Tương quan giữa văn hóa và loan báo Tin Mừng

Thứ hai - 10/09/2018 20:34 136 0
Mối tương quan giữa đức tin và văn hoá đang là một trong những thách đố gay gắt cho thần học Kitô giáo và cho sứ vụ rao giảng Tin Mừng.
Tương quan giữa văn hóa và loan báo Tin Mừng

Trong mấy thập niên vừa qua, rất nhiều văn kiện của Toà Thánh và của các Hội Đồng Giám mục đề cập đến vấn đề sôi bỏng này. Nội dung của các văn kiện này rất đa diện: đi từ những suy nghĩ về bộ áo văn hoá của các công thức đức tin cho đến việc dấn thân của Giáo Hội trong việc phát triển văn hoá, ngang qua hội nhập văn hoá trong lãnh vực rao giảng Tin Mừng và thái độ phải có của Giáo Hội đối với các nền văn hoá mới.

 Dưới đây là một vài suy nghĩ liên quan đến vai trò của văn hóa và mối tương quan sinh tử giữa văn hóa với loan báo Tin Mừng.

1/ Khái niệm về văn hoá

 Trong truyền thống Tây phương, Văn hoá (culture, cultura, kultur) bắt nguồn từ tiếng Latin “cultus”. Theo nguyên ngữ, cultus có nghĩa là canh tác đất đai và gieo trồng thực vật. Với thời gian, “cultus” mang ý nghĩa chăm sóc, dưỡng dục con người về thể chất, cũng như  tinh thần.

 Trong cổ thư của Trung Hoa, văn hoá cũng mang một ý nghĩa tương tự: văn trị và giáo hoá. Chữ “văn” ở đây có nghĩa là “vẻ đẹp” và thường đối lập với “võ”. Do đó, văn hóa chứa đựng cái đẹp và các giá trị chân, thiện, mĩ.  

Đối với người Trung Hoa cũng như người Hy Lạp và La Mã ngày xưa, nói đến “văn hoá” là người ta liên tưởng đến hình ảnh lớp người có học, có kiến thức, thuộc tầng lớp ưu tú và tao nhã, đối lập với đám lê dân, phàm phu tực tử. Quan niệm văn hoá này đề cao “cái có” hơn là “cái là”: người văn hoá là người có học, có kiến thức, có thời giờ, có chức quyền… Đây là tầng lớp sĩ phu, giới nho sĩ, quan lại, trí thức hay giàu có, hoàn toàn cách biệt với quần chúng. Nhìn từ góc độ này, dĩ nhiên văn hoá bao hàm việc phân chia và đối lập không những giữa các thành phần trong cùng một nước, mà hơn nữa giữa các nước trên thế giới. Thật vậy, đối với người Hy Lạp cổ đại, văn hoá chỉ là đặc quyền của những công dân tự do; người La Mã coi những người sống bên ngoài đế quốc của họ là bọn “man di, mọi rợ” và người Trung Hoa cũng nghĩ như vậy khi tự cho mình là “tinh hoa của nhân loại”.

Trong thời kỳ chiếm thuộc địa, các nước Tây phương luôn vỗ ngực tự cho họ là những dân tộc có văn hóa và xếp các dân tộc khác vào loại  “không văn hóa” hay “bán khai, man di, mọi rợ”. Mãi đến hạ bán thế kỷ XIX, linh mục Aubry vẫn ngang nhiên viết những câu ngạo mạn như sau: “Văn hóa Trung hầu như về mọi phương diện là một sự quái dị, không những phản Kitô giáo mà còn phản nhân loại. Tôn giáo hay những tôn giáo của người Trung hoa đều quái dị, phi lý, đáng chê cười nhất thế gian… Chư tăng là hạng người đê tiện và đáng khinh bỉ, ngu dốt, hư hỏng. Nghệ thuật hoàn toàn vắng bóng, chưa bao giờ hiện diện ở đó. Trong các chùa chiền và đền đài, người ta vẽ hoặc chạm trổ một vài hình thù ma quỷ hoặc súc vật khủng khiếp, quái dị, hư ảo, nặng nề”[i]. Và rất nhiều lần, họ đã lấy chiêu bài “khai hóa văn hóa” để biện minh cho hành động xâm lược của mình.    

Tuy nhiên, từ cuối thế kỷ XIX, những biến đổi về khoa học kỹ thuật, nhân chủng học, xã hội học và văn hóa học đã giúp nhiều học giả Tây phương nhìn văn hoá dưới một góc độ khác: văn hoá thuộc về nếp sống, có chức năng tổ chức xã hội và gắn liền với bản chất con người[ii]. Như vậy, văn hóa bao gồm nhiều yếu tố phức tạp và trở thành một thứ thước đo các giá trị sáng tạo cũng như nhân bản của xã hội.

Nhà văn hoá học E.B. Taylor (1832-1917) quan niệm văn hoá như tổng hợp tất cả những yếu tố phân biệt con người với động vật và thế giới tự nhiên. Nói một cách tổng quát, văn hoá là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần do con người tạo ra trong quá trình lịch sử, kể từ lối sống, nếp nghĩ, ngang qua những mối tương quan với vũ trụ cho đến cách thức tổ chức xã hội. E.B. Taylor đã trình bày một cách cô đọng như sau: văn hoá bao gồm “tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, tập quán và một số năng lượng và thói quen khác được con người chiếm lĩnh với tư cách một thành viên của xã hội”[iii].

Trong viễn tượng đó, có rất nhiều văn hoá khác nhau, do đó cũng có nhiều khái niệm và định nghĩa về văn hoá. Ngay từ giữa thế kỷ XX, hai nhà văn hoá học Hoa Kỳ, A. Kroeber và C. Kluckholn, đã liệt kê khoảng 300 định nghĩa về văn hóa[iv]. Với sự phát triển của xã hội nói chung và văn hoá học nói riêng, quan niệm về văn hoá càng gia tăng và phong phú hơn. Các chuyên viên ước lượng có khoảng 3000 định nghĩa khác nhau. Sự đa dạng này vừa do tính phức tạp của văn hoá, vừa do người ta đã nhìn văn hoá dưới những khía cạnh khác nhau như dân tộc học, nhân văn học, xã hội học, triết học, tôn giáo học… Đây là những cái nhìn khác biệt, nhưng không nhất thiết loại trừ nhau, mà trái lại còn bổ túc và phong phú hoá cho nhau. 

Nhìn chung, văn hoá bao gồm toàn bộ năng lực và thành quả sáng tạo mà con người đạt được trong quá trình thực tiễn xã hội, vì vậy nó mang dấu ấn nhân văn và lịch sử, cho nên khác biệt rõ rệt với những gì tồn tại trong thiên nhiên. Xu hướng chung của văn hoá loài người là không ngừng sáng tạo và thích nghi: loại bỏ những cái cũ không còn thích hợp, tiếp thu của người và luôn phát triển trên cơ sở văn hoá mới.

Theo ông Federico Mayor, cựu Tổng Giám đốc UNESCO, “ban đầu người ta dùng từ văn hóa để đối lập với thiên nhiên, để phân biệt loài người có sáng tạo với loài vật chỉ biết tuân theo các quy luật tự nhiên. Từ văn hóa cũng được sử dụng để phân biệt giữa lao động giáo dục trí óc với lao động chân tay sản xuất hàng hóa. Nhiều định nghĩa khác nhau về văn hóa đã được nêu lên: có cái rông, cái hẹp. Đối với một số người, văn hóa chỉ bao hàm các kiệt tác tuyệt vời trong lãnh vực tư tưởng và sáng tạo; đối với một số người khác, văn hóa bao hàm tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc khác, từ những sản phẩm tinh vi hiện đại nhất cho đến tín ngưỡng, phong tục tập quán, lối sống và lao động. Cách hiểu thứ hai này đã được cộng đồng quốc tế chấp nhận tại Hội nghị liên chính phủ về các chính sách văn hóa họp ở Venise năm 1970”[v]. 

Với quan niệm rộng mở này, văn hóa có một ý nghĩa rất phong phú. Cũng chính Tổ chức UNESCO đã đúc kết sự phức tạp và đa diện của văn hóa qua một định nghĩa súc tích, mà hiện nay được nhiều người chấp nhận:

“Văn hoá phản ảnh và thể hiện một cách tổng quát và sống động mọi mặt của cuộc sống (của mỗi cá nhân cũng như các cộng đồng) đã thể hiện trong quá khứ, đồng thời đang diễn ra trong hiện tại, qua hàng bao thế kỷ nó đã cấu tạo nên một hệ thống các giá trị, truyền thống, thẩm mỹ và lối sống mà dựa trên đó từng dân tộc tự khẳng định bản sắc riêng của mình”[vi]. UNESCO cũng nhìn nhận vai trò chủ động của văn hoá trong công cuộc phát triển hôm nay: văn hoá vừa là mục tiêu, vừa là động lực, sức bật và hệ điều tiết của mọi công cuộc phát triển: kinh tế,  xã hội, chính trị.   

Xem như vậy, văn hoá là một tiến trình lịch sử lâu dài, nhiêu khê và rất đa dạng, với những giai đoạn phát triển, hưng thịnh hay suy vong khác nhau. Mặc dù một số người vẫn sử dụng văn hóa như một từ đồng nghĩa với văn minh, nhưng thực ra hai khái niệm này không hoàn toàn đồng nhất. Trên thực tế, chúng vừa có tương quan mật thiết, vừa khác biệt nhau. Nếu văn hoá là tất cả những gì con người tạo ra trong lịch sử, thì văn minh (civilisation) ám chỉ giai đoạn phát triển có đặc trưng và tiêu biểu nhất của một giai đoạn phát triển văn hóa nhất định nào đó[vii].

  

2/ Quan điểm của Giáo hội Công giáo

Giáo huấn xã hội Công giáo công nhận ý nghĩa tổng quát và bao trùm của văn hoá trên cuộc sống của con người. Công đồng Vatican II cũng diễn tả văn hoá theo chiều hướng của các nhà văn hoá học hiện đại. Theo Công đồng, “văn hoá bao gồm tất cả những gì nhờ đó con người trau dồi và phát triển các năng khiếu đa dạng về tinh thần và thể xác; cố gắng chế ngự trái đất bằng tri thức và lao động; nhân bản hoá  đời sống xã hội, cuộc sống gia đình cũng như toàn thể đời sống dân sự nhờ việc cải tiến các tập tục và định chế; sau hết, diễn tả, truyền thông và bảo tồn trong các tác phẩm những kinh nghiệm tinh thần và những hoài bão lớn lao của con người trải qua các thời đại, ngõ hầu giúp cho nhiều người và toàn thể nhân loại tiến bộ hơn”.

Trong viễn tượng ấy, “văn hoá nhân loại thiết yếu có chiều kích lịch sử và xã hội, và chữ “văn hoá” thường mang thêm một ý nghĩa xã hội và nhân chủng. Trong ý nghĩa này, người ta nói đến đa nguyên văn hoá. Bởi vì, những lối sống khác biệt và những mức thang giá trị khác nhau bắt nguồn nơi cách thế đặc biệt mà con người sử dụng sự vật, lao động, diễn tả tư tưởng, thực hành tôn giáo, nếp sống đạo đức, làm luật, thiết lập cơ cấu pháp lý, phát triển khoa học, nghệ thuật và trau dồi thẩm mỹ. Như vậy, từ các tập quán thừa kế hình thành một di sản riêng của mỗi cộng đồng nhân loại”[viii].

Các văn kiện của Giáo Hội luôn đề cao chiếu kích lịch sử và xã hội của văn hoá: chính con người tạo nên văn hóa của mỗi xã hội riêng biệt[ix]. Quan điểm này được đức Gioan Phaolô II trình bày một cách hết sức rõ nét trong bài diễn văn lịch sử đọc tại trụ sở UNESCO: “Văn hoá là một cách thế riêng biệt để hiện hữu và để làm người. Con người luôn sống trong một nền văn hoá. Đây là nền văn hoá riêng biệt của mỗi người, nhưng đồng thời nó lại tạo nên một mối dây liên hệ đặc biệt giữa người với nhau, xác định tính chất liên nhân vị và xã hội của cuộc sống nhân loại”[x].

Hiểu như vậy, văn hoá vừa là chiếc nôi của cuộc sống vừa là điều kiện thiết yếu để con người trở thành người. Bởi vì, “nhờ văn hóa, con người trở thành người hơn (…). Văn hóa luôn luôn hệ tại  tương quan căn bản và thiết yếu với cái mà con người là, trong khi đó mặc dù không phủ nhận mối tương quan với cái có, nhưng nó chỉ tương đối thôi. Tất cả “cái có” của con người không quan trọng đối với văn hóa và cũng không phải là yếu tố sáng tạo của văn hóa, ngoại trừ ngang qua “cái có” đó con người có thể “trở nên” người trọn vẹn hơn trong mọi chiều kích của sự hiện hữu và trong tất cả những gì được xem như đặc trưng của nhân tính”[xi]. 

Chúng ta gặp thấy nơi đây hai xác quyết căn bản luôn quyện lẫn, nối kết và bổ sung nhau: một mặt, con người và chỉ duy con người là tác giả của văn hóa; mặt khác, văn hóa chính là môi trường sống của con người. Cuộc sống nhân loại là văn hoá, bởi vì nhờ văn hoá con người tự phân biệt và khác biệt với tất cả những gì hiện hữu trong thế giới khả giác: con người không thể tự thực hiện và trở thành người nếu vắng bóng văn hoá. Vì vậy, “không thể tưởng tượng một văn hóa mà vắng bóng chủ thể tính hay nguyên nhân tính nhân loại. Trái lại, trong  lãnh vực văn hóa, con người luôn luôn là yếu tố tiên quyết: con người là yếu tố thứ nhất và nền tảng của văn hóa”[xii].

Thật thế, nhờ văn hoá con người chế ngự được sức mạnh mù quáng của thiên nhiên và vượt khỏi thế giới động vật để vươn tới cõi nhân sinh. Nói cách khác, “con người chỉ có thể đạt tới đặc điểm đích thực và trọn vẹn nhân bản ngang qua văn hoá, nghĩa là nhờ việc trau dồi những ưu phẩm và những giá trị của bản tính. Vì vậy, trong những gì liên hệ đến cuộc sống nhân loại, nhân tính và văn hoá liên kết chặt chẽ với nhau”[xiii].

Nhìn từ góc độ này, văn hoá tương đồng với nhân hoá (humanisation): chính ngang qua văn hoá, con người xây dựng thế giới loài người và “trở thành người” hơn. Cũng nhờ văn hoá, con người nhân hoá thiên nhiên và giải thoát mình khỏi thế giới hoang dã, tiền nhân bản. Do đó tiến trình văn hoá đồng nghĩa với tiến trình giải phóng. Chính văn hoá đã giải phóng con người khỏi những sức mạnh mù quáng, những nỗi sợ thiên thu vạn đại và đặt con người lên vị trí làm người. Vì thế, không thể quan niệm một xã hội nhân loại mà lại thiếu vắng văn hoá.

Trong thông điệp “Bách chu niên”, đức Gioan Phaolô II nêu rõ mối tương quan hỗ tương giữa văn hoá và ý nghĩa nhân sinh: “Không thể hiểu con người nếu chỉ dựa trên lãnh vực kinh tế, cũng như không thể xác định con người là gì nếu chỉ căn cứ vào việc họ thuộc về một giai cấp nào đó. Ta hiểu biết con người một cách trọn vẹn hơn nếu đặt con người vào bối cảnh văn hoá của họ, bằng cách lưu ý đến ngôn ngữ, lịch sử của họ, quan điểm của họ trước các biến cố nền tảng của đời sống, chẳng hạn như việc chào đời, tình yêu, lao động và cái chết. Trọng tâm của mọi nền văn hoá là thái độ của con người trước huyền nhiệm lớn lao nhất: mầu nhiệm Thiên Chúa. Từ căn bản, các nền văn hoá khác nhau là những cách thức khác nhau để đối diện với vấn đề ý nghĩa cuộc sống của mỗi người. Nếu loại bỏ vấn đề này thì nền văn hoá và đời sống luân lý của các quốc gia sẽ bị băng hoại”[xiv]. 

Khi diễn tả tính chất lịch sử và nhân chủng học như thế, chúng ta đã cảm nghiệm sự hiện diện khắp nơi của văn hóa trong cuộc sống nhân loại. Văn hóa mang đặc tính đa chiều, đa phương và đa diện, bởi vì nó bao trùm toàn diện cuộc sống của một dân tộc: toàn diện giá trị và phi giá trị, những nét độc sáng và đặc trưng của mỗi dân tộc. Có lẽ vì vậy văn hóa trở thành “bản sắc” hay một thứ “lương tâm tập thể”[xv] của mỗi dân tộc.

 

3/ Khuôn mặt mới của văn hóa

Hiến chế “Gaudium et Spes” và nhiều tài liệu của Giáo hội nhìn nhận những biến đổi sâu rộng về xã hội, chính trị, kinh tế, khoa học kỹ thuật… Về thiên văn học, chẳng hạn, trong 10 năm vừa qua, nhân loại thu nhận được nhiều kiến thức hơn 500 về trước. Nhiều người nói đến một kỷ nguyên mới của lịch sử nhân loại và chính những biến đổi chóng mặt của thời đại mới này đang ảnh hưởng sâu đậm trên nếp sống, nếp nghĩ, đường lối xử thế, cách thức tổ chức xã hội… của con người hôm nay. Dưới đây là một vài điểm tiêu biểu:

a) Nhờ sự phát triển của khoa học kỹ thuật, đặc biệt công nghệ thông tin, đã khai sinh một nền văn hóa mang tính toàn cầu. Khoảng cách không gian không còn ý nghĩa: những biến cố và tin tức được truyền đi tức thời và đến tận góc trời chân biển. Với sự phát triển của hệ thống vệ tinh, Internet, truyền thanh, truyền hình… nhân loại đang xích lại gần nhau hơn và có cơ hội hiểu biết, cũng như cảm thông với nhau nhiều hơn. Xuất hiện những “ngôi làng thế giới”, với ý thức ngày càng lớn mạnh về tư cách “công dân thế giới” hay công dân liên quốc gia của mình. Lối sống, nếp nghĩ, cách thế nhìn đời, sở thích, giải trí, phục sức, thực phẩm… ngày càng đồng nhất và đồng loạt hơn.

b) Nét đặc trưng của văn hóa mới này nằm ở những phương tiện tân tiến nhằm nâng cao, kiện toàn và phổ biến văn hóa ở tầm mức toàn cầu. Các giá trị văn hóa được phổ biến rộng rãi qua phương tiện truyền thông đại chúng hiện đại. Chính vì thế, không nên quá đào sâu “hố phân cách cơ giới” giữa các “phương tiện văn hóa” với chính “văn hóa”, bởi vì một trong những điểm mới của văn hóa hiện đại là nối kết hài hòa các khía cạnh đó. Các kỹ thuật mới mẻ và các phương tiện hiện đại về truyền thông đại chúng là thành phần cơ bản của chính hoạt động văn hóa trong thế giới hôm nay.

c) Các phương tiện truyền thông hiện đại và văn hóa mới đã khai sinh một hình ảnh mới về con người, với những dấu ấn độc đáo như sau:

 * Việc lên ngôi của khoa học tự nhiên và chính xác phát sinh tinh thần khách quan và óc phê bình. Con người hôm nay luôn đòi hỏi những lý chứng khách quan và thực nghiệm. Họ đặt nhẹ những luận chứng chỉ dựa trên thế giá hay quyền uy. Họ yêu cầu kiểm tra những giá trị truyền thống và rất dè dặt đối với những “nguyên lý ngàn đời” về qui tắc đạo đức, đường lối xử thế, cũng như niềm tin tôn giáo.

 * Những khám phá của tâm lý chiều sâu cống hiến cho con người hôm nay một cái nhìn mới về nguồn gốc và ý nghĩa của các hoạt động nhân loại. Theo S. Freud và các tâm lý gia chiều sâu, động lực đích thực của nhiều  hoạt động không phải là những gì xuất hiện nơi “lương tâm trong sáng” và có ý thức, mà nằm sâu ở tầng tiềm thức. Từ đó, một số người đưa ra yêu cầu nhức nhối: cần đặt lại vấn đề giá trị và ý nghĩa của tự do.

 * Công đồng Vatican II nhìn nhận rằng “các bộ môn sử học đẩy mạnh việc nhìn sự vật dưới chiều hướng  biến đổi và tiến hóa”[xvi]. Xuất hiện một lối đánh giá mới về “thời gian”, phân biệt giữa “thời gian khách quan” với “thời gian chủ quan”. Kết quả, nảy sinh một thái độ tương đối hóa và một tâm trạng hoài nghi đối với khái  niệm tổng quát, khách quan và bất di bất dịch về chân lý. Nhiều người đang đòi đặt lại một số vấn đề liên quan đến khả năng nắm bắt chân lý tuyệt đối và những xác quyết về các giá trị tuyệt đối, cũng như những qui tắc luân lý phổ quát, đúng cho mọi thời và mọi nơi.

d) Ngành xã hội học cho thấy mối tương quan chặt chẽ giữa nếp sống với văn hóa của con người hôm nay. Dưới đây là một số đặc điểm như sau:

 * Ngay từ thập thập niên 60 của thế kỷ trước, Công đồng Vatican II đã nhận định tình hình như sau: “Các tập tục và lối sống ngày càng đồng nhất; hiện tượng kỹ nghệ hóa, thành thị hóa và các yếu tố phát huy đời sống tập thể đang tạo nên những mô thức văn hóa mới (văn hóa đại chúng). Chính từ những văn hóa mới này phát sinh những cách thế cảm nghĩ, hành động và giải trí mới”[xvii].

 * Quan niệm “văn hóa đại chúng” nơi xã hội học hiện đại không đồng nghĩa với hiện tượng suy thoái văn hóa hay một hiện tượng thuần túy của đám đông. Đây đích thực những hình thức biểu hiện văn hóa, nhưng dưới dạng thức mới và đại chúng.

 * Xuất hiện một “hội ngộ văn hóa” hoàn toàn khác biệt với những hình thức cổ điển. Thật vậy, đây là lần đầu tiên, “hội ngộ văn hóa” xuất hiện độc lập với hiện tượng di dân, chiếm đóng hay thực dân, mà nhờ cách mạng thông tin và toàn cầu hóa. Những biến đổi này cho thấy đang hình thành “một mô hình văn hóa mới” phổ quát và đại chúng hơn. Văn hóa mới này vừa biểu lộ nét duy nhất, vừa trân trọng vẻ độc đáo và tính đa diện. 

e) Hơn 40 năm về trước, Công đồng Vatican II đã cho rằng “đang hình thành một nhân bản  mới trong đó con người được định nghĩa trước tiên tùy theo trách nhiệm đối với đồng loại và đối với lịch sử”[xviii]. Xuất hiện một nền nhân bản mới: nhân bản trách nhiệm.

Trải qua dài đời lịch sử nhân loại, có rất nhiều mô hình nhân bản[xix]. Dĩ nhiên, có những điểm chung giữa các nền nhân bản này, nhưng mỗi nền văn hóa có nét độc đáo riêng: nhân bản Hy lạp (trong đó con người được trình bày như một công dân tự do sống trong một thành thị Hy lạp: một hữu thể chính trị “animal politico”); nhân bản Kitô giáo thời Trung cổ (con người được coi như một thành phần của vũ trụ tạo dựng: một tâm hồn khát vọng chiêm ngưỡng Thiên Chúa); nhân bản duy lý của thời Hiện đại (con người được giới thiệu như một hữu thể suy tư của Descartes, như cây sậy rất mong manh và yếu đuối, nhưng lại là “cây sậy biết suy tư” của Pascal); nhân bản cách mạng của thế kỷ XIX-XX (con người trở thành  hữu thể giải phóng); nhân bản vô thần (con người như chiến sỹ chống lại vong thân tôn giáo); nhân bản nhân vị của trào lưu tư tưởng Kitô giáo ở thời đại chúng ta (không bao giờ được nhìn con người như một cái gì, mà phải là một ai đó: một nhân vị); nhân bản trách nhiệm định nghĩa con người bởi yếu tố trách nhiệm (con người trước hết là một hữu thể trách nhiệm).

Nhân bản trách nhiệm cảm nhận sâu xa nỗi đau và nỗi nhục trước cảnh bất công hay tình trạng khốn cùng của anh em đồng loại, đồng thời phẫn nộ khi nhân phẩm và nhân quyền bị xâm phạm, cũng như rất bức xúc trước những băng hoại về môi sinh và đạo đức. Trách nhiệm này ngày càng lớn mạnh, bởi vì mỗi ngày chúng ta ý thức rõ hơn về mối tương quan đồng lệ thuộc giữa các cá nhân: chúng ta không thể đạt được an vui và hạnh phúc lâu dài, nếu bất công, tham nhũng và tình trạng chênh lệch kinh tế giữa giàu và nghèo quá sâu thẳm. 

Nhờ sự bùng nổ của công nghệ thông tin, nhân loại hôm nay ý thức hơn trách nhiệm của mình đối với đồng loại, cũng như vận mệnh chung trên trái đất. Hình ảnh của trái đất như một hành tinh bé nhỏ, treo lơ lửng giữa không trung, đã thay đổi tận gốc rễ thái độ của nhiều người đối với vận mạng chung. Vẻ mong manh của trái đất đang trở thành lời mời gọi nhân loại cần can đảm đảm nhận trách nhiệm để cùng nhau hăng say bảo vệ sự sống trên địa cầu này.

 

 4/ Liên hệ giữa Văn hóa & loan báo Tin Mừng

Công đồng Vatican II chính thức công nhận: “có nhiều mối tương quan giữa sứ điệp cứu độ và văn hóa. Bởi vì, từ khi mạc khải cho dân Ngài cho tới khi biểu lộ tròn đầy trong Chúa Con nhập thể, Thiên Chúa đã nói với con người theo các loại văn hóa riêng biệt của từng thời đại. Cũng thế, trải qua những hoàn cảnh khác nhau của lịch sử, Giáo hội đã sử dụng tài nguyên của các nền văn hóa khác nhau để, qua lời rao giảng, phổ biến và trình bày sứ điệp của Đức Kitô cho muôn dân”[xx].

Sứ vụ loan báo Tin Mừng cho thời đại đa phức tôn giáo và đa văn hóa hôm nay đòi hỏi chúng ta phải tích cực dấn thân đối thoại với con người thời đại, với các trào lưu tư tưởng, với các tôn giáo và các nền văn hóa. Đây là mối tương quan giao thoa giũa “Phúc âm hóa” với “hội nhập văn hóa”: một mặt, Tin Mừng cần được diễn tả bằng những chất liệu và âm sắc độc đáo của mỗi nền văn hóa; mặt khác người tín hữu có nhiệm vụ tạo cơ hội để Tin Mừng thanh luyện và chiếu sáng các vùng tối nơi mỗi nền văn hóa. “Tin Mừng không ngừng thanh luyện và nâng cao phong hóa các dân tộc. Nhờ thiên ân, Tin Mừng phong phú hóa, từ bên trong, những phẩm tính thiêng liêng và những đặc tính của mỗi dân tộc và mỗi thời đại. Tin Mừng củng cố, bổ túc và tái tạo chúng trong Đức Kitô”[xxi].

Trên nguyên tắc, Tin Mừng không cần một đất riêng nào để sống và cũng chẳng đồng hóa với bất cứ nền văn hóa nào, nhưng trong thực tại lịch sử, công cuộc loan báo Tin Mừng không thể hoàn toàn tách rời khỏi các nền văn hóa. “Qua hội nhập văn hóa, Giáo hội nhập thể Tin Mừng vào các nền văn hóa khác nhau và đồng thời dẫn đưa các dân tộc cùng với các nền văn hóa của họ vào cộng đoàn Kitô hữu. Giáo hội truyền thông cho các dân tộc những giá trị của mình, đồng thời đón nhận những gì tốt đẹp trong các nền văn hóa đó và đổi mới chúng từ bên trong”[xxii].

 Mục vụ văn hóa trở thành một nhu cầu khẩn thiết trong sứ vụ loan báo Tin Mừng hôm nay[xxiii]. Theo các Giám mục Á châu, “văn hóa là không gian sống trong đó con người đến với Tin Mừng, mặt giáp mặt. Nếu đích thực văn hóa là thành quả của cuộc sống và hoạt động của một nhóm người, thì những con người thuộc nhóm đó cũng được uốn nắn một phần bởi nền văn hóa trong đó họ đang sốn (…). Từ viễn tượng đó, ta nhận thức rõ hơn tại sao Phúc âm hóa và hội nhập văn hóa liên hệ với nhau cách tự nhiên và mật thiết. Tin Mừng và công cuộc loan báo Tin Mừng chắc chắn không đồng nhất với văn hóa. Tuy nhiên, Nước Thiên Chúa đến với những con người gắn bó sâu xa với một nền văn hóa, và do đó, việc xây dựng Vương Quốc không tránh khỏi vay mượn các yếu tố rút ra từ các nền văn hóa nhân loại”[xxiv].

Chính vì thế, trong mấy thập niên vừa qua Giáo hội đặc biệt nhấn mặt đến tầm quan trọng của mối tương quan giao thao giữa đức tin và văn hóa. Trong văn thư  thành lập “Hội Đồng Tòa thánh về Văn hóa”, đức Gioan Phaolô II diễn tả một cách thâm thúy như sau:  “Một đức tin mà chưa biến thành văn hóa, là một đức tin chưa được đón nhận trọn vẹn, chưa thực sự suy tư, chưa sống một cách chân thành”[xxv].            

Đây cũng là những băn khoăn và thao thức hàng đầu của Các Nghị phụ của Thượng Hội đồng Giám mục Á châu: làm sao trình bày mầu nhiệm Chúa Kitô cho các dân tộc Á châu, theo cung cách văn hóa và lối suy nghĩ của người Á châu? Làm sao tái khám phá khuôn mặt Á châu của Đức Giêsu và tìm ra những cách thế thích hợp để người Á châu lãnh hội ý nghĩa của sứ điệp cứu độ phổ quát của Đức Giêsu?[xxvi]

Cuối cùng, theo các Nghị phụ của Thượng hội đồng các Giám mục Á châu “khi con người và xã hội thay đổi, thì nền văn hóa cũng bị thay đổi theo. Vì văn hóa biến đổi nên con người và xã hội cũng biến đổi theo”[xxvii]. Như vậy, vấn đề nền tảng là làm sao đưa ra những nguyên tắc và giá trị đạo đức có khả năng xây dựng một văn hóa vừa nhân bản, vừa mang sắc thái Tin Mừng. Đối với Giáo huấn xã hội Công giáo, phẩm giá con người và tình liên đới phải là yếu tố nền tảng. Hai yếu tố này diễn tả sự ưu việt của con người và lòng yêu thương trong cuộc sống nói chung và trong văn hóa nói riêng [xxviii]. 

Đối diện với nền văn hóa ích kỷ, bạo lực và chết chóc hiện nay, đức Gioan Phaolô II hô hào xây dựng “văn minh tình thương” [xxix], và coi liên đới như một nhân đức mới của Kitô giáo. Mặc dù để phát triển, văn hóa cần có một khung trời tự do và một sự tự trị chính đáng trong lãnh vực của mình, nhưng nói cho cùng văn hóa không có giá trị “tuyệt đối”, mà phải tùy thuộc vào sự phát triển con người toàn diện và phục vụ công thiện công ích của xã hội[xxx]. Như vậy, phải chăng cần nối kết văn hóa với chân, thiện, mỹ. Và phải chăng, quan điểm “văn dĩ tải đạo” của cổ nhân lại khẩn thiết đặt ra, dưới những dạng thức và trong bối cảnh mới?

Thư Mục vụ năm 2003 của Hội đồng Giám mục Việt Nam mời gọi người Công giáo mạnh dạn dấn thân vào những môi trường mới: “Đó là những môi trường văn hoá, chính trị, kinh tế, khoa học, kỹ thuật… Đó là những lãnh vực cần có sự hiện diện của Chúa Kitô, chứng tá của Hội Thánh và ánh sáng của tin Mừng”[xxxi].

Nhưng từ đó đến nay, người ta vẫn chưa thấy một biến chuyển đáng kể nào trong nếp nghĩ, nếp sống và đường hướng hoạt động của người Công giáo Việt Nam! Vẫn chưa có một đầu tư giá trị nào cho lãnh vực văn hóa hay một quyết định quan trọng liên hệ đến mối tương quan sinh tử giữa văn hóa với loan báo Tin Mừng. Xem ra, chúng ta vẫn tiếp tục ưu tiên xây dựng cơ sở vật chất hơn cơ sở văn hóa và tâm linh! Dĩ nhiên, chẳng ai chủ trương ngưng việc xây dựng nhà thờ và nhà xứ, nhưng một số người cảm thấy xót xa khi thấy việc đầu tư xây dựng con người và cơ sở văn hóa quá ít ỏi, nếu không muốn nói là chẳng có gì đáng kể!

Hơn bao hết giờ lời cảnh tỉnh của đức Gioan Phaolô II phải nằm trong mối bận tâm và dự phóng loan báo Tin Mừng của chúng ta: “Một đức tin mà chưa biến thành văn hóa, là một đức tin chưa được đón nhận trọn vẹn, chưa thực sự suy tư, chưa sống một cách chân thành”.

  

ĐGM Paul Nguyễn Thái Hợp, O.P.

 

—————————–

 

[i] Aubry, Les Chinois chez eux, Paris, 1889, 139-140.

[ii] Xem Đào Duy Anh, Việt Nam văn hóa sử cương, Nxb Hội Nhà văn, 2000, 13-14 ; Trần Ngọc Thêm, Tìm về Bản sắc Văn hóa Việt Nam, Nxb  Tp HCM, 1997, 21tt.

[iii] E.B. Taylor, Văn hoá nguyên thuỷ, bản dịch VN của Huyền Giang, Hà Nội, 2001, tr. 13.

[iv] Xem A.L. Kroeber, C. Kluckholn, Culture: A Critical Review of Concepts and Definitions : Papers of Peabody Museum 47, 1952,1 ; E. Chiavacci, Principi di morale sociale, Bologna, 1971,51.

[v] Người đưa tin UNESCO, 11-1989, tr. 5.

[vi] Uỷ ban Quốc gia về thập kỷ phát triển văn hoá: Thập kỷ thế giới phát triển văn hoá, Bộ Văn hoá Thông tin, Hà Nội, 1992, tr. 23.

[vii] Xem Hao Xia Jun, “Văn hoá và văn minh”, trong Văn hoá học và văn hoá thế kỷ XX, t.I, Nxb Thông tin Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2001, tr. 113-116.

[viii] Vatican 2, Gaudium et Spes, số 53.

[ix] Về vấn đề này, xin đọc Hội Đồng Tòa Thánh về Văn hóa, Fede e Cultura, Antología di testi del Magistero Pontificio da Leone XIII a Giovanni Paolo II, Vaticano, 2003.

[x] Gioan Phaolô II, Diễn văn đọc tại UNESCO, ngày 2 -6-1980, trong Ecclesia, số 1986 (14-6-1980), số 17; đăng lại trong Fede e Cultura, sđd., số 1129.

[xi] Ibidem, số 1130.

[xii] Ibidem, số 1131.

[xiii] Vatican II, Gaudium et Spes, số 53.

[xiv] Gioan Phaolô II, Bách chu niên, số 24.

[xv] HĐGM Mỹ châu Latinh, Peubla, số 387.

[xvi] Vatican II, Gaudium et Spes, số 54.

[xvii] Ibidem.

[xviii] Ibidem, số 55.

[xix] “Nhân bản được hiểu như cách thế mà con người, trong một thời điểm nhất định của lịch sử và trong một không gian văn hóa nhất định, hiểu, ứng dụng và diễn tả trong các tác phẩm của mình những gì cấu tạo nên sự cao cả đích thực của con người và làm cho con người phân biệt với thú vật và sự vật. Trong mỗi mô hình nhân bản đều bao hàm một quan niệm nào đó, rất khó diễn tả bằng một định nghĩa, về con người”(A. Dondeyne, El desarrollo de la cultura : La Iglesia en el mundo de hoy, II, Madrid, 1970,576-577).

[xx] Vatican II, Gaudium et Spes, số 58.

[xxi] Ibidem.

[xxii] Gioan Phaolô II, Sứ vụ Đấng Cứu độ, số 52.

[xxiii] Xem Hội đồng Tòa thánh về văn hóa, Per una pastorale della cultura, 1999.

[xxiv] Gioan Phaolô II, Giáo hội tại Á châu, số 21,

[xxv] ngày 20 tháng 5 năm 1982.

[xxvi] Giáo hội tại Á châu, số 20.

[xxvii] Ibidem, số 21.

[xxviii] Hội Đồng Tòa Thánh “Công lý & Hòa bình”, Compedium de la Doctrine sociale de l’Eglise, Vatican, 2005, 328-329 .

[xxix] Cf. Gioan Phaolô, Bách chu niên, số 10.

[xxx] Theo Công đồng Vatican II, “văn hóa phải nhằm phục vụ việc phát triển con người toàn diện, phục vụ lợi ích của cộng đoàn và của toàn thể nhân loại” (Gaudium et Spes, số 59).

[xxxi] Hội đồng Giám mục Việt Nam, Sứ mạng loan báo Tin Mừng của Hội thánh Việt Nam hôm nay, 10.10.2003, số 8.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Đăng ký nhận tin
Nhập email để nhận được những tin tức mới nhất từ chúng tôi.
Thống kê truy cập
  • Đang truy cập12
  • Máy chủ tìm kiếm4
  • Khách viếng thăm8
  • Hôm nay2,960
  • Tháng hiện tại75,452
  • Tổng lượt truy cập954,320
Đánh giá website

Quý vị đánh giá website GPLS thế nào?

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây