Các trình thuật về cuộc khổ nạn – Chúa Nhật Lễ Lá – Năm A

Thứ bảy - 04/04/2020 01:04 120 0
Chúa Kitô chịu đau khổ vì vâng phục Chúa Cha. Người tình nguyện hiến thân chịu chết như thế, cái chết này là một hy lễ được hoàn tất, được thánh hiến và sinh hoa kết quả nhờ cuộc sống lại là công trình của Chúa Cha; công trình này chứng tỏ Chúa Cha đã vui nhận hy lễ chính Con Ngài hiến dâng.
Các trình thuật về cuộc khổ nạn – Chúa Nhật Lễ Lá – Năm A

CÁC TRÌNH THUẬT VỀ CUỘC KHỔ NẠN
CHÚA NHẬT LỄ LÁ (BÀI THƯƠNG KHÓ)
Mt 26, 14 - 27, 66

CÂU HỎI GỢI Ý

1. Các bài tường thuật cuộc Khổ nạn có cùng một văn thể với các bài tường thuật biến cố phục sinh không?

2. Phải giải quyết cách nào vấn đề thời biểu lễ Vượt qua và bữa tiệc ly theo Tin Mừng Nhất lãm và theo Tin Mừng Gioan?

3. Tại sao thánh Gioan không tường thuật việc lập phép Thánh Thể?

4. Những lời khấn nguyện thống thiết của Chúa Giêsu trong vườn Ghetsêmani, Gioan đã chuyển vào chỗ nào, cảnh nào?

5. Tai sao Luca nói đến kẻ “trộm lành" trong khi các thánh sử kia chẳng hề đề cập tới?

6. Khi thốt lên câu "Lạy Thiên Chúa tôi. Lạy Thiên Chúa tôi, sao Ngài bỏ tôi" (Mt 27,46; Mc 15, 34): phải chăng Chúa Giêsu tưởng mình bị Cha ruồng bỏ?

7. Phải hiểu ra sao những điềm lạ bên cạnh cái chết của Chúa Giêsu mà ta thấy trong Tin Mừng Nhất lãm?

NHỮNG NHẬN XÉT TỔNG QUÁT

Cách chung mọi người đều công nhận bốn thánh sử đã dựa theo một trình thuật được thành hình từ rất sớm để soạn thảo những bài tường thuật dài và phức tạp về cuộc Khổ nạn. Quả thực, đây là đề tài chính yếu trong những lời rao giảng tiên khởi của Kitô giáo, khác hẳn các trình thuật về những giai đoạn khác trong cuộc đời Chúa Giêsu. Không như những phần khác của Tin mừng, ở đây ta nhận thấy một sự đồng quy với các bản văn khác của Tân ước, vì trong đó, đã có những yếu tố chính của trình thuật Khổ nạn: 1 Cr 11, 25- 26 ; 15, 1- 7 ; 1Pr 2, 21- 22 ; 3, 18- 22 và nhất là những diễn từ đầu tiên (kêrygma) của các sứ đồ trong Công vụ sứ đồ.

Theo lối sóng đôi khá cân đối, bốn Tin Mừng ghi lại những biến cố theo cùng một diễn tiến: Tiệc ly; cầu nguyện ở Ghetsêmani; bị bắt; xử án trước Công nghị; Philatô tuyên án; đóng đinh và chết. Thường ai cũng nghĩ rằng diễn tiến này sẽ kết thúc bằng một trình thuật về những lần hiện ra của Đấng Phục sinh. Đúng thế, trong những bài giảng đầu tiên, các sứ đồ không bao giờ tách rời hai bình diện của mầu nhiệm Vượt qua. Nhưng, như chúng ta sẽ thấy sau này các bài tường thuật biến cố phục sinh có một văn thể khác hẳn các bài tường thuật cuộc Khổ nạn, và có những dị biệt khá quan trọng giữa bốn thánh sử.

Giữa bốn bài tường thuật cuộc Khổ nạn, trong lược đồ tổng quát vừa nêu trên, Tin Mừng Gioan cống hiến nhiều điểm riêng biệt đáng lưu ý. Chúng ta sẽ khảo sát ở phần dưới đây. Muốn thấu triệt vô số những dị biệt chi tiết, ta cần phải tham khảo những tác phẩm chuyên môn.

Cả bốn bài tường thuật trên đều có cùng một văn thể mà chúng tôi thiết tưởng cần phải xác định ngay. Ở đây câu chuyện được tường thuật có một nền tảng lịch sử vững chắc: sự song đối trong toàn bộ và sự hòa hợp giữa nhiều chi tiết chứng minh điều đó. Nhưng cũng như phần còn lại của Tin mừng, đây không phải là loại lịch sử có tính cách giai thoại hay gợi cảm, cũng chẳng phải là loại lịch sử tình tiết hoặc gây xúc động. Pascal ghi nhận thật đúng điều ông gọi là sự vừa phải và "vẻ lạnh lùng" của các sử gia “Tin mừng". Trong bài tường thuật, các ông không để lộ niềm cảm xúc, cũng chẳng nhấn mạnh như những diễn giả hay họa sĩ ở các thế kỷ sau đó trước những khổ hình và lăng nhục hãi hùng mà Chúa Giêsu đã gánh chịu.

Đây cũng không phải là một bài khảo sát tâm lý: hầu như không thấy đề cập đến “tâm trạng" của Chúa Giêsu hay của các môn đồ. Ta chỉ biết các môn đồ sợ hãi, Phêrô chối Thầy và sau đó khóc lóc rất thảm thiết" (Mt 26,75; Lc 22,62), một nhóm người thân thích, nhất là các bà, tỏ ra can đảm và trung thành. "Lý do phản bội của Giuđa chỉ được cắt nghĩa sơ qua; đây chính là cớ để các bi kịch gia hiện đại tự do cắt nghĩa theo sở thích riêng.

Bài tường thuật này không mang màu sắc thi vị, cũng chẳng phải là một bài phân tích tình cảm, vậy phải chăng nó mang nặng tính chất thần học? Chúng ta có thể trả lời cả hai: Phải và không. Không, nếu hiểu đó là một cách hệ thống hóa mầu nhiệm cứu chuộc như thánh Phaolô đã phác họa chẳng hạn. Những trình thuật này chẳng hề có những chỗ ngắt quãng để trình bày hay ít ra mở đầu cho một suy tư có hệ thống. Chúng chỉ chứa đựng những sự kiện. Nhưng dầu sao, trong đó cũng có một hậu cảnh thần học, đó là thần học Thánh Kinh. Việc Chúa Giêsu chịu nạn hoàn tất lời các ngôn sứ, hầu hết những chi tiết được các tác giả Tin Mừng ghi lại đều là vì chúng đã được tiên báo trong Cựu ước: Chương 53 sách Isaia, thánh vịnh 21 và 68 bàng bạc khắp nơi trong các bài tường thuật. Dù không mấy minh bạch, các hình ảnh Cựu ước này có tầm mức quan trọng đối với thần học Cứu chuộc mà chính Chúa Giêsu phục sinh (Lc 24, 26- 27. 44- 47) đã nói đến và các sứ đồ không ngừng nhắc lại trong các diễn từ đầu tiên ở Cv (2, 23; 3, 18 ; 4, 28 ; 5, 52 ; 13, 27. 32- 33).

Chúa Kitô phải chịu đau khổ vì điều đó đã được các ngôn sứ báo trước, và hợp với chương trình của Chúa Cha. Hậu quả này đã được thánh Phaolô khẳng định trong các thư của ngài, đặc biệt thư gởi tín hữu Do thái, và trước đó thánh Gioan cũng đã lưu ý: Chúa Kitô chịu đau khổ vì vâng phục Chúa Cha. Người tình nguyện hiến thân chịu chết như thế, cái chết này là một hy lễ được hoàn tất, được thánh hiến và sinh hoa kết quả nhờ cuộc sống lại là công trình của Chúa Cha; công trình này chứng tỏ Chúa Cha đã vui nhận hy lễ chính Con Ngài hiến dâng.

Đó là những đặc điểm chung của các thánh sử trong trình thuật Khổ nạn. Dĩ nhiên, mỗi vị vẫn giữ cá tính riêng. Chúng ta thử lần lượt phác họa những đặc điểm tổng quát của các bài tường thuật đó theo thứ tự các Tin Mừng.

Bài tường thuật của Matthêu có những đặc tính vẫn gặp trong Tin Mừng của ngài: quân bình, sáng sủa và trang trọng. Mt có những chi tiết không thấy nơi các Tin Mừng khác: cái chết của Giuđa, chuyện vợ Philatô, một vài hiện tượng xảy ra do cái chết của Chúa Giêsu, tổ chức canh mồ, và sau lần hiện ra đầu tiên của Chúa sống lại, các kỳ mục vận động lính canh để họ phao lên rằng xác của Người đã bị đánh cắp. Môi trường Palestina của Tin Mừng thứ nhất cắt nghĩa thỏa đáng lý do tại sao ngài đã ghi lại những chi tiết này.

Bài Thương khó của Matcô, linh hoạt và sống động, rất giống bài của Matthêu (như Tin Mừng Matcô nói chung); nếu chỉ đọc qua ta sẽ có cảm tưởng đây là một bài tóm lược Tin Mừng Mt. Dầu vậy, bài của Mc vẫn mang một sắc thái riêng biệt, các nhà chú giải vẫn bất đồng ý kiến với nhau trong việc xác định xem bản văn nào có trước. Chúng ta ghi nhận ba tiểu tiết riêng của Maccô, và những tiểu tiết này là dấu hiệu, chứng tỏ tính chất đích thực hơn là trình bày một giá tin thẩm mỹ. Mc đã ghi lại từ ngữ Aram “abba" mà Chúa Giêsu dùng khi cầu nguyện ở vườn Ghetsêmani (Mc 14, 36), từ ngữ này cho thấy mối thân tình tín thác của Người vào Cha. Mc còn nói đến một thanh niên ẩn danh theo Chúa Giêsu, bị bắt cùng Người và đã tẩu thoát, bỏ lại chiếc áo choàng (14, 51- 52). Cuối cùng ngài còn lưu ý rằng Simon người Xyrênê là "thân phụ của Alexandrô và Euphô" (13, 21); có lẽ các tín hữu tại Rôma, nơi Mt viết Tin Mừng, đã biết rõ hai người này.

Chúng ta sẽ khảo sát, ở phần sau, một số nét đặc biệt của cuộc Khổ nạn theo Luca. Ở đây chúng ta chỉ nêu lên một đôi nét tiêu biểu nhất của thánh sử về lòng thương xót. Sau khi tiên báo việc Phêrô chối mình, Chúa Giêsu hứa ngay với Phêrô một lời đầy khích lệ: "Phần con, khi đã trở lại, hãy củng cố anh em con" (Lc 22,31 -32). Chính lời hứa này là một trong những điểm tựa mạnh mẽ nhất cho quyền tối thượng của Đức Giáo Hoàng. Luca nhấn mạnh đặc biệt cơn sầu não kinh hoàng của Chúa Giêsu nơi vườn Ghetsêmani ("mồ hôi máu") và cũng chỉ ngài cho biết chi biết: sứ thần đến "khích lệ Người" (22,43- 44). Luca chỉ nhắc lại cách kín đáo những lăng nhục Chúa Kitô đã chịu, ngài không đề cập đến hình khổ mão gai và chỉ nói đến về việc đánh đòn (23, 16.22). Chỉ riêng ngài nói đến sự kiện Chúa Giêsu cầu nguyện cho các lý hình (23,34). Trong các Tin Mừng nhất lãm khác, hình như Chúa Giêsu đã bị nộp vào tay một bọn thù nghịch đồng loạt nhạo báng và căm hận, đang khi đó Luca lại nhắc đến những người đàn bà thương khóc Người, và Người dừng lại an ủi họ (23,27-31). Sau cùng chỉ riêng Luca ghi lại chi tiết nhiều người đến xem cảnh tượng ấy đều "đấm ngực lui về" (23,48).

Cũng chỉ mình ngài nêu lên sự kiện Chúa Giêsu bị điệu đến trước Hêrôđê (23,6-12). Theo thói quen, Luca đã chuẩn bị kỹ càng để có thể dẫn độc giả vào sự kiện này (9,7-9), ngài sẽ còn nhắc lại trong Cv để cho thấy rằng việc Hêrôđê và Philatô đồng lõa đã ứng nghiệm lời thánh vịnh thứ nhất (Cv 4,25-28).

Những điểm đăc thù trong bài tường thuật của Gioan về cuộc Khổ nạn hết sức quan. trọng. Chúng ta sẽ đề cập chi tiết này, ở phần sau ở đây chỉ đề cập tới bối cảnh và bút pháp tổng quát độc đáo của ngài. Thực ra, đây hoàn toàn không phải là một sự kiện tầm thường hay một vở bi hùng kịch, nhưng có thể nói là một hình thức phụng vụ: Chúa Giêsu tỏ ra như một vị Thượng tế oai nghiêm và hiền từ. Người cử hành nghi lễ hy tế chính mình. Với những lời mở đầu đầy trang trọng, Gioan muốn đặt tất cả đoạn Tin Mừng này trong khung cảnh lễ Vượt qua: "Trước lễ Vượt qua, Chúa Giêsu biết đã đến giờ mình phải bỏ thế gian mà về cùng Cha; Người đã yêu thương những kẻ thuộc về mình đang còn ở dương thế, thì vẫn thương yêu họ đến cùng. Trong bữa ăn ... biết rằng Cha đã giao phó mọi sự trong tay Người, rằng Người từ Cha mà đến và sẽ trở về cùng Cha, Chúa Giêsu đứng dậy khỏi bàn ..." (Ga 3,1-4). Lát nữa đây, khi đề cập đến phép Thánh Thể chúng ta sẽ nói đến tính cách tư tế của "lời nguyện linh mục" (Ga 17). Bọn lính đến bắt Chúa Giêsu té lăn xuống đất như thể bị thần uy của Người quật ngã, qua lời Người vừa phán: “chính Ta đây" (Ego eimi; 18, 5- 6). Với thái độ trang nghiêm khác thường, Chúa Giêsu trả lời cho vị thượng tế và cho tên lính vả mặt Người (18,20-23). Cũng thế, Người đối thoại với Philatô trong tư cách một vị quân vương thần linh (18, 33- 38 ; 19, 10-11). Những nhục hình "mão gai, áo đỏ" bọn lính bày trò ra đã vô tình công nhận tước vị vương giả của Người. Theo một truyền thống rất hợp lý, Philatô đặt "Chúa Giêsu ngồi trên một cái bục cao" như một viên chánh án (Ga 19, 13). Tất cá các thánh sử đều đề cập đến sự kiện những tên lính rút thăm chìa áo người (Mt 27, 35 = Mc 15, 24 = Lc 24, 34) ; nhưng Gioan nhấn mạnh đặc biệt bằng cách trích dẫn rõ ràng lời tiên tri trong thánh vịnh đã ứng nghiệm, và khai thác thêm sự tương đồng đó trong hai chữ đồng nghĩa "áo xống" và "áo chùng" để làm nổi bật chiếc áo dài không có đường khâu, từ trên xuống dưới dệt liền một tấm" (19, 2); có lẽ Gioan muốn ám chỉ áo dài của vị thượng tế (x. Lv 21, 10). Câu "Ta khát" là câu rất tự nhiên, nhưng đối với Gioan, cũng là để Thánh Kinh được ứng nghiệm tới cùng (19, 28). Câu đó ám chỉ Thánh vịnh 69, 22: "Ta khát, chúng cho Ta uống dấm chua", và ngay tức thì “một tên lính đưa lên miệng Người một miếng bọt biển thấm đấm chua" hay đúng hơn một thứ thức uống có chất chua (19, 29). Tiếp đó, không thấy câu người kêu lớn tiếng như ở các Tin Mừng nhất lãm, nhưng thay vào đó, Gioan ghi lời sau cùng này "đã hoàn tất" nghĩa là: Ta đã hoàn tất đến cùng sứ mạng của Ta như lời các ngôn sứ đã loan báo (19,30). Thay vì nói như Mt: "Người trút linh hồn" hay như Mc và Lc: "Người tắt thở", Gioan dùng một thành ngữ khác lạ: "Người phó thác Thần khí"; câu này chẳng có nghĩa: từ giờ ấy, xác Người không còn hồn, bởi vì ngay sau đó, từ cạnh sườn bị lưỡi đòng đâm thâu của Người đã chảy máu và nước tượng trưng Chúa Thánh Thần, như chính Người đã báo trước, theo lời các ngôn sứ: "Những giòng nước hằng sống từ trái tim Người tuôn ra". Trái lại, câu đó có nghĩa: Người ban Thần khí của Người cho nhân loại. Cũng như lúc mở đầu, Gioan kết thúc trình thuật Khổ nạn bằng một câu ám chỉ hy lễ Vượt qua; ngài đem giới lệnh về nghi lễ Vượt qua áp dụng vào Đấng chịu đóng đinh: "Không một xương nào của Người sẽ bị dập gãy" (Ga 19, 36 ; x. Xh 12, 46), Gioan dần dần cho thấy (rất rõ ràng đối với người Do thái) Chúa Giêsu đích thật là Chiên Vượt qua.

NHỮNG KHÓ KHĂN LINH TINH

Trên đây là những nhận xét, tuy tổng quát, nhưng đã được sáng tỏ nhờ những thí dụ chính xác. Bây giờ chúng ta sẽ khảo sát một vài khó khăn chi tiết, thường là do những dị biệt giữa các thánh sử. Chúng ta không liệt kê những khó khăn đó theo lý thuyết nhưng dựa vào kinh nghiệm: qua những lần trực tiếp trao đổi câu chuyện hoặc qua thư từ, nhiều Kitô hữu chuộng Thánh Kinh đã đặt cho chúng tôi những vấn nạn đó.

1. Bữa tiệc ly và Lễ Vượt Qua.

Theo cả ba Tin Mừng Nhất Lãm, Chúa Giêsu lập phép Thánh Thể trong bữa ăn lễ Vượt qua (Mt 26, 17- 19; Lc 22, 15). Trái lại, theo Gioan, bữa Tiệc ly xảy ra "trước lễ Vượt qua" (Ga 13, 1). Theo ngài, các người Do thái không vào dinh Philatô, để khỏi bị ô uế, nếu không sẽ chẳng ăn lễ Vượt qua chiều thứ sáu được (18,28). Cũng hôm đó, Philatô nhắc lại thói quen tha một tên tù "dịp lễ Vượt qua" (18, 39) ("vào mỗi áp lễ" theo các Tin Mừng nhất lãm: Mt (27,15 ss). Chúa Giêsu bị kết án khoảng giờ thứ sáu (giữa trưa): Gioan ghi: "Ngày dọn lễ Vượt qua" (19,14), trong khi hình như các tác giả Nhất Lãm đặt việc chuẩn bị này vào ngày hôm trước. Dầu vậy, hình như các tác giả Nhất Lãm đã xác nhận thời gian mà Gioan dùng khi các ngài trưng ra sự kiện Simon thành Xyrênê từ ngoài đồng về trong ngày thứ sáu (Mc 15,21 ss). Chắc hẳn ông vừa nghỉ việc vì Lễ Vượt Qua sắp bắt đầu; nhưng nếu lễ Vượt qua bắt đầu chiều thứ năm như ta thấy trong các Tin Mừng nhất lãm, thì có lẽ Simon đã làm việc ngày lễ Vượt qua? Cần lưu ý là cả bốn Tin Mừng đều giải thích: sở dĩ xác Chúa phải an táng gấp vì chiều thứ sáu là lúc dọn mừng lễ" (Lc 23, 54 ; Ga 19, 42). Đàng khác thật lạ lùng khi nghe Mt gọi sáng thứ bảy là "hôm sau của ngày dọn mừng lễ" (Mt 27,62). Nhưng trong tất cả những trường hợp vừa kể, các thánh sử không còn đề cập đến việc dọn mừng lễ Vượt qua nhưng nói đến việc dọn mừng ngày Sabbat. Quả thực, năm đó lễ vượt qua, một lễ nhất định, được cử hành từ chiều thứ sáu đến thứ bảy chắc hẳn Gioan cố ý ám chỉ sự trùng hợp của hai ngày lễ này, khi nói "ngày sabat là một đại lễ" (Ga 19, 31).

Vậy, vấn đề là chúng ta có nên theo các Tin Mừng Nhất  Lãm, nghĩa là công nhận bữa tiệc hiến tế: của lễ Vượt qua đã được cử hành trong buổi Tiệc ly chiều thứ năm không? Nếu lễ vượt qua được cử hành từ chiều thứ sáu đến chiều thứ bảy như chúng ta vừa thay ở những chi tiết trên, tại sao các tác giả Nhất Lãm có thể đặt bữa ăn Vượt qua vào ngày hôm trước, trước khi sát tế, những con chiên? Có nhiều cách giải quyết, nhưng không cách nào hoàn toàn thỏa đáng. Tựu trung có ba cách sau đây:

a- Bữa Tiệc ly cũng chính là bữa tiệc mừng lễ Vượt qua; như thế các tác giả Nhất lãm có lý. Đàng khác, trong bữa tiệc đó, Chúa Giêsu đã lập phép Thánh Thể như là lễ Vượt qua mới. Sở dĩ không có vấn đề Chiên vượt qua, là vì các tác giả Nhất lãm thấy không cần nhắc đến nghi thức Do thái, vì từ nay nghi thức này đã hết hiệu lực và đã được thay thế. Với khuynh hướng thích biểu tượng như độc giả đã biết, Ga có nhiều ghi chú cố ý cho chúng ta hiểu rằng Chúa Giêsu chính là Chiên Vượt qua vì Người đã bị đóng đinh dúng vào giờ tế chiên Đền thờ."

b- Các tác giả Nhất lãm lẫn Gioan đều có lý xét theo quan điểm của mỗi vị. Những tục lệ khác nhau, những khó khăn về thiên văn hay là việc dùng nhiều loại lịch không giống nhau là những lý do giải thích sự khác biệt hữu lý nói trên. Mới đây người ta đã chứng minh có một lịch cổ quen dùng ở  Qumrân ấn định việc Vượt qua vào chiều thứ ba, trong khi lịch chính thức ấn định vào chiều thứ sáu.

c- Chính Gioan có lý. Ta có thể tin như vậy vì ngài vẫn lưu tâm đến sự chính xác về thời gian và địa dư. Bữa ăn mà các tác giả Nhất lãm đã mô tả rất có thể không phải bữa ăn Vượt qua, nhưng chỉ là bữa ăn thân hữu ... Sở dĩ các tác giả Nhất Lãm coi bữa ăn đó như bữa ăn Vượt qua vì muốn cho chúng ta hiểu rằng Chúa Giêsu sắp thiết lập lễ Vượt qua của Người để ghi nhớ giao ước của Người mà Người sắp đóng ấn bằng chính máu mình vào ngày hôm sau, tức là lễ Vượt qua của người Do thái.

Theo thiển ý chúng tôi, lối giải quyết thứ nhất và thứ ba dễ chấp nhận hơn, vì những lý do giải thích có vẻ thần học và văn chương hơn. Còn lối giải quyết thứ hai, dù theo nguyên tắc nào, cũng nghiêng về thuyết tương hợp. Nếu quý vị cho phép chúng tôi phát biểu ý kiến cá nhân, chúng tôi thích lối giải quyết thứ ba hơn vì nó hợp với sự kiên Tin Mừng thứ tư vẫn có những ghi nhận chính xác có thể kiểm chứng được.

2. Thánh Gioan và phép thánh Thể

Trong trình thuật bữa Tiệc ly, thánh Gioan bỏ qua một biến cố quan trọng: việc lập phép Thánh Thể. Phải chăng đó là một điều khó hiểu?

Khi Gioan viết Tin Mừng (khoảng năm 90), thì thánh Phaolô đã nhắc đến việc lập phép Thánh Thể trong thư thứ nhất gởi giáo hữu Côrintô, nghĩa là từ 40 năm trước, và có thể còn trước cả thời các Tin Mừng đang hình thành. Nhưng nhất là việc thiết lập này đã được nhắc đến mỗi lần cử hành Thánh Thể nghĩa là ngay từ những ngày đầu của Giáo hội.

Dù bỏ qua sự kiện này, Tin Mừng thứ tư vẫn phong phú hơn các Tin Mừng khác về học thuyết Thánh Thể. Phép lạ nước hóa rượu trong tiệc cưới Cana báo trước bí tích máu trong Giao ước: Rõ hơn nữa là phép lạ bánh hóa nhiều mà chỉ mình Gioan liên kết với lễ Vượt qua (6,4) và với diễn từ quan trọng về "Bánh sự sống" (6, 26-59). Theo một số nhà thần học Thánh Kinh, chẳng hạn như Oscar Cullmann, thì việc rửa chân trước Bữa Tiệc ly là một hình ảnh tương xứng với việc lập phép Thánh Thể. Quả thực, trong đó có hai yếu tố chính của phép Thánh Thể? Hy tế của Chúa Kitô mang y phục và thái độ của người tôi tớ và sự hiệp thông với Người: "Nếu Thầy không rửa chân cho con, con sẽ không được dự phần với Thầy" (13,8). Diễn từ sau bữa Tiệc ly diễn tiến theo những đề tài Thánh Thể: giới răn tình yêu (luật của Giao ước mới); sống hiệp nhất với Chúa Kitô tượng trưng qua ẩn dụ cây nho (15,1-10). Nhưng nhất là chương 17, thật đúng danh "lời nguyện linh mục” (lời nguyện tế hiến), sát với lời nguyện các linh mục ngày nay đọc trên Thánh Thể: tạ ơn Chúa Cha, lời xin thánh hiến, cầu cho hiệp nhất, xin ơn bầu chữa cho Giáo Hội.

3. Thánh Gioan và vườn Ghetsêmani

Chắc chắn thánh Gioan còn khác với các tác giả Nhất Lãm ở chỗ ngài bỏ qua những lời khấn nguyện thống thiết của Chúa Giêsu nơi vườn Ghetsêmani. Nhưng Gioan kể lại một đoạn tương tự trong 12,23-33: Chúa Giêsu xao xuyến tâm thần, muốn thoát chết, nhưng Người đã chấp nhận tôn ý Chúa Cha và Chúa Cha đã phán một lời từ trời để khích lệ Người. Đám đông ngỡ là tiếng sét, có người lại cho là "một thiên thần" đã nói với Người. Còn theo thánh Luca, ở vườn Ghetsêmani, một thiên thần đã đến khích lệ Người.

Có người đã đặt cho chúng tôi một câu hỏi khác, có tính cách hộ giáo và liên quan đến vấn đề sự thật lịch sử: Làm sao các tác giả Nhất lãm có thể thuật lại những lời Chúa cầu nguyện ở vườn Ghetsêmani, đang khi các môn đồ được Chúa chọn theo Người để làm chứng đều ngủ cả. Câu hỏi cho thấy những độc giả này đã coi các trình thuật Tin Mừng như những thiên phóng sự đúng nghĩa. Nếu chấp nhận chủ trương này, có thể trả lời ngay rằng: thiếp ngủ chưa hẳn là ngủ thật. Dẫu không thể thức và cầu nguyện, các ông vẫn có thể láng máng nghe được tiếng Người cầu nguyện, rồi sau đó nhớ lại (thực ra chỉ có hai lời nguyện của Người được ghi lại). Cũng nên lưu ý rằng: giữa cơn sầu khổ hãi hùng ấy, Chúa Giêsu không thể ở một mình. Người đi tới đi lui và trở lại ba lần để đánh thức các ông. Cuối cùng, cũng nên biết: người Đông phương và tất cả những dân tộc cổ xưa rất ít quen cầu nguyện trong thinh lặng. Trường hợp Chúa Giêsu vẫn tìm nơi thanh vắng để cầu nguyện (Mc 1, 35; Lc 6, 12) chắc hẳn không phải chỉ là để “tĩnh tâm" cho bằng để không ai nghe thấy. Nhiều nhà chú giải cho rằng câu sau đây của thư gởi giáo hữu Do thái (Dt 5,7) lấy từ lời nguyện tại vườn Ghetsêmani: "Với tiếng kêu thảm thiết, nước mắt chan hòa, Người nài xin và khẩn cầu Đấng có thể cứu Người khỏi chết"..Như vậy, dù rất buồn ngủ, Phêrô, Giacôbê và Gioan đã có thể nghe những !ời Chúa Giêsu cầu nguyện ở vườn Cây dầu.

4. Thánh Gioan và phiên tòa trước Công nghị

Trong khi các tác giả Nhất lãm kể dài dòng về phiên tòa trước các thượng tế và Công nghị, thánh Gioan (chỉ mình ngài ghi nhận việc Chúa Giêsu bị điệu đến Anna, 18, 13) giản lược phiên tòa này vào sự việc Người bị điệu đến trước thượng tế Caipha vỏn vẹn trong một hàng, và còn xen vào đó những lời Phêrô chối Thầy. Sở dĩ vậy là vì Gioan đã dành một chỗ rất lớn cho những cuộc tranh luận giữa Chúa Giêsu và các người biệt phái trong các chương 5, 7, 8, 9.

5. Thời biểu cuộc Khổ nạn

Theo Gioan, Chúa Giêsu ra trước tòa Philatô vào giờ thứ sáu (giữa trưa) (19,14). Nhưng theo Maccô, Người bị đóng đinh giờ thứ ba (9 giờ sáng) (Mc 15, 25). Đối với các Tin Mừng Nhất lãm, đang khi Chúa Giêsu bị đóng đinh, thì bóng tối bao trùm từ giờ thứ sáu đến giờ thứ chín (3 giờ chiều). Mt và Mc còn nói: đến giờ thứ chín, Người "kêu lớn tiếng" trước khi tắt thở (Mt 27,46 = Mc 15,34).

Người thời xưa (nhất là người Do thái, chưa biết đến đồng hồ) đoán giờ rất giỏi. Đàng khác, thời gian của một giờ, nghĩa là một phần mười hai của một ngày hay đêm thay đổi rất nhiều theo từng mùa. Những ghi chú thời gian trong cuộc Khổ nạn có thể chỉ có giá trị biểu tượng mà thôi. "Ba giờ" mà thánh Mc ghi lại tương ứng với ba lời nguyện trong Đền thờ (Cv 3 , 1 ; 16, 3. 9. 30). Điều quan trọng đối với thánh Gioan là Philatô đã kết án Chua Giêsu đúng vào giờ bắt đầu lễ Vượt qua, lúc những con chiên bị sát tế.

6. Simon người Xyrênê

Theo Mt (27,32) và Mc (15,21); Simon người Xyrênê vác đỡ thập giá Chúa Giêsu. Các ảnh tượng thường diễn tả Simon vác giúp Chúa Giêsu cả cây thập giá (trong khi thực ra chỉ có phần ngang, còn phần dọc đã chôn sẵn nơi hành hình). Có thể Chúa Giêsu đã vác thập giá một mình trong thành, Simon chỉ thay Người khi đã ra ngoài thành theo Mc). Nghệ thuật ảnh tượng đã có thể dựa vào câu sau đây của Lc: "Chúng bắt ông vác thập giá đàng sau Chúa Giêsu" (Lc 23, 26). Nhưng chắc hẳn ghi chú này có một ý nghĩa thiêng liêng vì nớ liên hệ với những đoạn Tin Mừng của Lc: Chúa Giêsu đòi hỏi môn đồ chân chính phải vác thập giá theo sau Người (Lc 9,23; 14,27).

Riêng Gioan không biết đến Simon người Xyrênê; ngài viết:  Chúa Giêsu tự mình vác thập giá, Người đi ra đến nơi gọi là Đồi Sọ, tiếng Hy bá là “Gologôtha" (19,17). Có thể Gioan bỏ qua chi tiết này, vì không muốn gây cớ cho những người lạc giáo phái "ảo thần thuyết". Theo họ, Con Thiên Chúa, vì không thể đau khổ, nên đã để một người khác chịu đóng đinh thay mình ... hay việc Người chịu đóng đinh chỉ là hình bóng bên ngoài. Gioan chính là tác giả tuyệt hảo đã cho thấy thực tại của mầu nhiệm Nhập Thể. 

7. Kẻ trộm lành

Chúng ta đã ghi nhận mối bận tâm riêng của Luca: ngài phân biệt giữa những người chứng kiến cuộc Khổ nạn, có những nhóm nhỏ thương cảm Chúa Giêsu, trong khi các thánh sử khác chỉ thấy toàn một bọn thù nghịch. Chính vì vậy, giữa hai tên bất lương cùng bị đóng đinh với Chúa Giêsu, ngài phân biệt một kẻ là "trộm lành". Theo một và Mc, cả hai tên đều nhục mạ Người.

Nhiều người ngạc nhiên vì câu trả lời của Chúa Giêsu: “Hôm nay anh sẽ ở trên Thiên đàng với Ta" (Lc 23,43). Từ ngày thứ sáu tuần thánh cho tới khi "trời mở ra", chắc hẳn Chúa Giêsu còn phải chết, xuống ngục tổ tông, sống lại và hơn nữa, phải lên trời rồi mới khai mở cuộc sống của nhân loại vinh quang bên Thiên Chúa !

Trước hết, phải trả lời rằng: "Thiên Đàng" không nhất thiết là "Trời " mà ta hiểu, và "ở với " là một từ ngữ rất phong phú bao hàm tương quan thân mật sâu xa hơn là sự hiện diện cùng một nơi. Hơn nữa, từ ngữ "hôm nay" không hẳn ám chỉ một ngày N cũng chẳng ám chỉ một "giờ " G. Chúng ta đã thấy, đối với Gioan, Giờ của Chúa Giêsu bao gồm toàn thể cuộc Khổ nạn. Thập giá và Sống lại cùng Lên trời. Sau này, chúng ta còn phải nại đến "thời gian thần học" này khi bàn về những điềm lạ kèm theo cái chết của Chúa Giêsu và về "ngày giờ” Người về trời.

8. "Hỡi bà, này là con bà (Ga 19, 26-27)

Để hiểu rõ tầm quan trọng của lời này, cần lưu ý hai điểm: trước hết, Chúa Giêsu không trao phó mẹ Người cho Gioan trước, nhưng trao phó Gioan cho mẹ Người trước. Thực ra, Chúa Giêsu lo lắng để cho mẹ Người khỏi phải sống cô đơn; điều này gián tiếp xác nhận Người không có anh em ruột hay anh em cùng cha khác mẹ để có thể gởi gắm. Nhưng đó chưa phải là mối ưu tư chính của Chúa Giêsu. Ở đây điểm chính yếu là Người muốn trao phó cho Đức Maria sứ mệnh làm mẹ các môn đồ của Người mà Gioan, môn đồ biệt ái, là đại diện. Sau cùng, cách gọi trọng thể "Hỡi Bà" và câu đề cập tới Giờ của Chúa Giêsu đã khơi lại lời Chúa Giêsu nói với mẹ Người ở tiệc cưới Cana (Ga 2,4).

9. “Lạy Thiên Chúa tôi, sao Ngài bỏ tôi?" (Mt 27, 46ss)

Chắc chắn lời than này diễn tả nỗi sầu não ê chề, nhưng không phải tuyệt vọng. Phải chăng Chúa Giêsu tưởng mình đã bị Cha ruồng bỏ? Nhiều diễn giả đã quảng diễn đề tài bi thảm này. Một số thần học gia cảm thấy thật khó hòa hợp những lời nói ấy với những khẳng định sau đây của Chúa Giêsu: "Cha và Ta là một" (Ga 10, 30), và "Thầy không ở một mình ... có Cha luôn ở với Thầy" (Ga 8,16.29; 16,32).

Theo thiển ý chúng tôi, vấn đề không đến nỗi gay go, nếu chúng ta biết cách độc bản văn: ở đây Chúa Giêsu đã trưng một Thánh vịnh. Người không trích một câu chọn lọc nhưng lấy ngay câu thứ nhất vì câu này mang ý nghĩa toàn Thánh vịnh, tương tự như chúng ta vẫn nói vắn tắt: hát Thánh vịnh Miserere, kinh Te de um hay đọc thông điệp Hòa bình thế giới. Có lẽ Chúa Giêsu đã thay đổi chút ít cho hợp với hoàn cảnh của Người, vì khi nói về Thiên Chúa, Người luôn gọi "Cha" hay “Cha Ta" chứ không bao giờ gọi "Thiên Chúa tôi". Như vậy, lời này chứng tỏ Chúa Giêsu quả quyết Người đã thực hiện toàn thể Thánh vịnh 21 trong cuộc Khổ nạn của Người. Điều này càng rõ ràng hơn khi ta thấy cả bốn trình thuật về cuộc Khổ nạn đều nhắc đến thánh vịnh này, nhất là Mt: Chúa Giêsu bị đóng đinh vào thập giá (Tv 21,17); những kẻ xem thấy lắc đầu chế diễu và châm biếm Người là đã "cậy vào, Thiên Chúa” (Tv 21,8-9) ; quân lính rút thăm chia áo xống Người (Tv 21, 19). Nhưng, nếu Thánh vịnh này đã bắt đầu trong phiền tủi, thì lại kết thúc trong niềm cậy trông với lời cảm tạ (báo trước phép Thánh Thể) (Tv 21,23-32). Cũng như những Thánh vịnh khác, câu kết "đó là kỳ công của Ngài” chỉ rõ công việc kỳ diệu của Thiên Chúa trong cuộc giải phóng Vượt qua.

Luca ghi lại một "lời cuối cùng" khác đầy tin tưởng và bình thản: “Lạy Cha, con phó thác hồn con trong tay Cha (Lc 23, 46) ; đây cũng là một lời Thánh vịnh, nhưng diễn tả trực tiếp tư tưởng của Chúa Giêsu. Thực vậy, Chúa Giêsu chọn câu giữa Thánh vịnh 30 (c.6) và Người đã sửa đổi đôi chút vì đúng ra phải là “Lạy Chúa, con phó thác hồn cỏn trong tay Chúa, và Chúa sẽ cứu chuộc con" (Lc 23,46).

Ba Tin Mừng Nhất lãm đều ghi Chúa Giêsu nói "lời cuối cùng" sau khi kêu lên “một tiếng lên". Thật sai lầm nếu cho đó là một tiếng kêu sầu não hay dấu hiệu của một sức sống mãnh liệt. Thực ra, công thức cố định này thường được dùng để công bố một điều quan trọng.

10. Những điềm lạ bên cạnh cái chết của Chúa Giêsu.

Trước tiên cần ghi nhận rằng Gioan không nói đến sự lạ nào. Nhưng cả ba Tin Mừng nhất lãm (Mt 27,45.51a ss) đều đề cập tới hai sự kiện sau đây: bóng tối bao trùm “khắp miền" (kiểu dịch khắp “trái đất" không đúng lắm). Luca nói rằng mặt trời "bị che khuất". Tiếng che khuất" có nghĩa thông thường là "biến mất" chứ không có nghĩa chuyên môn là nhật thực"; không thể có nhật thực vì lễ Vượt Qua nhằm tuần trăng tròn. Sau đó là sư kiện màn Đền thờ bị xé làm hai.

Đó phải chăng là những hiện tượng lạ lùng và có thật? Dĩ nhiên ta có thể chấp nhận điều đó, nhưng đừng quên rằng: hiện tượng trời đất tối tăm, các vì sao rơi xuống đều là những hình ảnh của thể văn tiên tri và khải huyền khi diễn tả "Ngày của Giavê". Hiện tượng "màn Đền thờ bị xé làm hai", dù có thực hay không, cũng tượng trưng việc dân ngoại được tham dự vào ơn cứu rỗi và đức tin đích thực. Trước kia tấm màn đã không cho họ thấy phần trong của Đền thờ, nghĩa là xưa kia họ "không có Đấng Messia, bị loại ra ngoài quốc tịch Israel, xa lạ với các giao ước dựa trên lời hứa ... nhưng nay, trong Chúa Giêsu Kitô, anh em, những kẻ xưa kia ở xa, đã trở nên gần nhờ máu Chúa Kitô ... Người đã phá đổ bức tượng phân rẽ nhờ thân xác Ngươi" (Ep 2, 12- 14tt). Trong thư gởi tín hữu Do thái, chúng ta cũng thảy 'bức màn" có một ý nghĩa tượng trưng tương tự: nhờ hy tế người dâng, Chúa Kitô đã khai mở cho chúng ta đường về Thiên Chúa (Dt 6, 19 ; 9, 11- 12 ; 10, 12 v.v...).

Mt còn ghi thêm những điềm lạ lùng hơn nhiều: "Trái đất rung chuyển, đá vỡ tan, mồ mả mở tung, xác nhiều vị thánh đã chết nay sống lại và ra khỏi mồ sau khi Chúa Giêsu phục sinh; họ vào Thành Thánh và đã hiện ra cho nhiều người" (Mt 27,51b-54). Đất rung chuyển cũng như mặt trời ra tối đều là lối "dàn cảnh" văn chương "Ngày của Giavê". Chỉ một mình Mt ghi nhận việc động đất khi Chúa Giêsu phục sinh (Mt 28,2-4). Còn việc kẻ chết sống lại thì thường được các ngôn sứ loan báo như những sự kiện xảy ra trong thời canh tân của Đấng Messia (Is 26, 19; Ed 37, 12 ; Đn 12,2).

Nhưng có thật những kẻ chết sống lại đã vào thành Giêrusalem và nhiều người đã thấy họ không? Nếu đã sống lại rồi tại sao họ còn đợi đến ba ngày sau mới ra khỏi mồ Giêrusalem ở đây được gọi là "Thành Thánh", nghĩa là ám chỉ Giêrusalem trên trời hơn là thánh Giêrusalem lịch sử và địa dư; đó là Giêrusalem mới mà sách Khải huyền (Kh 21) đã nói đến. Như vậy, có thể bảo ba câu đó của Mt có tầm mức khải huyền và thần học hơn là lịch sử theo nghĩa thực nghiệm của từ ngữ này. Chắc hẳn những câu đó diễn tả cách vụng về một tín điều rất khó hiểu: "Chúa Giê-su xuống ngục tổ tông": do cái chết, Chúa Giêsu đã thân hành xuống đến cõi thẳm sâu nhất của thân phận con người, và làm cho kẻ công chính đã chết trước khi công cuộc cứu chuộc được thực hiện, có thể sống lại (1Pr 3, 19 ; 4, 5-6). Tín điều này ngày nay ít được biết tới, nhưng lại rất quan trọng trong nhiệm cục cứu rỗi; ngôn ngữ nhân loại chỉ có thể diễn tả theo những tọa độ giới hạn trong không gian và thời gian nhưng không thể lột được hết ý nghĩa của mầu nhiệm. Ở đây cũng như đối với lời hứa của Chúa Giêsu cho tên "trộm lành", chúng ta không nên nghĩ tới sự xác thực của một thừa phát lại; và những ghi chú thời gian không thể xét theo sự chính xác toán học được. (Trích A.M. .Roguet, Dẫn vào Tin Mừng. ĐCV Huế xuất bản, tr. 144- 156)

 

Tác giả bài viết: Học viện Giáo Hoàng Pi-ô X Đà Lạt

Tổng số điểm của bài viết là: 3 trong 1 đánh giá

Xếp hạng: 3 - 1 phiếu bầu
Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Đăng ký nhận bản tin
Nhập email để nhận được những tin tức mới nhất từ chúng tôi.
Thống kê truy cập
  • Đang truy cập189
  • Máy chủ tìm kiếm14
  • Khách viếng thăm175
  • Hôm nay0
  • Tháng hiện tại422,800
  • Tổng lượt truy cập7,409,957
Đánh giá website

Quý vị đánh giá website GPLS thế nào?

Thư ĐTGM. Marek
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây