôn ngữ sêmita, lối đóng khung ôm trọn cả Tin Mừng thứ tư và xác định một trong những khía cạnh nổi bật của nó.

4. TỔNG HỢP

Với một ngôn ngữ in dấu thần học Gioan, trình thuật này cho thấy rõ cộng đoàn Kitô giáo nguyên khởi đã ý thức mình là cộng đoàn của Chúa Kitô phục sinh, là sự nối dài của Người trong thế gian, là "thân thể Người", sống nhờ người như thánh Phaolô bảo, là sáng tạo bền vững. của Thần khí Người; và ý thức đó được đặt nền tảng trên kinh nghiệm phục sinh của các sứ đồ: “Chúng tôi đã thấy Chúa" (20,25). Thật vậy, chính từ việc tỏ mình của Chúa Kitô phục sinh cho các sứ đồ đã phát xuất ra toàn thể niềm tin của Giáo Hội vào sứ mệnh riêng biệt của mình trong trần gian và vào sự hiện diện năng động vô biên của Thánh Thần trong Giáo Hội.

1. Phục sinh và Hiện xuống.

Từ xa xưa, người ta đã đặt vấn đề về mối tương quan giữa trình thuật Gioan 20 và trình thuật của Luca trong chương 2 Công vụ sứ đồ: Việc ban Thánh Thần cho các môn đồ chiều ngày Phục sinh có đồng hóa với việc ban Thánh Thần trong ngày Hiện xuống không? Nếu không, thì hai biến cố khác biệt nhau ở chỗ nào? Nhiều nhà chú giải nghĩ rằng Gioan đã đưa biến cố Hiện xuống ra trước thời hạn, khi nối kết việc ban Thánh Thần với cuộc hiện ra của Chúa Kitô phục sinh vào chiều ngày sống lại; có lẽ ông muốn phô diễn "toàn thể tính của mầu nhiệm Phục sinh" trong củng một cảnh duy nhất. Bởi đó mà người ta có nói đến một cuộc "Hiện xuống theo Gioan" (pentecôte johannique) (Archimandrite Cassien, La Pentecôte johannique (Jn 20,19-23), Paris, 1939). Ngược lại những kẻ khác chủ trương phải phân biệt hai biến cố trên (Như P.H.Menoud, La Pentecôte lucanienne et LIhistoire, tron... Rev dihist. et de phin. relig. 42. 1962) tr. 146tt).

Về vấn đề này, có một điểm nên lưu ý. Đó là thánh Luca không đợi đến bình thuật Hiện xuống mới liên kết việc tuyển chọn các môn đồ với Thánh Thần. Ngay từ đầu sách Công vụ, ông đã gọi họ là những kẻ mà Chúa Giêsu "đã chọn dưới tác động của Thánh Thần" (Cv 1 ,2).

Giải pháp của vấn đề một phần tùy thuộc vào mối tương quan mà người ta có thiết lập hay không giữa cuộc hiện ra cho các môn đồ và những lời Chúa Giêsu nói với Maria Mađalêna. Các giáo phụ đã tự hỏi chẳng biết cuộc hiện ra ấy có giả thiết là Chúa Giêsu đã hoàn toàn lên cùng Chúa Cha hay không, việc đi lên mà Người đã mặc khải cho Maria Mađalêna vào sáng cùng ngày với nhường lời như sau: “Hãy đi gặp anh em Ta và bảo họ: Ta lên cùng Cha Ta ...”. Nếu quả thật là có thì trong tư tường của thánh sử, cái ông Giêsu đã hiện ra cho các môn đồ không những là chúa Giêsu phục sinh, hiện sống, mà còn là Chúa Giêsu "đã về cùng Cha" và nay đến thực hiện những lời hứa trong diễn từ giã biệt cùng mang lại cho các môn đồ những của đã tiên báo: bình an và niềm vui (x 14,3.18tt; 16,16), sứ mệnh (x.17,18), Thần khí (x.15,26; 16,7).

Có nhiều lý do xác đáng khiến ta nghĩ ráng dưới nhãn quan của thánh sử, trạng huống vẫn là một tràng lần hiện ra cho các môn đồ vào chiều Phục sinh và “tám ngày sau đó” (20, 19.26) cũng như trong lần hiện ra với mang Mađalêna sáng Phục sinh: Chúa Giêsu mà người ta thấy và đụng chạm được (20, 17. 20. 27) Cũng chính là Chúa Giêsu "chưa lên cùng Cha” (20, 17) của lần gặp gỡ với Maria. Còn về chuyện ban Thần khí, không nên đồng hóa nó với việc Thần khí ngự đến đã được loan báo trong diễn từ giã biệt việc này chỉ xảy tới khi Chúa Giêsu đã “ra đi" (16;7), đã lên cùng Chúa Cha (15, 26), vượt ra khỏi tầm tay của giác quan hay với biến cố Hiện xuống là biến cố cũng chỉ xảy ra khi Chúa Giêsu đã biến đi trong đám mây thần linh, lên "trời" và “ngự bên hữu Thiên Chúa" (Cv 1, 9-11 ; 2, 33- 35) cho đến ngày trở lại vào cuối thời gian.

Điều đó không cố ý nói là Chúa Kitô phục sinh, Đấng hiện ra cho các môn đồ, còn đang ở trong tồn tục thời gian và Người cần phải có thời gian để lên với Chúa Cha cùng ngự bên hữu Ngài. Khi tắt thở là Chúa Kitô đã qua bên kia thời gian rồi. Về cái chuyện bên kia thời gian đó, chúng ta không thể nói tới được chúng ta chỉ biết rằng Thánh Kinh, để dạy chúng ta, có phân biệt các giai đoạn và như là một nhiệm cục tiệm tiến trong việc mặc khải về mầu nhiệm sự tôn vinh Chúa Kitô. Cảnh ngày Phục sinh với cuộc hiện ra tám ngày sau tượng trưng, trong Tin Mừng Gioan, giai đoạn cuối cùng của mặc khải tiệm tiến này: cảnh đó là sự tỏ hiện hữu hình sau cùng của Chúa Kitô đang lên cùng Cha (20, 17) ; hiệp nhất với Cha, Người sẽ sai" (l5,26) Thánh Thần Bàu chữa đã hứa trong bữa Tiệc ly (14, 26 ; 16, 7- 14).

Thành thử, nói cho đúng cảnh hôm nay không dựng trước cuộc Hiện xuống, cũng chẳng tăng đôi biến cố này; nó mở đầu cho cuộc Hiện xuống trong mức độ biến cố này đi vào nhãn giới của Gioan, cũng như mở đầu cho cả đời sống Giáo Hội mà nó liên kết với nguyên lý là Chúa Kitô tử nạn và phục sinh. Nó bảo đảm việc thực hiện những lời hứa trong bữa Tiệc ly. “Lên cùng Cha", Chúa Gỉêsu phục sinh sẽ trở lại với thuộc nhân Người (14, 18tt) ; Người "sẽ tỏ mình" ra cho họ (14, 21- 23); Đấng Bầu chữa (cũng) sẽ dẫn ... là Thần khí sự thật, Ngài sẽ dẫn dắt (họ) vào tất cả sự thật (16, 7tt. 13 - 15). Với kỳ của những cuộc hiện ra phục sinh tiên trưng, sửa soạn và đặt nền móng cho tương lai ấy, cái tương lai sẽ là thời gian riêng của Giáo Hội và của Thánh Thần. 

Sự phân biệt như vừa nói giữa cảnh chiều Phục sinh và cuộc Hiện xuống không phải là không quan trọng. Nó làm nổi bật sự kiện căn bản này là: sự đổi hướng thiêng liêng, từ đó phát minh cộng đoàn Kitô hữu, bắt nguồn từ chính Chúa Giêsu phục sinh: Cộng đoàn sơ khai đã không gán sự đổi hướng ấy một cách đơn thuần cho việc tuôn tràn Thần khí trong ngày Hiện xuống. Họ cũng không tự coi mình như bắt nguồn từ một biến cố hoàn toàn của Thần khí; nhưng họ biết rằng mình là tác phẩm cá nhân của Chúa Giêsu phục sinh, Đấng đã hiện ra với môn đồ người để truyền thông cho họ sứ mệnh Người và thổi Thần khí của Người vào trong họ. Cộng đoàn Kitô hữu đã ý thức mình trước tiên là cộng đoàn phục sinh, điều kiện cần thiết để trở nên cộng đoàn hiện xuống. Lc cũng nói lo điều đó trong tín mừng (24,48) và trong Cv 1, 1tt. 

Tuy thế, viễn tượng của Gioan và của Luca khác nhau xa vời Luca liên kết việc ban Thần khí vào việc Chúa Giêsu ngự trị vinh hiển bên hữu Chúa Cha (Cv 2,33). Còn trong tư tưởng Gioan, việc ban Thần khí chiều ngày Phục sinh chỉ hiểu được trong sự nối dài thảm cảnh Canvê, thảm cảnh mà nó liên kết làm một. Cử chỉ Chúa Giêsu bày tỏ vết thương cạnh sườn cho môn đồ hiển nhiên ám chỉ điều đó. Trong hơi thở cuối cùng (pneuma) của Chúa Giêsu trên thập giá cũng như trong nước và máu chảy ra từ cạnh sườn Người sau khi chết Gioan đã nhận ra một dấu chỉ nhân tính của Chúa Kitô, hy tế đẫm máu của người và xác thịt bị đóng đinh của Người được mặc khải cho ông như là nguồn cứu độ, từ đó Giáo Hội phát sinh để tăng triển trong ơn Thần khí Cuộc hiện ra chiều ngày Phục sinh chỉ lấy lại việc mặc khải ấy, và chiếu soi nó với một ánh sáng mới mẻ và dứt khoát. Cuộc hiện ra đó tiêu biểu, bên kia cái chết, bộ mặt khác của cùng .một sự thật sau đây: sự thật về giời của Chúa Giêsu (12,23 ; 13, 1 .32; 17, 1).

2. Khía cạnh Phụng vụ.

Cần lưu ý một nét cuối cùng. Đó là khía cạnh phụng vụ phục sinh và thánh thể, khía cạnh đặc trưng tênh thuật Gioan.

Các môn đồ tụ họp nhau vào buổi chiều ngày thứ nhất trong tuần, các cửa đều đóng, kín. Chúa Giêsu đến. Người xuất hiện, mang đầy dấu tích của cuộc Khổ nạn. Người chào bình an với các môn đồ. Niềm vui ngập tràn lòng họ. Chúa Giêsu làm trên họ một cử chỉ nghi lễ là thổi hơi để thông ban cho họ Thần khí cùng với quyền tha tội cho anh em. Trong những nét tô điểm trình thuật Gioan này, có nhiều nét chả có trong Lưca (Lc 24,36-49). Có thể cất nghĩa chúng như là phát xuất từ một nguồn g.ốc phụng vụ phục sinh.

“Ngày thứ nhất trong tuần", như ta biết, đã sớm trở thành ngày hội họp của Kitô hữu (Cv 20,7; 1Cr 16,2). Buổi canh thức ban đêm, khung cảnh tuyệt vời cho việc cử hành lễ Vượt qua, cũng là khung cảnh của cuộc hội họp phụng tự của Kitô hữu. Người Do thái đã liên kết sự trông chờ Đấng Messia đến với đêm vượt qua. Theo chứng từ của thánh Hiêrônimô, thì các Kitô hữu đã thừa hưởng từ các sứ đồ truyền thống này. Ngài viết: "Theo một truyền thống Do thái thì Chúa Kitô sẽ ngự đến vào nửa đêm, theo hình ảnh của việc cử hành lễ Vượt qua tại Ai cập ... Chính vì lý do này mà vào đêm canh thức Phục sinh, người ta' đã duy trì truyền thống của các sứ đồ, là không để tín hữu trông đợi Chúa Kitô đến ra về trước nửa đêm" (Comm. in Ev.Matth. IV, 25 trong PL 26, 192).

Ta biết trong cử hành mầu'nhiệm tạ ơn của Kitô giáo, chủ đề Chúa đến đã có một chỗ đứng đặc biệt. Lời cầu nguyện Maranatha (1Cr 22; x.Kh 22,20; Didaché 10,6) công bố việc ấy vừa được thực hiện trong cử hành vừa được mong chờ cách mãnh liệt. Khi trình bày cuộc hiện ra của Chúa Giêsu phục sinh như là một việc Chúa “đến" (20, 19. 24. 26 ; 21, 13) các trình thuật Gioan có thể là phản ảnh quan niệm phụng vụ trên.

Vết thương cạnh sườn, thấy được trên thân xác Đấng Phục sinh, gợi nhớ Con chiên, hy lễ của hy tế Vượt qua, mà người ta “đã chẳng bẽ gãy một xương nào" (19, 36 ; x. Xh 12,46 ; Ds 9, 12 ; Kh 5, 6). "Cửa đóng kín cũng có thể nhắc lại lễ Vượt qua mà người Do thái cử hành sau những khung cửa ghi dấu máu chiên (Xh 12, 22). Ngay cả nỗi sợ hãi người Do thái của các môn đồ cũng mặc cho cảnh này nét bi thương và đặc trưng đêm vượt qua như là đêm giải phóng. Rồi lời chúc bình an, niềm vui và sự sáng tạo mới trong quyền năng của Thánh Thần, đến lượt chúng cũng đi vào trong cùng khung cảnh.

Tất cả những điều vừa nói cho thấy trong hậu cảnh của trình thuật gian cũng như của trình thuật hai môn đồ Emmau (Lc 24, 13-25) có sự hiện diện của cừ hành Thánh Thể Kitô giáo. Việc hiện ra của Đấng Sống lại, vào chiều Phục sinh, được xem như là khuôn mẫu của cử hành này. Vì quả thật cử hành Thánh Thể là hiện tại hóa sự kiện đó cho đức tin. 

Lần hiện ra với sự có mặt của Tôma (20,24-29) có lẽ nên đặt trong cùng một viễn tượng. Chi tiết “tám ngày sau” (20, 26) bấy giờ sẽ nói lên sự duy nhất giữa buổi hội họp phụng vụ Kitô giáo và việc Chúa Giêsu “đến" chiều ngày phục sinh. Cứ mỗi lần cử hành thì biến cố Phục sinh được tái diễn. chúa Kitô phục sinh “đến” mang tới cho tín hữu Người những ơn huệ như chiều sống lại: niềm vui thấy Người hiện diện, sự bằng an ; ơn tha tội, quyền năng của Thần khí người, để họ có thể tiếp tục sứ mệnh của Người trên thế gian. Vì thế Chúa Giêsu tuyên bố là có phúc cho những tín hữu nào, dù không thấy dấu đinh trên tay lẫn vết thương cạnh sườn Người, vẫn tin vào sự Phục sinh của Người dựa trên niềm tin của những kẻ đã chứng kiến người đến vào chiều phục sinh, vẫn cùng với Tôma và toàn thể anh em thừa nhận Người là “Chúa và là Thiên Chúa" của họ (20, 28tt). 

(Bài của Donatien Mollat, Assembléesĩ du Seigneur 30, tr.42-56.)

Ý HƯỚNG BÀI GIẢNG

1. Ý chính rút từ các bài đọc: Được Thánh Thần dẫn đến hiệp nhất. Bài đọc 1 trích từ Cv là trình thuật lịch sử về cuộc Hiện Xuống. Trình thuật này vừa nhắc đến sinh: gió, tiếng động, lửa, vừa nhắc đến biến cố Babel, nơi loài người chia rẽ nhau và phân tán. Nhờ các sứ đồ, Thánh Thần bắt đầu sự nghiệp hiệp nhất: Ngài ban cho con ngươi thuộc mọi văn hóa, chủng tộc? khả năng hiểu nhau trong Chúa Kitô.

Bài đọc 2, trích thư thánh Phaolô gởi giáo hữu Côrintô, là một suy tư của lần hữu Phaolô về hành động của Thánh Thần trong Kitô hữu: "Không ai có thể nói: Giêsu là Chúa, mà lại không phải bởi sức Thánh Thần". Hình ảnh thân thể diễn tả đúng sự hiệp nhất trong sự đa phức các chức vụ: Thánh Thần là nguyên lý hiệp nhất đó. "Tất cả chúng ta làm thành một thân thể duy nhất trong Thánh Thần".

Trong bài Tin Mừng, thánh Gioan ghi lại cách Chúa Giêsu Phục sinh lần đầu tiên hiện ra cho các môn đồ. Chúa Giê-su bị cho các môn đồ quen một hình thức hiện diện mới: từ đây Người sẽ không hiện diện hữu hình một cách thể lý nữa, nhưng “một khi ra đi" Người sẽ hành động trong họ: chính đó là công việc của Thánh Thần. Và chúng ta đã biết sức mạnh nào, động lực nào đã thúc đẩy các sứ đồ Phúc âm hóa thế giới; từ đây chính Thánh Thần của Chúa Giêsu sống trong Giáo Hội và thực hiện sự hiệp nhất Giáo Hội quanh Chúa Kitô.

2. Hãy khám phá trong đời mình hành động của Thánh Thần. Đi từ đặc điểm hiệp nhất này, hãy khám phá công việc mà Thánh Thần đã thực hiện, và hãy nói lên những phần chưa hiệp nhất mà Thánh Thần còn phải thực hiện. Trong đời tôi, tôi có thể nhận ra sự hiện diện của Thánh Thần ở đâu? Ngài là lửa, là nước hằng sống, là sự hiệp thông, là ơn Chúa . . . Ta cũng có thể tìm kiếm sự hiện diện của Thánh Thần qua các hoa quả của Ngài: ơn huệ của Thánh Thần là niềm vui, bình an, tình yêu . . . "

3. Sự hiện diện của Thánh Thần trong phép Thánh Thể. Ngay trước lúc truyền phép, linh mục xin Chúa Thánh Thần thánh hóa các của lễ được dâng tiến: "Chúng con nài xin Chúa dùng ơn Thánh Thần Chúa thánh hóa lễ vật này ..." (Kinh nguyện Thánh Thể II) Khi đọc các lời đó, linh mục đồng thời đặt tay trên lễ vật. cử chỉ này tượng trưng việc Thánh Thần chiếm hữu các hiện vật đó. Qua cử chỉ và lời nói trên, linh mục cũng mời gọi ta nhận ra hành động nhiệm mầu của Thánh Thần trong phép Thánh Thể và trong đời ta. Chính nhờ Thánh Thần mà ta nhận biết Mình và Máu Chúa Kitô hiện diện trên bàn thờ, chính .nhờ Thánh Thần mà ta có thể tuyên xưng Chúa Giêsu trong cuộc đời ta. Mọi việc hiệp lễ đều là công việc của Thánh Thần; Chúa Kitô đến trong ta để ban cho ta Thánh Thần của Người, Đấng đã làm cho Người sống và cũng làm cho chúng ta sống.

01 bac ai copy 1

Tác giả bài viết: Giáo hoàng Học viện Pio X Đà Lạt

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Đăng ký nhận bản tin
Nhập email để nhận được những tin tức mới nhất từ chúng tôi.
Thống kê truy cập
  • Đang truy cập24
  • Máy chủ tìm kiếm14
  • Khách viếng thăm10
  • Hôm nay11,324
  • Tháng hiện tại386,175
  • Tổng lượt truy cập7,357,462
Đánh giá website

Quý vị đánh giá website GPLS thế nào?

Thư ĐTGM. Marek
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây