Kinh Nghiệm Loan Truyền Tin Mừng

Thứ năm - 10/09/2020 01:21 68 0
Xin đưa mắt nhìn cánh đồng truyền giáo thật bát ngát bao la và gởi nhiều tay thợ lành nghề đem Tin Mừng đến cho mọi loài thọ tạo.
Kinh Nghiệm Loan Truyền Tin Mừng

1.  Ba thế kỷ đầu, tính tới sắc lệnh của Constantin, Kitô giáo lan rộng. Những tác nhân chính trước hết là những ngôn sứ dong duổi trên các nẻo đường, kế đến là các Giám mục;

2.  Thế kỷ thứ 6 đến 9, nhờ các đan sĩ, người ta tham gia vào cuộc loan truyền Tin Mừng mới cho Châu Âu sau các cuộc xâm chiếm của những người man di;

3.  Thế kỷ 16 với sự khám phá “thế giới mới” và sự hoán cải vào Kitô giáo của các dân tộc thuộc “thế giới mới” nhờ hoạt động của các tu sĩ;

4.  Đương thời Giáo hội dấn thân trong công cuộc loan truyền Tin Mừng mới cho Châu Âu đã bị thế tục hóa với sự tham gia đáng kể của giáo dân.

Ở mỗi thời kỳ, tôi cố gắng làm rõ điều mà ta có thể rút kinh nghiệm cho Giáo hội ngày nay: đâu là những lầm lỗi cần tránh, những gương lành cần noi theo, những đóng góp của các đan sĩ, những tu sĩ hoạt động tông đồ và các giáo dân.

 Làn Sóng Loan Truyền Tin Mừng Đầu Tiên

1.  Giáo hội phát triển, ơn đức tin lan rộng

Hôm nay chúng ta khởi đầu bằng suy tư về cuộc loan truyền Tin Mừng Kitô trong ba thế kỷ đầu. Một lý do đặc sắc đó là giai đoạn này là mẫu mực cho mọi thời. Đây là giai đoạn Kitô giáo khai phá con đường mà tuyệt nhiên chỉ cậy vào sức riêng mình. Chẳng có “bàn tay thế tục” nào phù giúp: những cuộc hoán cải chẳng là kết quả của lợi thế nào bên ngoài, cả vật chất, cả văn hóa. Trở nên Kitô hữu không phải là một thói quen hay là cái mốt, nhưng là một chọn lựa ngược đời, ngay cả có nguy cơ mất mạng. Tình huống này, cách nào đó, là tình huống mà các Kitô hữu ngày nay đang gánh chịu tại một số miền trên thế giới.

Lòng Tin Kitô hiện diện mở rộng đón nhận toàn thế giới. Chúa Giêsu đã truyền cho các môn đệ lên đường đi “khắp thiên hạ” (Mc 16, 15), “làm cho muôn dân trở thành môn đệ” (Mt 28, 19), trở thành các chứng nhân “tới tận cùng trái đất” (Cv 1, 8), “phải nhân danh Người mà rao giảng cho muôn dân kêu gọi họ sám hối để được ơn tha tội” (Lc 24, 47). Sự ứng dụng nguyên lý phổ quát này đã xuất hiện ngay từ thế hệ các Tông đồ, giữa những khó khăn và những xâu xé. Ngày Chúa Thánh Thần Hiện Xuống, hàng rào đầu tiên được gỡ bỏ để bước qua là sự ngăn cách các chủng tộc (ba ngàn người hoán cải thuộc các sắc dân khác nhau, nhưng tất cả họ là những người tòng giáo theo phái Giuđa); trong nhà ông Corneille và tại Công đồng “Giêrusalem”, hàng rào ngăn cách trì trệ nhất mà đã được vượt qua, đặc biệt do sức thúc đẩy của thánh Phaolô, là hàng rào tôn giáo đã từng chia cắt giữa những người Do thái và dân ngoại. Từ nay Tin Mừng hướng tới toàn thế giới, dù theo hiểu biết của người đương thời, thế giới này giới hạn trong vùng Đia Trung Hải và trải rộng tới biên giới đế quốc Rôma.

Dõi theo sự lan rộng cụ thể hay là địa lý của Kitô giáo trong ba thế kỷ đầu còn có nhiều điều phức tạp nhưng chúng không cần cho mục đích của chúng ta mấy. Nghiên cứu đầy đủ nhất về vấn đề này và luôn có giá trị là nghiên cứu của Adolph von Harnack: “Sứ vụ truyền giáo và sự lan rộng của Kitô giáo trong ba thế kỷ đầu” .

Trong Giáo hội, hoạt động truyền giáo được thúc đẩy mạnh mẽ thời hoàng đế Commode (180-192) và tiếp theo vào hậu bán thế kỷ thứ ba, tức là giáp tới cuộc bách hại khủng khiếp của Dioclétien (302). Ngoài vài cuộc bách hại lẻ tẻ địa phương, đây là giai đoạn Giáo hội khai sinh, trở nên vững mạnh trên bình diện nội lực và phát huy hoạt động truyền giáo với phong cách mới mẻ.

Ta hãy xem coi cái mới mẻ này nằm ở đâu. Trong hai thế kỷ đầu, sự truyền bá đức tin dựa vào sáng kiến cá nhân. Sách Didaché gọi họ là những ngôn sứ dong duổi các nẻo đường. Rất nhiều cuộc hoán cải là kết quả của những tiếp xúc cá nhân, được thuận lợi trong cùng nghề nghiệp, cùng hành trình  đây đó và cùng những mối liên hệ thương mại, cùng phục vụ trong quân ngũ hay những hoàn cảnh khác của cuộc sống. Origène lưu lại cho ta bức tranh cảm động về lòng nhiệt thành của những sứ giả đầu tiên này: “Các Kitô hữu làm tất cả những gì có thể để gieo rắc đức tin cho thế giới. Có những người cống hiến cả đời cho muc tiêu này, dong duổi khắp các làng mạc, thị thành để đem các tín hữu mới về cho Chúa. Tôi nghĩ người ta sẽ không nói họ làm như vậy để được lợi lộc, vì họ thường từ chối ngay cả cái cần thiết để sống.”

Vào hậu bán thế kỷ III, những sáng kiến cá nhân dần dần được sắp xếp lại và một phần được thay thế bởi cộng đoàn địa phương. Có lẽ chỉ vì phản ứng trước những áp lực phá hoại của lạc giáo Ngộ thuyết, các Giám mục kiểm soát các nhà truyền giáo, và giữ vai trò trung tâm trong đời sống nội bộ của cộng đoàn, là người cổ võ hoạt động truyền giáo. Từ đó cộng đoàn là chủ thể loan truyền Tin Mừng, đến nỗi một chuyên gia như Harnack quả quyết người ta không thể nghi ngờ mối thiện cảm đối với cơ chế: “Chúng ta nhìn nhận sự thật là sự hiện hữu duy nhất và công việc bền bỉ của mỗi cộng đoàn hệ tại yếu tố chính là truyền bá Kitô giáo.”

Cuối thế kỷ thứ ba, đức tin Kitô thực sự thấm nhập mọi tầng lớp xã hội. Từ nay đức tin có văn chương riêng bằng Hy ngữ và nền văn chương khác vừa khởi sự bằng La ngữ. Tổ chức nội bộ trong đức tin vững chắc. Trong đức tin người ta bắt đầu xây dựng những công trình mỗi ngày một lớn hơn, cho thấy con số các tín hữu lớn mạnh. Cuộc bách hại dữ dội của Dioclétien gây ra một số nạn nhân, nhưng lại làm nổi bật sức mạnh của đức tin Kitô từ đây không thể bóp nghẹt được. Bàn tay sắt của đế quốc trước Kitô giáo làm chứng điều đó.

Vua Constatin đích thực làm sáng tỏ thêm về sức mạnh này. Không phải nhà vua mang Kitô giáo đến cho dân chúng, nhưng dân chúng mang Kitô giáo đến cho ông. Có những khẳng định như kiểu của Dan Brown trong tiểu thuyết “Da Vinci Code” và một số những người khác, theo họ, vua Constantin vì những lý do cá nhân đã phải thay đổi bởi một sắc lệnh khoan dung và với Công đồng Nicée, bởi một hệ phái tôn giáo u ám của người Giuđa trong tôn giáo của đế quốc... Những khẳng định đó dựa trên sự mù tịt về bao điều diễn ra trước đó.

2.  Những lý do thành công

Một vấn đề luôn gây thích thú cho các sử gia là những lý do dẫn tới sự khải hoàn của Kitô giáo. Một sứ điệp khai sinh trong cái xó tăm tối và bị đế quốc khinh miệt, giữa những con người đơn sơ, không văn hóa và không quyền lực, trong chưa đầy ba thế kỷ lan rộng trên thế giới theo quan niệm thời đó, rốt cuộc thống lãnh nền văn hóa hết sức tinh tế của dân Hy lạp và quyền lực đế quốc Rôma!

Giữa những lý do thành công khác nhau, một số hệ tại tình yêu của các Kitô hữu và sự thực thi năng động tình bác ái, tới mức làm nên “nhân tố mạnh mẽ nhất, đặc trưng nhất cho sự thành công của đức tin Kitô” đến nỗi về sau hoàng đế Julien l’Apostat đã hội nhập chính những công việc bác ái đó cho dân ngoại để chống lại sự thành công Kitô giáo.

Về phần Harnack, ông nhấn mạnh tầm quan trọng của điều ông gọi là bản tính “ôm trọn tất cả” của đức tin Kitô, nghĩa là khả năng hòa giải trong mình những khuynh hướng đối nghịch và những giá trị khác nhau vốn có trong những tôn giáo và văn hóa thời ấy. Kitô giáo đồng thời hiện diện như tôn giáo của Thánh Thần và quyền năng, nghĩa là có những dấu siêu nhiên, những đặc sủng và phép lạ kèm theo cũng như là tôn giáo của lý trí và của trọn nghĩa “Logos”, của “nền triết lý chân thực” như thánh Justinô từng nói. Những tác giả Kitô là những nhà “triết lý về sự siêu nhiên”, như Harnack khẳng định khi trích dẫn thánh Phaolô trong vấn đề thánh nhân bàn về đức tin được diễn tả như “sự tôn thờ chân thực” (Rm 12, 1).

Như vậy, trong sự quân bình hoàn hảo, Kitô giáo tập hợp trong mình vừa “Logos” (Lời) vừa “Pneuma” (Thần Khí), sự trật tự và niềm say mê, cái mực thước và cái thái quá, cái mà triết gia Nietzsche định nghĩa là yếu tố “apollinien” và “dionysiaque”  trong tôn giáo người Hy lạp. Đó là điều mà các Giáo phụ hiểu, ít là phần nào, qua chủ đề “sự say sưa chừng mực Thánh Thần”. Harnack viết trong phần kết của công trình khảo cứu đồ sộ của ông: “Ngay từ đầu, Kitô giáo đã tỏ ra tính phổ quát cho phép hội nhập toàn bộ cuộc sống, với tất cả chức năng, sự vươn lên, chiều sâu, cảm xúc, tư tưởng và các hoạt động trong đời. Chính tinh thần phổ quát đã bảo đảm cho vinh quang Kitô giáo, dẫn tới niềm tuyên xưng rằng Đức Giêsu mình loan báo là Lời Thiên Chúa... Một ánh sáng mới chiếu soi, là sức mạnh hấp dẫn nuốt trọn triết lý Hy lap, sử dụng nền triết lý ấy, và tỏ ra là yếu tố thiết yếu. Có thể nói, tất cả những gì dù chỉ còn “thoi thóp”, một khi bước vào thì trở thành nhân tố xây dựng Kitô giáo... Một tôn giáo như thế làm sao lại không chinh phục tất cả?”

Cảm tưởng khi đọc những dòng tổng hợp trên là sự thành công của Kitô giáo phải dựa vào toàn bộ các yếu tố. Một số người đi quá xa mải miết tìm những lý do tạo nên sự thành công ấy, nêu ra hai mươi lý do thuận lợi cho đức tin cũng như những người khác đề ra những lý do bất lợi, gây cảm tưởng là giải đáp chung cuộc tùy thuộc vào sự chiến thắng của những thuận lợi trên những bất lợi.

Bây giờ tôi xin làm rõ cái giới hạn của sự tiếp cận sử học kiểu như trên, dù sự tiếp cận này được các sử gia-tín hữu mà tôi đã nhắc tới sử dụng. Cái giới hạn hệ tại chính phương pháp sử học, là người ta quá đặt tầm quan trọng nơi chủ thể hơn là đối tượng của sứ vụ, nơi người và những điều kiện loan truyền Tin Mừng hơn là nội dung được loan truyền.

Lý do thúc đẩy tôi làm rõ là vì cái giới hạn này cũng là giới hạn và nguy hiểm mà ta lại thấy tái diễn trong nhiều phương thức tiếp cận mà truyền thông ngày nay sử dụng khi đề cập cuộc loan truyền Tin Mừng mới. Người ta quên đi một điều rất đơn giản: chính Đức Giêsu đã giảng nghĩa trước về sự lan rộng của Tin Mừng của Người và phải quy chiếu về đây mỗi khi chúng ta chuẩn bị một nỗ lực tông đồ mới.

Xin mời nghe lại hai dụ ngôn ngắn của Tin Mừng, dụ ngôn hạt giống nảy mầm, tăng trưởng ngay cả ban đêm và dụ ngôn hạt cải.

Chúa đã nói: “Chuyện Nước Thiên Chúa thì cũng tựa nhu chuyện một người vãi hạt giống xuống đất. Đêm hay ngày, người ấy có ngủ hay thức, thì hạt giống vẫn nảy mầm và mọc lên, bằng cách nào, thì người ấy không biết. Đất tự động sinh ra hoa màu: trước hết cây lúa mọc lên, rồi trổ đòng đòng, và sau cùng thành bông lúa nặng trĩu hạt. Lúa vừa chín, người ấy đem liềm hái ra gặt, vì đã đến mùa.”

Dụ ngôn này, tự nó nói cho ta lý do cốt yếu của sự thành công trong sứ vụ Kitô không đến từ bên ngoài mà từ bên trong, không do việc người gieo cũng không do đất, nhưng do chính hạt giống được gieo xuống. Hạt giống không thể tự mình gieo xuống, nhưng tự động tự nảy mầm. Đi gieo về, người gieo có thể đi ngủ, đời sống hạt giống không lệ thuộc vào người gieo. Khi hạt giống là “hạt rơi xuống đất và chết đi”, là Đức Giêsu Kitô, thì chẳng có gì có thể cản trở Người sai hoa kết quả. Người ta có thể giải nghĩa đủ kiểu như họ muốn về những hoa trái này, nhưng họ mới chỉ nắm bắt được cái hời hợt bề ngoài chứ chẳng bao giờ đạt được cái cốt yếu.

Tông đồ Phaolô là người đã nắm bắt một cách mạch lạc sự trổi vượt của đối tượng được loan báo so với chủ thể đi loan báo: “Tôi trồng, Apollos tưới; nhưng chính Chúa cho mọc lên.” Những lời ấy như giải thích dụ ngôn của Chúa Giêsu. Không phải ba việc quan trọng ngang nhau, nên vị tông đồ thêm: “Vậy kẻ trồng chẳng là gì, người tưới cũng vậy; chỉ Đấng cho mọc lên là đáng kể!” (1 Cr 3, 6-7). Sự cách biệt về phẩm chất giữa chủ thể và đối tượng được loan báo cũng được thấy trong một lời khác của thánh Tông đồ: “Nhưng kho tàng ấy, chúng tôi lại chứa đựng trong những bình sành, để chứng tỏ quyền năng phi thường phát xuất từ Thiên Chúa, chứ không phải từ chúng tôi” (2 Cr, 4,7). Tất cả được diễn tả trong lời công bố: “Chúng tôi không rao giảng chính chúng tôi, nhưng Đức Giêsu Kitô Chúa chúng tôi”; và: “Chúng tôi rao giảng Đức Kitô chịu đóng đinh.”

Đức Giêsu còn kể dụ ngôn thứ hai dựa trên hình ảnh hạt giống giải nghĩa sự thành công trong sứ vụ Kitô và ngày nay người ta phải lưu ý tới, trước bổn phận bao la tái Phúc Âm hóa một thế giới đã bị thế tục hóa.

Chúa đã nói: “Chúng ta ví Nước Thiên Chúa với cái gì đây? Lấy dụ ngôn nào mà hình dung được? Nước Thiên Chúa giống như hạt cải, lúc gieo xuống đất, nó là loại hạt nhỏ nhất trên mặt đất. Nhưng khi gieo rồi, thì nó mọc lên lớn hơn mọi thứ rau cỏ, cành lá xum xuê, đến nỗi chim trời có thể làm tổ dưới bóng” (Mc 4, 30-32).

Giáo huấn Đức Kitô dạy chúng ta qua dụ ngôn này là Tin Mừng của Người, là chính Người, là cái bé nhỏ nhất trên mặt đất vì chẳng có gì bé nhỏ và yếu đuối hơn một cuộc đời kết liễu trên thập giá. Tuy nhiên, “hạt cải” bé nhỏ này lại thở thành một cây bát ngát, lớn tới nỗi cành của nó có khả năng đón tất cả chim chóc đến trú ngụ. Như thế nghĩa là tất cả tạo vật, thực sự là tất cả sẽ đến trú ngụ.

Giải đáp này khác xa biết bao so với lối giải thích lịch sử vừa gợi tới trên đây. Theo giải thích lịch sử, tất cả xem ra không chắc chắn, bấp bênh, giao động giữa cái thành công và thất bại. Còn ở đây, tất cả đã được quyết định và bảo đảm từ đầu! Vào thời điểm việc xức dầu thơm tại Béthanie, Đức Giêsu kết luận với lời lẽ này: “Quả thật, Thầy bảo anh em: Tin Mừng này được loan báo bất cứ nơi nào trong khắp thiên hạ, thì người ta cũng sẽ kể lại việc cô vừa làm mà nhớ tới cô” (Mt 26, 13). Một ngày kia sẽ diễn ra cũng một ý thức trầm lặng ấy khi sứ điệp của Người lan rộng “khắp thế giới”. Chắc chắn đây không phải là lời tiên báo “sau sự kiện”, vì vào thời điểm ấy, tất cả tiên báo chiều hướng ngược lại.

Về điều này, giữa bao người, thánh Phaolô là người nắm bắt được “mầu nhiệm ẩn giấu” nhất. Một sự kiện luôn luôn đánh động tôi: Thánh Tông đồ đã rao giảng tại Aréopage thành Athènes và đã trải nghiệm sự từ chối sứ điệp, được diễn tả cách lịch sự bằng lời hứa sẽ đón nghe vào dịp khác. Ngay sau đó ngài đi Côrintô, từ đây ngài viết là thư gởi dân Roma, khẳng định đã nhận nhiệm vụ đem “mọi dân tộc về vâng phục đức tin” (Rm 1, 5-6). Việc không thành công không làm suy giảm nhuệ khí xác tín vào sứ điệp: “Vâng, tôi không hổ thẹn vì Tin Mừng. Quả thế, Tin Mừng là sức mạnh Thiên Chúa dùng để cứu độ bất cứ ai có lòng tin, trước là người Do thái, sau là người Hy lạp” (Rm 1, 16).

Đức Giêsu nói “xem quả thì biết cây” (Lc 6,44). Điều này có giá trị cho mọi loại cây, trừ loại cây mọc lên từ Chúa là Kitô giáo (và thực ra ở đây Chúa nói về con người); Chúa là cây duy nhất mà không được nhận biết qua hoa trái, nhưng qua gốc rễ. Đối với Kitô giáo, sự sung mãn không nằm ở chung cuộc, như trong biện chứng Hegel về sự tiến bộ (“cái thực là cái toàn bộ”), nhưng nằm ở khởi điểm; chẳng có hoa trái nào, dù là các vị thánh vĩ đại, có thể thêm chút gì vào sự hoàn thiện của nguyên mẫu. Trong chiều hướng nay, có người khẳng định “Kitô giáo không thể hoàn thiện hơn” là có lý.

3.  Gieo hạt và...đi ngủ

Điều mà các sử gia thời nguyên thủy Kitô giáo không lưu giữ, hay họ nghĩ là ít quan trọng, là sự vững vàng không thể lay chuyển mà các Kitô hữu xưa, ít ra những người ưu tú trong số họ, đã có sự lành thánh và sự chiến thắng chung cuộc trong chính nghĩa của họ. “Các ông có thể giết chúng tôi, nhưng không bao giờ hại được chúng tôi”, là lời thánh tử đạo Justinô đáp lại viên thẩm phán Rôma khi ông kết án tử hình ngài. Cuối cùng, chính sự vững vàng trầm lắng này bảo đảm cho các ngài sự chiến thắng, cuộc chiến thắng thuyết phục uy quyền chính trị về những nỗ lực vô ích của họ nhằm xóa bỏ đức tin Kitô.

Điều mà ngày nay chúng ta cần: thức tỉnh nơi các Kitô hữu, it nhất nơi những người muốn dâng hiến mình cho công cuộc Phúc Âm hóa mới, sự vững vàng sâu thẳm của chân lý mà họ loan truyền. Đức Phaolô VI từng nói: “Giáo hội cần tìm lại mối bận tâm, cái hương vị và sự vững vàng trong chân lý.” Chúng ta phải trở nên những người đầu tiên tin điều chúng ta loan báo mà là tin vững vàng. Chúng ta phải có thể chung lời với Phaolô: “Tôi đã tin nên tôi mới nói. Và chúng tôi, là Tông đồ, được sinh động bởi cùng một đức tin, chúng tôi tin nên chính chúng tôi cũng nói” (2Cr 4, 13).

Nhiệm vụ cụ thể mà hai dụ ngôn ủy thác cho chúng ta chính là gieo hạt. Gieo rắc quảng đại, “dù thuận thời hay trái trở” (2Tm 4, 2). Người gieo hạt giống trong dụ ngôn ra đi gieo hạt không bận tâm tới một phần hạt rơi trên đường sá và phần khác trong bụi gai, và thiết nghĩ rằng bên ngoài biểu tượng của dụ ngôn là chính Đức Giêsu. Vì trong trường hợp này, người ta không thể biết trước mảnh đất nào là tốt, hay khô cằn như sỏi đá, mảnh đất nào sẽ như bụi gai bóp nghẹt hạt giống. Chính ở đây tự do của con người vào cuộc mà loài người không thể thấy trước và Thiên Chúa không muốn xâm phạm. Biết bao lần ta từng khám phá ra rằng giữa những người cùng nghe một bài giảng hay cùng đọc một cuốn sách, người mà đã đặt vấn đề nghiêm chỉnh và biến đổi cuộc đời lại là người ta ít mong đợi nhất, là người thấy mình vào cuộc như ngẫu nhiên hay miễn cưỡng. Chính tôi có thể kể tới vài chục trường hợp như vậy.

Nào gieo hạt, và sau đó... đi ngủ! Nói cách khác gieo hạt và không phải ở lại đó mãi mà nhìn, xem khi nào nó mọc lên, hay mỗi ngày mọc thêm bao nhiêu centimét. Việc hạt bén rễ và lớn lên không phải là việc của ta, mà là của Chúa và của người lắng nghe. Nhà hài hước nổi tiếng người nước Anh sống vào thế kỷ 19, Jerome Klapla Jerome nói rằng cách tốt nhất làm cho nồi nước lâu sôi là mở vung nhìn và nóng nảy đợi chờ.

Làm trái phương thức của Chúa là cái gốc sinh ra âu lo và bất nhẫn: đó là những sự việc không làm vui lòng Đức Giêsu mà khi Người còn tại thế, Người chẳng bao giờ làm. Trong Tin Mừng, xem ra Người chẳng bao giờ vội vã. "Vậy anh em đừng lo lắng về ngày mai: ngày mai, cứ để ngày mai lo. Ngày nào có cái khổ của ngày ấy” (Mt 6, 34).

Về chủ đề này, người tín hữu thi sĩ Charles Péguy đặt nơi miệng Chúa những lời có ích cho ta khi nghiền ngẫm chúng:

“Ta nghe nói

Có những người làm việc vất vả mà lại mất ngủ.

Người mất ngủ là người thiếu tin cậy Ta!

Hầu như tệ hơn là không làm việc mà ngủ ngon,

Vì tội lười biếng không nặng hơn lắng lo...”

Chúa nói,

“Ta không bàn tới những người

Không làm cũng không ngủ.

Hẳn nhiên họ là tội nhân...

Ta nói tới người làm việc vất vả mà mất ngủ...

Ta buồn cho họ vì chẳng tín thác nơi Ta.

Họ khéo léo điều hành công việc ban ngày

Lại chẳng muốn tín thác công việc cho Ta khi đêm về...

Kẻ mất ngủ là người thất tín với đức Cậy Trông...”

 

Tóm lại, bài suy tư này khuyến khích chúng ta đặt vào nền tảng cuộc dấn thân loan truyền Tin Mừng mới, niềm tin và lòng cậy trông mạnh mẽ, giải trừ cảm nghĩ “lực bất tòng tâm” và cam chịu. Quả thực trước mặt chúng ta là một thế giới tự khép kín trong chiều hướng thế tục, say sưa với những thành công kỹ thuật và những gì khoa học có thể cung cấp, ngang ngạnh trước sứ điệp Tin Mừng. Nhưng thế giới trước mắt các Kitô hữu tiên khởi là nền văn hóa Hy lạp sáng chói suy tư triết lý và đế quốc Rôma đầy quyền lực... phải chăng ít ngang ngạnh hơn trước Tin Mừng?

Nếu có một việc chúng ta có thể làm sau khi đã “gieo” đó là “tưới dội chăm sóc” hạt đã gieo bằng nguyện cầu. Chúng ta kết thúc với lời nguyện của phụng vụ Thánh lễ cầu nguyện cho công cuộc “Loan Tin Mừng cho các dân tộc”:

“Lạy Chúa, Chúa muốn cho hết thảy mọi người được ơn nhận biết Chúa. Chúa lại muốn đón nhận tất cả vào nước Chúa hiển trị. Xin đưa mắt nhìn cánh đồng truyền giáo thật bát ngát bao la và gởi nhiều tay thợ lành nghề đem Tin Mừng đến cho mọi loài thọ tạo. Nhờ đó, từ các dân tộc trên khắp hoàn cầu, sẽ xuất hiện một dân mới không ngừng phát triển: đó là đoàn dân được Lời Chúa quy tụ và được các bí tích của Chúa nâng đỡ phù trì. Chúng con cầu xin nhờ Đức Kitô, Chúa chúng con. Amen”.

 

Linh Mục Gioan chuyển ngữ

Đại Chủng Viện Thánh Giuse Xuân Lộc.

 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Đăng ký nhận bản tin
Nhập email để nhận được những tin tức mới nhất từ chúng tôi.
Thống kê truy cập
  • Đang truy cập31
  • Máy chủ tìm kiếm10
  • Khách viếng thăm21
  • Hôm nay11,292
  • Tháng hiện tại407,530
  • Tổng lượt truy cập7,378,817
Đánh giá website

Quý vị đánh giá website GPLS thế nào?

Thư ĐTGM. Marek
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây