Nghệ thuật cử hành Thánh lễ: Phụ lục III - Xông hương và niệm nhang

Thứ ba - 28/08/2018 07:31 83 0
Bình hương gồm phần thân đựng than và phần dây treo gồm ba sợi. Nắp bình hương có thể di chuyển lên xuống nhờ sợi dây thứ tư. Khi sử dụng hương có thể xông bàn thờ, bánh rượu, thánh giá, sách Tin Mừng, người (chủ tế và cộng đoàn), ảnh các thánh, Mình Thánh Chúa, nến phục sinh và linh cữu.
Nghệ thuật cử hành Thánh lễ: Phụ lục III - Xông hương và niệm nhang

Phụ lục 3

XÔNG HƯƠNG – NIỆM NHANG.

Ở Việt Nam thường sử dụng nhang thay cho hương. Nhang là những thẻ tre, phần trên có bột thơm, phần dưới dùng để cầm. Bột này thường có ba màu tạo nên ba loại nhang khác nhau: vàng tươi, nâu sẫm và đỏ sẫm. Ba loại nhang này rất phổ biến, có thể dùng trong phụng vụ. Mỗi lần dâng nhang thường dâng theo số lẻ, nghĩa là dâng 1,3,5,7… thẻ nhang, không bao giờ dâng theo số chẵn. Theo dân gian, số lẻ là dành cho thần linh, trong đó có cả linh hồn người chết. Phải chọn loại nhang khi đốt lên có mùi thơm dịu và phù hợp với phụng vụ Kitô giáo, vì trên nhang thường có khắc “rồng phụng” và chữ “phật”. Tốt nhất nên sử dụng loại nhang thông thường, đơn giản.

Bình hương gồm phần thân đựng than và phần dây treo gồm ba sợi. Nắp bình hương có thể di chuyển lên xuống nhờ sợi dây thứ tư. Khi sử dụng hương có thể xông bàn thờ, bánh rượu, thánh giá, sách Tin Mừng, người (chủ tế và cộng đoàn), ảnh các thánh, Mình Thánh Chúa, nến phục sinh và linh cữu.

Cách xông hương:

(1) Ba lần, ba cú: Thánh Thể, thánh giá, ảnh Chúa khi trưng bày, của lễ, sách Tin Mừng, nến phục sinh, người tham dự và thi hài người quá cố. (2) Ba lần, hai cú: Hài cốt, ảnh tượng các thánh khi trưng bày để tôn kính. Nếu trong thánh lễ, thì xông hương hài cốt, ảnh các thánh sau khi xông bàn thờ và chỉ xông một lần đầu thánh lễ (3) Xông hương bàn thờ từng cái và đi từ phải sang trái, xông thánh giá nếu đi ngang qua. (4) Xông của lễ trước khi xông bàn thờ và thánh giá. (5) Quỳ gối khi xông hương Mình Thánh Chúa (lúc truyền phép và khi chầu Thánh Thể). (6) Nếu giám mục chủ toạ mà không cử hành thánh lễ thì xông hương theo thứ tự sau: chủ tế, các vị đồng tế, giám mục hiện diện và sau cùng là cộng đoàn. (7) Linh mục bỏ hương vào bình và thinh lặng làm phép bằng một dấu thánh giá. Trước và sau khi xông hương, cuối chào người hoặc vật được xông hương, trừ bàn thờ và lễ vật. (x. QCTQ 276).

---


 

CÁCH THỨC BỎ HƯƠNG - XÔNG HƯƠNG

Khi bỏ hương vào bình hương, vị tư tế làm dấu thánh giá chúc lành mà không đọc gì. Trước và sau khi xông hương, cúi sâu chào những người hay những vật được xông hương, ngoại trừ bàn thờ và lễ phẩm dùng cho hy tế thánh lễ (QCSL 277; Lễ nghi Giám mục [=LNGM], số 90)

Sách Lễ nghi Giám mục (số 84-98) ghi chú rằng thừa tác viên bỏ hương vào bình hương ở tư thế đứng nhưng riêng đức giám mục, ngài có thể bỏ hương khi đang ngồi (LNGM 90).

Linh mục Edward McNamara dựa vào số chú thích được lấy từ ấn bản năm 1886 về lễ nghi liên quan đến cách đưa bình hương tới gần đức giám mục, đề nghị đổ ba thìa hương vào bình hương, và mô tả cách thức cầm bình hương như sau [theo chú thích 75]:

Người xông hương cầm lấy đầu dây bình hương bằng tay trái, cầm dây ở vị trí gần sát bình hương bằng tay phải, sao cho bình hương có thể lắc qua lắc lại dễ dàng. Người xông chú ý để thực hiện chức năng này với vẻ mặt nghiêm trang và duyên dáng, chứ không cử động đầu hoặc thân thể trong khi lắc bình hương, giữ bàn tay trái với đầu dây gần ngực mình, và chuyển động cánh tay phải qua lại với một nhịp khoan thai đều đặn.[26]

Còn đức cha Peter Elliott chỉ dẫn rằng:

Thái độ và kỹ năng sử dụng bình hương trước tiên phụ thuộc vào cách thức cầm dây chuỗi của bình hương, khi xông hương cho người hay vật. Mỗi người nên thực hiện những gì là thuận tiện nhất qua thực hành, nhưng xin đề xuất một phương pháp dễ dàng như sau: a) Giữ đĩa và phần trên của dây xích trong tay trái, ngang với ngực của mình. Với bàn tay phải, giữ dây xích giữa ngón trỏ và ngón giữa. Giữ dây bằng ngón cái, sao cho bình hương có thể được điều khiển và kiểm soát cách dễ dàng; b) Với bàn tay phải, nâng bình hương lên ngang ngực. Sau đó, nâng bàn tay phải lên ngang mắt (thấp hơn khi xông hương bàn thờ), và lắc bình hương tới lui về hướng người hoặc vật được xông hương, xoay nó một cách vững chắc và không vội vã bằng cách điều khiển dây; c) Sau khi đã hoàn thành số lần xông hương theo yêu cầu, hạ thấp bình hương xuống một chút. Sau đó đưa bình hương về phía mình, hoặc giao nó cho người giữ bình hương hoặc thầy phó tế.[27]

Không cần thiết để cho bình hương va vào dây xích. Khi xông hương người, hoặc lễ vật trên bàn thờ, bàn tay giữ dây xích nên xa bình hương khoảng 20 cm (8 inch); khi xông hương bàn thờ hoặc thánh giá, bàn tay giữ dây xích nên xa bình hương khoảng 30 cm (12 inches). Trước và sau khi xông hương xong, cần cúi mình sâu trước người được xông hương. Trong khi cúi mình sâu trước và sau khi xông hương một người, người xông hương cầm bình hương bằng tay phải, vốn được đặt trên ngực.[28]

Khi đặt hương vào bình hương, số lượng hương sử dụng cần phải được nhắm chừng tuỳ theo các yếu tố, chẳng hạn như kích thước của nhà thờ. Tuy nhiên, dấu hiệu hương cháy lên chỉ hoàn tất khi hạt hương hoặc bột hương được bố trí đều trên than đốt. Việc khơi than hoặc làm vỡ than bằng thìa nếu chỉ làm xáo trộn các hạt hương và làm đu đưa bình hương thôi mà không tạo ra khói gì cả thì thật là nực cười.[29]

Xông hương Thánh Thể thì phải từ vị trí quỳ, dù thừa tác viên là ai (LNGM 94). Còn những người nhận xông hương phải ở tư thế đứng, kể cả đức giám mục (LNGM 96).

Các vị đồng tế được xông hương, xét như là một nhóm đối tượng. Các đức giám mục và các kinh sĩ tham dự thánh lễ nhưng không đồng tế sẽ được xông hương cùng với dân chúng (LNGM 96). Nếu chỉ có một vị giám mục tham dự thánh lễ và không đồng tế, ngài sẽ được xông hương sau chủ tế hoặc sau các vị đồng tế (LNGM 97).

Như vậy, trong thánh lễ đồng tế do đức giám mục làm chủ tế, đến phần Chuẩn bị Lễ vật, thầy phó tế sẽ xông hương ngài, tiếp đến xông hương các vị đồng tế, rồi sau đó đến dân chúng (x. LNGM 96; 149). Nếu chủ tế là một linh mục thì cũng làm như vậy, tức là xông hương linh mục chủ tế trước, tiếp đó là các vị đồng tế và sau cùng là dân chúng. Tuy nhiên, nếu có một phó tế mà cấu trúc cung thánh không dễ dàng cho thầy nhanh chóng trở lại bàn thờ sau khi xông hương dân chúng và vì thế cản trở thầy hỗ trợ cho chủ tế, thì nên để một thầy giúp lễ (hay lễ sinh) thay thế xông hương chủ tế, các vị đồng tế và dân chúng. Nên sắp xếp chỗ ngồi các vị đồng tế thế nào để thuận tiện cho việc xông hương các vị. Dù số lượng các vị đồng tế là bao nhiêu, khi xông hương cũng chỉ nên coi là một khối duy nhất (một đối tượng duy nhất). Nghĩa là, thời điểm xông hương các vị đồng tế khác biệt với xông hương chủ tế và xông hương dân chúng. Nếu các vị đồng tế ngồi thành từng khu vực thì có thể xông hương cho từng khu vực này.

Chủ tế không nên khởi sự bất kỳ lời nguyện hay lời hướng dẫn nào cho đến khi việc xông hương đã hoàn tất. Trong Giờ kinh Phụng vụ, điệp ca của Thánh ca Tin Mừng “Chúc tụng” (Benedictus) hoặc “Linh hồn tôi” (Magnificat) không được lặp lại, cho đến khi việc xông hương hoàn tất (LNGM 98).[30]

Trước và sau khi xông hương, người xông hương phải cúi mình trừ ra khi xông hương bàn thờ và lễ phẩm (QCSL 277). Mọi người cũng thường cúi đầu đáp lại thừa tác viên xông hương như một cử chỉ tiếp nhận sự kính trọng của thừa tác viên, tuy hành vi này không nằm trong quy định của Quy chế Tổng quát Sách lễ Rôma.

Xông hương ảnh tượng hay di tích thánh được trưng bày để tôn kính sau khi đã xông hương bàn thờ; trong thánh lễ, ảnh tượng hay di tích thánh được xông hương chỉ khi bắt đầu cử hành (LNGM 95).

Việc xông hương tư tế và giáo dân là vai trò của phó tế nếu thầy hiện diện. Khi không có phó tế, nhiệm vụ này được giao cho thầy có tác vụ giúp lễ hay người giúp lễ. Không bao giờ coi đây là nhiệm vụ của linh mục chủ tế, vì lúc này ngài đang rửa tay và chuẩn bị mời gọi cộng đồng cầu nguyện ngay sau khi xông hương dân chúng kết thúc.

VÁI NHANG – ĐỔ HƯƠNG VÀO LƯ HƯƠNG

“Ủy ban Giám mục về Phụng vụ xin trân trọng thông báo: Hội đồng Giám mục Việt Nam, trong phiên họp ngày 12-06-1974, tại Tu viện Phước Sơn, Thủ Đức, đã đồng ý cho các nơi thí nghiệm những điểm sau đây:[42]

  1. Có thể bái gối hoặc cúi mình.
  2. Có thể sử dụng tiếng tôi, chúng tôi, hoặc chúng con.
  3. Có thể xông hương như xưa nay, hoặc bỏ hương vào lư, hoặc đốt hương nén (nhang), và cắm vào bát hương.

Đến năm 1992, cũng liên quan đến vấn đề này, Ủy ban Phụng tự trực thuộc Hội đồng Giám mục Việt Nam đã ra thông cáo [do Đức cha Bartôlômêô Nguyễn Sơn Lâm, Chủ tịch, ký tại Đà Lạt ngày 01-01-1992] hướng dẫn rằng trong các thánh lễ, có thể hoặc dùng “bình hương” hoặc “xông hương”, hoặc dùng “lư hương” và “dâng hương” (số 4c), có nghĩa là được phép vái nhang hoặc bỏ hương vào lư hương thay cho xông hương. Hiện nay, quyết định này được chính thức đưa vào trong QCSL [2002] và thực hành như sau:

1] Lúc đầu lễ

Theo Quy chế Tổng quát Sách lễ Rôma [2002] số 49, khi tới cung thánh, linh mục, phó tế và các thừa tác viên sẽ cúi mình chào bàn thờ. Để tỏ lòng tôn kính, linh mục và phó tế hôn bàn thờ; rồi linh mục tuỳ nghi xông hương thánh giá và bàn thờ. Tại Việt Nam, chủ tế có thể vái nhang và cắm vào bát hương trước bàn thờ, hoặc đổ hương vào bình than cháy trong lư hương đặt trước bàn thờ. Nếu vái nhang, chủ tế cầm nhang, giơ cao lên để dâng rồi cúi mình ba lần để tỏ lòng tôn kính, sau đó cắm nhang vào bát nhang (QCSL 277).

2] Lúc chuẩn bị lễ vật

Quy chế Tổng quát Sách lễ Rôma [2002] số 277 [phiên bản tiếng Việt] chỉ rõ có thể chọn một trong 2 cách:

- Thứ nhất là vái nhang. Trong trường hợp chỉ một mình chủ tế vái nhang thì làm y như lúc đầu lễ, nghĩa là chủ tế cầm nhang, giơ cao lên để dâng rồi cúi mình ba lần để tỏ lòng tôn kính, sau đó cắm nhang vào bát nhang. Trong trường hợp chủ tế vái nhang chung với một số người đại diện tiến lên dâng của lễ, thì nên vái nhang ngay sau khi nhận của lễ để những người dâng của lễ khỏi phải đứng chờ trên cung thánh. Chủ tế không nên tới bàn thờ dâng bánh và dâng rượu rồi sau đó mới quay trở lại cùng vái nhang với những người này.

- Thứ hai là đổ hương vào bình than cháy trong lư hương. Sau khi đổ hương, chủ tế cùng những người giúp lễ sẽ chắp tay cúi mình một lần để tỏ lòng tôn kính.

3] Trước khi truyền phép Mình Máu Thánh

Lúc này chỉ có thể đổ hương như lúc đầu lễ hay sau khi dâng bánh và rượu chứ không vái nhang. Trong trường hợp này, chủ tế không bỏ bàn thờ xuống đổ hương nhưng để cho thừa tác viên khác làm việc này [đang khi cộng đoàn hát bài Thánh, Thánh Thánh] (QCSL 277).

Cần lưu ý là không đổ hương trước khi đi đọc Tin Mừng, vì lần xông hương này chủ ý để tôn kính Sách Tin Mừng, vì thế phải làm trước Sách Tin Mừng, chứ không làm trước bàn thờ (QCSL 277).

 

MỘT SỐ THIẾU SÓT VÀ NHẦM LẪN

1] Bình hương không tỏa khói và toả hương thơm, hoặc bình hương toả quá ít khói hay tắt lịm giữa đường rước dài. Những hiện tượng này liên quan đến chất liệu bỏ vào bình hương, sử dụng quá ít than hoặc than không cháy… Nên nhớ rằng, thà đừng xông hương còn hơn là xông hương cách giả dối vì tất cả những gì xấu xí, giả tạo đều không xứng đáng với Thiên Chúa là Đấng chân, thiện, mỹ tuyệt đối.[43]

2] Cách giữ bình hương của người mang bình hương [có bỏ hương sẵn] đi đầu cuộc rước nhập lễ (QCSL 120) bằng cách giơ tay phải thẳng ra phía trước có những hậu quả tiêu cực: i]Làm cánh tay của người cầm bình hương dễ mỏi và gương mặt trông căng thẳng hơn là thoải mái, nhất là khi phải di chuyển lâu trong đoàn rước; ii] Bình hương sẽ đứng yên nhiều hơn là đung đưa để toả khói nghi ngút. Để tránh đi hậu quả này, thừa tác viên nên giữ bình hương một cách bình thường bằng cách dùng bàn tay phải nắm giữ đầu sợi dây của bình hương, để cho dây xích dài hết xuống, vừa đi rước vừa làm cho bình hương lắc mạnh ở phía bên hông phải của mình theo hướng ra trước và ra sau. Nhờ đó, than hồng trong bình hương sẽ cháy rực lên và khói hương sẽ toả ra nghi ngút hơn. Tay trái cầm tàu hương dựa trên ngực. Nếu có người khác cầm tàu hương thì tay trái áp trên ngực. Thêm nữa, đang khi phó tế hay linh mục công bố Tin Mừng, người giữ bình hương đứng gần giảng đài phải lắc nhẹ bình hương cho nó đung đưa qua lại để hương khói tiếp tục toả ra chứ không phải để bình hương đứng yên một chỗ.[44]

3] Đảo lộn trật tự. Trong cuộc rước nhập lễ, khi đến gần bàn thờ, chủ tế thường nhanh chóng tiến hành xông hương bàn thờ trước khi lên hôn bàn thờ. Đúng ra, chủ tế phải hôn bàn thờ trước rồi mới xông hương bàn thờ sau theo quy định của Quy chế Tổng quát Sách lễ Rôma [2002] tại các số 49; 123; 173; và 211.

4] Bỏ hương vào bình hương quá sớm, không đúng thời điểm. Chẳng hạn, khi toàn thể cộng đoàn đang lắng nghe Lời Chúa (Bài đọc II), những người giúp lễ lại sốt sắng tò tò đi ra trước mặt chủ tế để xin ngài bỏ hương vào bình hương. Có hai sai sót ở đây. Thứ nhất, đây là giây phút mọi người phải chăm chú lắng nghe Lời Chúa chứ không được di chuyển hay làm bất cứ một việc gì khác; Thứ hai, Quy chế Tổng quát Sách lễ Rôma đã trù liệu cho việc bỏ hương để xông hương Sách Phúc Âm / Sách Bài Đọc vào lúc cộng đoàn hát (hay đọc) Halleluia, tức là sau khi đã kết thúc việc nghe bài đọc II: “Trong khi hát Halleluia, hoặc bài ca nào khác, vị tư tế bỏ hương, ban phép lành, nếu có xông hương. Rồi vị tư tế chắp tay, cúi mình sâu trước bàn thờ, đọc thầm: “Lạy Thiên Chúa toàn năng, xin thanh tẩy tâm hồn” (QCSL 132; x. QCSL 75).

5] Bớt đi hay thêm vào những lúc xông hương không cần thiết và không có trong quy định. Chẳng hạn, xông hương bàn thờ lúc đầu lễ nhưng không xông hương Tin Mừng; xông hương Thánh Thể nhưng không xông hương lễ vật; thêm vào lần xông hương chủ tế sau khi ngài xông hương bàn thờ lúc đầu lễ; xông hương thêm vào lúc chủ tế đọc đang “Vinh tụng ca” hay đang đọc “Đây Chiên Thiên Chúa…”[45]

6] Cúi mình trước và sau khi xông hương lễ vật cũng như xông hương bàn thờ. Trong khi đó, Quy chế Tổng quát Sách lễ Rôma dạy rằng: trước và sau khi xông hương, người xông hương phải cúi mình trừ ra khi xông hương bàn thờ và lễ phẩm (QCSL 277). Vào lúc Chuẩn bị Lễ vật, do một số nhà thờ có đặt cây thánh giá trên bàn thờ với tượng chịu nạn đối diện với chủ tế cho nên ngài cúi mình trước cây thánh giá trước và sau khi xông hương thánh giá chứ không phải cúi mình trước bàn thờ hay trước lễ vật trong khi xông hương những đối tượng này (QCSL 75; 144; 178; 190; 276d; 277c).

7] Xông hương theo kiểu phức tạp của thời xưa trong phần Chuẩn bị Lễ vật. Thật vậy, Sách lễ 1570 có thêm những lời nguyện khi xông hương. Vào những dịp long trọng, Sách lễ này quy định vị tư tế xông hương lễ phẩm 3 lần theo hình thánh giá và 3 lần nữa theo hình vòng tròn. Nhưng rồi Sách lễ 1970 đơn giản hóa cách thức xông hương này và loại bỏ hai lời nguyện xông hương của Sách lễ 1570.[46] Hiện nay, vị chủ tế chỉ cần xông hương của lễ 3 lần mỗi lần 2 cú theo hướng giữa - trái - phải (3X2) hoặc dùng bình hương ghi một hình thánh giá trên lễ phẩm hoặc có thể áp dụng cả hai hình thức này (QCSL 277).

8] Xông hương không nhằm vào đối tượng. Chẳng hạn, xông hương bàn thờ bằng cách đẩy bình hương ra phía trước hơn là “tạt vào” bàn thờ; hoặc xông hương Sách Tin Mừng / Sách Bài Đọc / Của lễ bằng cách đẩy bình hương lên không trung mà không nhắm vào đối tượng.

9] Cắm nhang vào lư hương thay vì cắm vào bát nhang. Sau khi vái nhang, theo thực hành thông thường của dân chúng và theo quy định của Quy chế Tổng quát Sách lễ Rôma [2002] tại các số 49 và 277 [phiên bản tiếng Việt], thì phải cắm nhang vào bát nhang chứ không phải vào lư hương. Lư hương là vật dụng chứa than đang cháy chứ không phải để cắm giữ cây nhang. Khi muốn thay thế xông hương bằng bình hương, vị chủ tế [hoặc thừa tác viên] đổ hương vào bình than cháy trong lư hương: “Có thể đổ hương lúc đầu lễ, sau khi dâng bánh và rượu và trước khi truyền phép Mình Máu Thánh. Không đổ hương trước khi đi đọc Tin Mừng, vì lần xông hương này chủ ý để tôn kính Sách Tin Mừng, vì thế phải làm trước Sách Tin Mừng, chứ không làm trước bàn thờ. Chủ tế không bỏ bàn thờ xuống đổ hương trước khi truyền phép Mình Máu Thánh, nhưng để cho thừa tác viên làm việc này” (QCSL 49; 144; 277).

10] Cây nhang sử dụng có những chữ viết hay hình ảnh bao ở bên ngoài không phù hợp với phụng vụ Công giáo. Nếu không nắm rõ đó là chữ gì và hình ảnh trên đó có ý nghĩa gì, thì tốt nhất, chỉ mua và sử dụng những cây nhang không hình ảnh và không chữ viết.

11] Vừa xông hương vừa vái nhang trong một thánh lễ. Đây là một việc dư thừa. Chúng ta chỉ nên chọn một trong hai cách hoặc dâng / vái hương hoặc xông hương.[47]

 

THAY LỜI KẾT

Trong các Sách Lễ nghi Rôma cổ, người ta thấy có những quy tắc chặt chẽ, ấn định việc dùng hương trong các thánh lễ, đặc biệt việc xông hương không thể thiếu khi cử hành các lễ kính và lễ trọng với cách xông hương vừa nhiều vừa phức tạp. Nhưng trong Sách lễ “Missale Romanum” với các ấn bản được ban hành sau Công đồng Vatican II, việc dùng hương được mở rộng, tuỳ chọn hơn và đơn giản hơn. Dù vậy, mọi tín hữu nên tìm hiểu ý nghĩa của hương trầm để nhờ hiểu được cách đầy đủ và sâu xa hơn, việc tham dự cử hành phụng vụ được chăm chú và ý thức hơn. Còn các thừa tác viên phụng vụ, nên nắm rõ quy định và thực hành hiện nay của Hội Thánh hoàn vũ cũng như của Hội Thánh địa phương để vừa tránh đi những thiếu sót và nhầm lẫn, tránh đi những “bóng râm” hay những “lạm dụng” phụng vụ, vừa giúp cho cử hành phụng vụ đúng, đẹp, linh thánh và sốt sắng.

Tác giả bài viết: Lm.Giuse Nguyễn Ngọc Ngà - GPCT

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Đăng ký nhận tin
Nhập email để nhận được những tin tức mới nhất từ chúng tôi.
Thống kê truy cập
  • Đang truy cập93
  • Máy chủ tìm kiếm3
  • Khách viếng thăm90
  • Hôm nay11,869
  • Tháng hiện tại131,064
  • Tổng lượt truy cập563,758
Đánh giá website

Quý vị đánh giá website GPLS thế nào?

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây