Để người giáo dân trở nên chứng nhân của Đức Kitô giữa lòng đời hôm nay

Thứ hai - 10/09/2018 20:42 28 0
Ơn gọi làm tông đồ phát sinh từ bí tích Rửa Tội, được nuôi dưỡng nhờ bí tích Thánh Thể và được tăng thêm sức mạnh Thánh Thần nhờ bí tích Thêm Sức.
Để người giáo dân trở nên chứng nhân của Đức Kitô giữa lòng đời hôm nay

Dẫn nhập

Ơn gọi làm tông đồ phát sinh từ bí tích Rửa Tội, được nuôi dưỡng nhờ bí tích Thánh Thể và được tăng thêm sức mạnh Thánh Thần nhờ bí tích Thêm Sức. Từ ơn gọi đó, Kitô hữu giáo dân tham gia vào sứ mệnh của Giáo Hội bằng việc đem Tin Mừng Đức Kitô và ân sủng của Người cho nhân loại, làm cho tinh thần Tin Mừng thấm nhuần và hoàn thiện những thực tại trần gian. Một trong những phương pháp truyền giáo của Giáo Hội là chứng tá bằng đời sống, được khơi nguồn từ giáo huấn của Tin Mừng: “Chính anh em là muối cho đời…Chính anh em là ánh sáng cho trần gian… Ánh sáng của anh em phải chiếu tỏa trước mặt thiên hạ, để họ thấy những công việc tốt của anh em làm, mà tôn vinh Cha anh em, Đấng ngự trên trời” (Mt 5, 13-16).

Lịch sử truyền giáo của Giáo Hội Việt Nam nói chung và ở giáo phận Vinh nói riêng, người giáo dân đã đóng vai trò rất quan trọng trong công tác này. Với vị thế và ơn gọi riêng của họ, giáo dân có thể gặp trực tiếp nhiều hạng người, đến được nhiều nơi mà linh mục không thể tiếp cận được. Trong các hoạt động trần thế, giáo dân đứng ở vị thế chủ động và trực tiếp hơn các giáo sĩ và tu sĩ, vì thế trong nhiều hoàn cảnh, giáo dân đương nhiên đứng ở tuyến đầu trong công tác truyền giáo. Hơn nữa, ở giáo phận Vinh hiện nay, trong khi linh mục, tu sĩ còn bị o bế cách này hay cách khác, được “chăm sóc” bởi các nhân viên PA, thì giáo dân thường được tự do hơn để tiếp xúc, trao đổi với lương dân và có cơ hội đề nghị họ chia sẻ đức tin Kitô với mình.

Trong phần lớn các tân tòng, có cả cựu đảng viên và cán bộ về hưu, trước tiên đều nhờ mối gặp gỡ và gương sáng của người giáo dân đối với họ, các Linh mục chỉ là người đến sau để củng cố giáo lý và ban các bí tích. Trong điều kiện xã hội – chính trị ngày hôm nay thì truyền giáo bằng tiếp xúc cá nhân giữa các giáo dân với lương dân là một trong những đường lối đơn sơ và dễ thực hiện nhất. Vì thế, trong phạm vi bài viết này, tôi mạn phép được trình bày những suy tư mộc mạc được gợi hứng từ giáo huấn của Huấn Quyền, từ những bài học của lịch sử và từ thực tế của giáo phận Vinh, với ước mong có thể rút ra được bài học nho nhỏ nào đó hầu góp phần làm sáng Danh Chúa trên quê hương Nghệ-Tĩnh-Bình yêu dấu này. Với mục đích đó, bài viết này được sắp xếp theo thứ tự tương đối như sau:

♦ Những chỉ dẫn của Giáo Hội về vai trò của giáo dân trong sứ mạng truyền giáo

♦ Những yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến công tác truyền giáo ở giáo phận Vinh

♦ Những giải pháp đề nghị.

1/ Những Chỉ Dẫn Của Giáo Hội Về Vai Trò Của Giáo Dân Trong Sứ Mạng Truyền Giáo

Một trong những thành quả tốt đẹp của Công đồng Vat. II là sự xác nhận vị thế quan trọng của Kitô hữu giáo dân trong sứ mệnh duy nhất của Giáo Hội là rao truyền ơn Cứu độ. Nhờ chức “linh mục cộng đồng”, người giáo dân có vai trò thi hành tác vụ tông đồ phổ quát, đặc thù và trực tiếp giữa lòng thế giới mọi thời đại. Sắc lệnh Tông Đồ Giáo Dân xác định sứ mệnh của Giáo Hội vẫn là duy nhất, nhưng những hình thức tông đồ thì khác nhau với những thành quả khác nhau. Vì thế, vai trò của giáo dân trong sứ mệnh truyền giáo của Giáo Hội là vị thế của họ giữa lòng xã hội, trong gia đình, lối xóm, trong công ty, hội đoàn… Nhờ đó công việc tông đồ của họ có thể đem lại những thành quả phong phú qua cách sống, lời nói, những dấn thân lành mạnh vào các lãnh vực trần thế. Sắc lệnh Tông Đồ Giáo Dân cũng nêu rõ: “Giáo dân có bổn phận và quyền làm tông đồ do chính việc kết hợp với Đức Kitô là Đầu. Do bởi phép Rửa, họ được chính Đức Kitô chỉ định làm việc tông đồ.”[1] Vì thế, xét theo bản chất, là Kitô hữu, người giáo dân được Chúa ban cho quyền và nghĩa vụ truyền giáo, nghĩa là họ không cần phải xin phép ai hay chờ được ai cho phép mới thực thi trách nhiệm của mình.

Giáo luật hiện hành cũng qui định: “Tất cả mọi Kitô hữu có bổn phận và quyền hoạt động để cho sứ điệp của Thiên Chúa càng ngày càng được truyền bá tới toàn thể nhân loại trong mọi thời và mọi nơi” (Đ.211). Vì vậy, giáo dân ngoài bổn phận phải truyền giáo bằng những hoạt động phong phú nơi môi trường sống của họ, và nếu Chúa gọi, họ còn phải lên đường đến tại các vùng, điểm truyền giáo trong sự phối hợp với nhà chức trách có thẩm quyền trong Giáo Hội.

Trong Thông điệp Sứ Vụ Đấng Cứu Độ, Đức Gioan Phaolô II viết: “Hình thức đầu tiên của chứng tá là đời sống của nhà truyền giáo, của gia đình Kitô hữu và của cộng đồng Giáo Hội, hình thức này làm cho người ta nhìn thấy một lối sống mới. Cho dù vẫn có giới hạn và bất toàn của con người, nhưng khi nhà truyền giáo chân thành sống theo chân Đức Kitô, thì họ là một dấu chỉ của Thiên Chúa và về những thực tại siêu việt… Trong rất nhiều trường hợp, đây là chứng tá duy nhất để truyền giáo.”

Vai trò chứng tá bằng đời sống của nhà truyền giáo chắc chắn giới giáo sỹ và tu sỹ không thể có ảnh hưởng sâu rộng  thường xuyên như giáo dân được. Một cách tự nhiên, người giáo dân được kêu gọi trở nên chứng nhân của Đức Kitô giữa cộng đoàn nhân loại, vì “những phận vụ và sinh hoạt trần thế thuộc lãnh vực riêng của họ,[…] Không những họ phải đem tinh thần Kitô giáo thấm nhuần thế giới nhưng còn được kêu gọi làm chứng cho Chúa Kitô trong mọi hoàn cảnh ngay giữa lòng cộng đoàn nhân loại”[2], và vì trần thế “là nơi Thiên Chúa gọi họ, để dưới sự hướng dẫn của tinh thần Tin Mừng, như men từ bên trong, họ thánh hóa thế giới bằng việc thi hành những nhiệm vụ của mình.”[3] Hơn nữa, “nhiệm vụ chính của giáo dân, nam cũng như nữ, là làm chứng về Đức Kitô bằng đời sống và lời nói trong gia đình, trong các đoàn thể xã hội cũng như trong môi trường nghề nghiệp… Họ cũng phải gieo rắc đức tin vào Đức Kitô giữa những người có liên lạc với họ trong đời sống nghề nghiệp.”[4]Thêm nữa, mọi công tác của người giáo dân trong các lãnh vực trần thế “phải làm chứng tỏ tường về Chúa Kitô và góp phần vào việc cứu độ nhân loại.”[5]

Đối với các Kitô hữu trẻ, theo cách thức riêng, họ phải là những chứng nhân sống động của Đức Kitô giữa bạn bè mình nơi trường học, qua các hoạt động thể thao, giải trí lành mạnh. Hơn nữa, theo ơn gọi đặc thù, người trẻ Công giáo phải trở nên những tông đồ đầu tiên và trực tiếp của giới trẻ trong môi trường họ đang sống.[6] Ngoài ra, Giáo Hội đặc biệt quí trọng hoạt động tông đồ do các giáo chức, bác sĩ Công giáo, vì họ là những người có ảnh hưởng thường xuyên và rộng rãi tới những đồng nghiệp, học sinh và bệnh nhân của họ.

Đời sống Kitô hữu xét như là lời loan báo, vì “một người có lòng đạo chân chính thì dễ dàng được người ta kính trọng và đi theo… qua các việc của công bình, bác ái và lòng thương xót bắt nguồn từ một đời sống cầu nguyện và chiêm ngưỡng đích thực.”[7] Hình ảnh những chứng nhân chân chính và thầm lặng của đời sống vẫn là cách thế loan báo Tin Mừng khả dĩ trong mọi thời, mọi nơi. Ơn gọi của Giáo Hội là cho người nghèo và của người nghèo, dù trên thực tế, nhiều lúc những người con của Giáo Hội đã chưa sống đúng với ơn gọi ấy! Nhưng theo sứ mệnh và ơn gọi của mình, Giáo Hội luôn phải dành tình yêu ưu tiên cho người nghèo và những người bị xã hội ruồng bỏ nhằm bảo vệ và thăng tiến phẩm giá bất khả xâm phạm của họ. Để khi chu toàn giới luật đối với người nghèo, bằng lời nói và việc làm, với một đức tin sâu xa và một tình yêu không giả dối, những người con của Giáo Hội sẽ trở nên chứng nhân sáng chói của Tin Mừng Tình Yêu, đó là cách thức phục vụ tốt nhất cho công cuộc truyền giáo của Giáo Hội. Trong bản Tuyên bố kết thúc đại hội lần thứ VII (03-13/01/2000), Liên Hội Đồng Giám Mục Á Châu (FABC)[8] kết luận rằng: “Chứng tá đời sống đã và bao giờ cũng là phương thế Phúc Âm hóa và phục vụ hữu hiệu nhất.”

2/ Những Yếu Tố Cơ Bản Ảnh Hưởng Đến Công Tác Truyền Giáo Ở Giáo Phận Vinh

Xét về cơ cấu, giáo phận Vinh vẫn giữ được tính chặt chẽ, vững vàng và thống nhất từ trên xuống dưới: từ giáo phận xuống giáo hạt, giáo xứ, giáo họ, các hội đoàn… Với cơ cấu chặt chẽ đó, giáo phận Vinh có thuận lợi về nhiều mặt, trong đó có thuận lợi cho công tác truyền giáo. Tình đoàn kết cao của giáo đoàn Vinh là một chứng tá sống động về tính hiệp nhất và duy nhất của Giáo Hội, tất nhiên, sự đoàn kết đó cần phải được gắn kết hơn nữa bởi chất keo hiệp thông sống động của mọi thành phần trong giáo phận.

Tuy nhiên trong thực tế, tính độc lập và chủ động trong những sáng kiến tông đồ cũng như các sinh hoạt khác của những thành phần trên trong giáo phận chưa cao. Cấp dưới thường ỷ lại và trông chờ những chỉ thị, hướng dẫn của cấp trên. Nhiều giáo dân chưa thực sự trưởng thành trong đời sống thiên liêng và chưa vững vàng trong việc thực hành đức tin nhằm đem các giá trị Tin Mừng thấm vào các công tác trần thế thường ngày của họ. Đàng khác, sự hiệp nhất hay duy nhất trong Giáo Hội không tương đồng với sự khép kín, co cụm, biệt lập của những người Công giáo để làm thành một giáo xứ, giáo họ hay xóm đạo tách biệt với bên ngoài. Sự hiệp nhất trong Giáo hội là hiệp nhất trong đức tin, trong tinh thần và chân lí, và tất cả những ai thiện chí, ngay lành, cả những người tội lỗi cũng được kêu gọi hoán cải để hiệp nhất với và trong Giáo Hội là nhiệm thân của Đức Kitô.

Tình trạng biệt lập của các xứ, họ hay xóm đạo ở giáo phận Vinh là có thực và khá phổ biến. Đó là thực tế cần phải đánh giá nghiêm túc về những khía cạnh tích cực và tiêu cực của nó trong mọi mặt của đời sống Kitô. Tình trạng biệt lập này không chỉ do ảnh hưởng bởi những yếu tố văn hóa – xã hội mà còn do hậu quả của lịch sử bách hại Đạo qua các thời kì từ khi hạt giống đức tin được gieo vào vùng đất này. Biệt lập ở đây hoàn toàn khác với việc các Kitô hữu tập hợp một nơi để cầu nguyện và tham dự Thánh Lễ.

Vẫn biết rằng, khi giáo dân sống tập trung thành xóm, làng sẽ thuận lợi cho công tác mục vụ của cha xứ, cho sự tương trợ, giúp đỡ nhau sống đạo cũng như cho việc tham dự các giờ kinh nguyện, dâng Thánh Lễ và các sinh hoạt chung khác trong giáo xứ. Tuy nhiên, nếu một họ, một xóm đạo sống biệt lập thì dễ trở thành bị cô lập, trở nên như ốc đảo, và điều này ảnh hưởng tiêu cực cho công tác truyền giáo. Hơn nữa, nếu sống trong tình trạng biệt lập lâu dài, người giáo dân dễ trở nên yếm thế, lạc hậu, tự ti, giữ đạo trong nhà, giữ đạo theo thói quen hoặc vì áp lực của dư luận làng xóm. Hậu quả là người giáo dân, đặc biệt là người trẻ khi ra ngoài xã hội thường có thái độ phòng vệ, thu mình, hoặc ngược lại, bị “hòa tan” và dễ đánh mất căn tính Kitô của mình. Nếu như vậy, một khi người giáo dân có cơ hội dấn thân vào các lĩnh vực văn hóa, kinh tế, chính trị, sống và làm việc với đa số là lương dân, họ có được vững vàng sống đạo và làm dậy men Tin Mừng nơi các thực tại trần thế nhằm giới thiệu Đức Kitô cho những người chưa biết Ngài chăng?! Hơn nữa, sự biệt lập cũng làm cho linh mục quản xứ dường như bị khoanh vùng, bị cầm chân và khó có thể tiếp xúc với lương dân và lương dân cũng khó đến với linh mục khi họ muốn. Biệt lập cũng dễ làm cho giáo dân bộc lộ óc địa phương hẹp hòi theo “chủ nghĩa dân choa !”, dễ làm cho người lương e dè, xa cách và khó tiếp xúc với giáo dân.

Rõ ràng một xứ, họ hay xóm đạo biệt lập chỉ phát huy thế mạnh trong “thời biến” nhưng lại là một cản trở về nhiều mặt trong “thời bình”, và đặc biệt bất lợi cho công tác truyền giáo.

Ở giáo phận Vinh hiện nay, với cơ cấu chặt chẽ và cơ chế tập trung cao, tuy là một thế mạnh, nhưng lại là nguyên nhân làm cho phần đông giáo dân sống thụ động, ỷ lại và thiếu trưởng thành: thực hành đạo theo phong trào, phụ thuộc đám đông, thiếu thực chất và thiếu chiều sâu. Vì quá nặng về cơ chế và quá “duy giáo sỹ”, nên vai trò của giáo dân chưa được coi trọng trong mọi công tác của Giáo Hội. Tính “duy giáo sỹ” và quá phụ thuộc cơ cấu thường cản trở đối với công cuộc truyền giáo, vì nó làm cho việc truyền giáo “khó có thể mềm dẻo thích nghi và nhanh chóng ứng biến, thay đổi theo hoàn cảnh, kịp với thời gian tính.”[9] Hơn nữa, nếu quá nặng về cơ chế hơn là đặc sủng sẽ dễ làm nản lòng các dự tòng, là gánh nặng đối với các Kitô hữu trẻ và là một ngáng trở đối với những lương dân có cảm tình với Đạo. Thực tế đã có không ít lương dân có nhiều cơ duyên với Đạo nhưng lần lữa, không dám gia nhập vì sợ không vượt qua được những bó buộc ngặt nghèo của luật lệ. Ai trong chúng ta cũng biết rằng, Hội Thánh mà Đức Kitô thiết lập không hoàn toàn dựa trên luật, nhưng dựa trên “thần khí và sự thật”[10] với mệnh lệnh “anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em.”[11]

Trên vùng đất Nghệ-Tĩnh-Bình này, với đa số người dân sống ở nông thôn và làm nghề nông, vì thế tính làng xã, họ tộc, gia đình vẫn còn chi phối trên nhiều mặt của cuộc sống con người nơi đây. Tính làng xã, họ tộc, gia đình có ảnh hưởng mang tính hai mặt đối với công tác truyền giáo. Tính làng xã tuy còn lưu giữ được một số điểm tích cực về đạo đức, lối sống, văn hoá…, nhưng vẫn còn những ngáng trở khó bề hóa giải đối với công tác truyền giáo. Lịch sử truyền giáo ở Việt Nam đã chứng minh, trường hợp trong làng có một vài gia đình Kitô tốt thì những gia đình đó thường dẫn được nhiều gia đình chưa Kitô khác ở trong làng vào Đạo, hoặc một thành viên trong gia đình vào Đạo và sống tốt thì dần dà người đó cũng đưa được cả gia đình vào theo. Thế nhưng, cũng tính gia đình và làng xã này, nhiều lúc tựa như hàng rào chắn vô hình, cản trở quyết liệt khiến nhiều cá nhân sống trong những gia đình hoặc làng lương dân có cảm tình với Đạo, có duyên nợ với Công giáo nhưng khó có thể vượt qua được để gia nhập Đạo.

Với những làng hoặc lương dân hoàn toàn hoặc Công giáo toàn tòng, nhiều nơi, người dân ở hai bên gần như tách biệt nhau. Ngoài một vài liên hệ thông thường, dường như người dân ở cả hai bên vẫn khó có thể vượt qua được rào cản lương-giáo tách biệt. Ở một vài nơi, việc “bình thường hóa quan hệ” giáo-lương giữa hai làng dường như chưa bao giờ trở thành hiện thực. Đã thế, thi thoảng lại xảy ra những cuộc đụng độ nhỏ to. Điều này có thể do nhiều nguyên nhân xuất phát từ cuộc sống của cả hai bên, nhưng đôi lúc còn có “bàn tay đen” của kẻ đứng sau thọc vào nhằm phá hoại tình đoàn kết và khơi sâu thêm mối bất hòa lương-giáo. Chắc chắn sau những cuộc đụng độ đó, “thắng thua” không thể phân định rạch ròi, nhưng cái mất lớn là mất tình đoàn kết, và lớn hơn là mất đi cơ hội giới thiệu Đức Kitô cho những người lương dân. Như vậy, sự thiệt thòi lớn nhất thuộc về Đức Kitô, vì Người không có đuợc cơ hội đến với những người chưa nhận biết Người.

Cũng phải nghiêm túc nhìn nhận như sự biết lỗi mà sửa chữa, một phần không nhỏ người giáo dân dễ bị kích động và nổi nóng, thiếu kiên nhẫn và thiếu can đảm hi sinh với một sự trầm tĩnh lâu bền để chinh phục kẻ khác bằng yêu thương.[12] Đây là một trong những đặc đặc điểm của tính cách người Nghệ. Nhưng dẫu sao các Kitô hữu vẫn phải canh chừng kẻo mắc mưu của “con quỉ bạo động”, nó vẫn luôn cám dỗ để nếu các Kitô hữu nghe theo thì cơn bạo động sẽ xoá mờ đi khuôn mặt hiền từ của Đức Kitô, và vì thế, mọi người chung quanh sẽ không thể đuợc nhận biết Người. Mọi thành phần dân Chúa trong giáo phận Vinh đã và vẫn đang phải luôn chống lại cơn cám dỗ bạo động và cố gắng xây dựng cho mình những đức tính yêu thương, hiền hòa, nhẫn nại, tha thứ là những đức tính nổi bật của người môn đệ Đức Kitô.

Để nối lại tình đoàn kết và xóa đi mọi mặc cảm lương-giáo không phải một sớm một chiều có thể làm được. Và điều này đã và sẽ là một trở ngại lớn cho công cuộc truyền giáo ở tại vùng đất Nghệ-Tĩnh-Bình này. Nó như tấm rào cản vô hình bủa vây, vì thế thật khó khăn cho một người hoặc một gia đình trong một họ tộc hay một làng lương nào đó có cảm tình với Đạo và muốn gia nhập Đạo. Ngoài ra, vẫn còn những thiên kiến với hậu ý không công bằng của những người chép sử, sự hiểu lầm cố hữu hằng mấy thế kỷ nơi nhiều người lương về đạo hiếu đối với tổ tiên và lòng trung đối với Tổ quốc của người Công giáo. Và ngày nay còn có một hệ thống tuyên truyền với dụng ý không tốt làm cho những người lương muốn theo Đạo hoặc thân nhân của họ phải e dè: theo Đạo là bất hiếu với tổ tiên![13]

Ngược dòng lịch sử, suốt một thời gian dài người Công giáo bị gán cho là tiếp tay với thực dân xâm lược. Đây là sự gán ghép bất công và là câu chuyện dài của lịch sử đẫm máu và nước mắt cho các đạo hữu Việt Nam chân thành thờ Chúa và yêu Nước theo cách của mình. Điển hình là phong trào Văn Thân được phát động trên phạm vi cả nước vào nửa cuối thế kỷ XIX với khẩu hiệu “bình Tây sát Tả” nhằm đánh Pháp và tiêu diệt Công giáo. Trong đó, quyết chiến nhất là phong trào Văn Thân của bốn tỉnh Thanh-Nghệ-Tĩnh-Bình, quyết chiến đến mức vua Tự Đức phải xuống chiếu phủ dụ gửi cho Văn Thân bốn tỉnh này nhằm ngăn chặn sự bạo động của họ, nhưng họ không nghe và vẫn quyết tâm tiêu diệt Công giáo. Hậu quả là phong trào Văn Thân đã để lại một giai đoạn lịch sử bi đát nhất, một tình cảnh huynh đệ tương tàn giữa những người đồng bào ruột thịt với nhau và một tình trạng chia rẽ giáo-lương tồi tệ nhất trong lịch sử của vùng đất Nghệ-Tĩnh-Bình. Đã có hàng ngàn người thiệt mạng thuộc cả hai bên, hàng chục giáo xứ bị đốt, hàng trăm nhà thờ bị phá hủy, hàng chục ngàn ngôi nhà bị đốt phá.[14] Ảnh hưởng vô cùng tai hại của giai đoạn đau thương đó vẫn còn dai dẳng cho đến hôm nay.

Về nhu cầu tâm linh, đa số người dân ở vùng Nghệ-Tĩnh-Bình thường tìm đến hay đón nhận tôn giáo không phải nhờ qua việc tìm hiểu lí luận về đạo lí hay giáo lí cao siêu, nhưng họ dễ dàng chấp nhận một thứ Đạo mà họ gặp thấy sự tương hợp theo tình cảm tâm linh. Xét trên nhiều phương diện, người dân nơi đây có phần dễ tính trong việc tìm kiếm, tiếp nhận các yếu tố tâm linh và khoan dung trong việc tiếp nhận các tôn giáo. Đa số người dân đều hướng về một thế giới thần thiêng qua các hình thức như thờ kính ông bà tổ tiên, các vị thần thành hoàng làng, các vị anh hùng dân tộc… Người lương dễ dàng khấn xin nơi gốc cây cổ thụ, nơi hốc đá hay ở ngôi đền đơn sơ nhỏ bé.

Ngày hôm nay, thực tế ngược lại với những kế sách và dự đoán của những người tự xưng vô thần, ở Việt Nam nói chung và ở vùng Nghệ-Tĩnh-Bình nói riêng, tâm thức tôn giáo nơi đa số người dân lại nở rộ. Các hoạt động lễ hội dân gian mang tính tôn giáo và văn hóa diễn ra nhiều nơi. Tôn giáo được dư luận công nhận như một nhu cầu không thể thiếu trong đời sống của đa số người dân, và thực tế có nhiều người quan tâm và tìm đến với tôn giáo. Riêng vùng Nghệ-Tĩnh-Bình, người Công giáo chỉ là thiểu số với chưa đầy 0,5 triệu trên tổng số dân khoảng 5,3 triệu[15], con số Phật tử thì khó có thể biết được, còn lại đa số là lương dân, nghĩa là họ chưa gia nhập một tôn giáo chính thức nào. Họ không là Phật tử nhưng thỉnh thoảng đến chùa khấn Phật; họ không là Kitô hữu nhưng vẫn đến Đền thánh Antôn Trại Gáo xin ơn và thi thoảng đến các nhà thờ cầu nguyện hoặc xin lễ.

Chính vì thế, những thách đố mới đang đặt ra đối với công cuộc truyền giáo ở giáo phận Vinh, như: Phương thức nào được ưu tiên để giới thiệu Tin Mừng cho lương dân? Vùng miền nào được đặt làm trọng điểm của việc truyền giáo? Nguồn nhân sự cho công tác truyền giáo? Kế hoạch truyền giáo được đặt ra và triển khai như thế nào ở các cấp độ: giáo phận, giáo xứ, điểm truyền giáo, các hội đoàn,…? Xóm, làng Công giáo có bình yên, văn minh hơn làng lương không? Người Công giáo có thật thà, hiền lành, dễ mến, đáng tin và thương người hơn không?… Và nói chung, phải chăng “cách tốt nhất thiết tưởng là giới thiệu Đức Kitô qua chính bản thân những người giới thiệu!”[16]

3/ Những Giải Pháp Đề Nghị

Mọi Kitô hữu đầu hết phải xác quyết các nguyên tắc căn bản là hiệp thông, tôn trọng  truyền giáo phải luôn luôn đi liền với nhau. Hiệp thông không chỉ riêng trong lòng cộng đồng Công giáo nhưng còn phải hiệp thông và liên đới với những gia đình, xóm làng bên lương và với mọi vui buồn của cộng đồng dân tộc. Mối tương quan giữa người Công giáo với mọi người phải được cải thiện theo nguyên tắc trên và phải được biện phân đúng đắn.

1. Người giáo dân cần được huấn luyện để họ luôn ý thức mình có trách nhiệm rao giảng Tin Mừng bằng lời nói và việc làm qua đời sống kitô trong các môi trường phong phú của họ. Ý thức về sứ mạng truyền giáo là một đòi hỏi tối quan trọng, và chỉ khi người giáo dân có ý thức cao về trách nhiệm này, họ mới sống tốt hơn với vai trò là Kitô hữu và chủ động, tích cực hơn với vai trò là một chứng nhân.

Người giáo dân cần biết nóng lòng chia sẻ đức tin Kitô cho những lương dân sống gần với mình. Và để thuyết phục được người khác vào Đạo, người giáo dân cần phải tôn trọng và sống các đức tính nhân bản như lòng khoan dung, hiếu hòa, trung thực, công bằng, kiên nhẫn, cảm thông, trắc ẩn… với một đời sống nội tâm sâu xa, chủ động và sẵn sàng đến với những lương dân, kết bạn với và thích ở bên cạnh họ trong niềm yêu thương, chân thành. Các mục tử nên cùng với giáo dân lên kế hoạch mục vụ truyền giáo ít ra cho nơi lãnh địa của mình.

2. Sống yêu thương đối với người khác là phương pháp trọng đại và là bằng chứng hùng hồn nhất để giáo dân chứng minh mình là Kitô hữu đích thực. Vì đức ái là cốt lõi của Đạo và lòng yêu người là đặc điểm nổi bật của người Kitô hữu. Làm dấu Thánh giá, đọc kinh Tin Kính hay các việc đạo đức khác chưa hoàn toàn là dấu chứng đích thực của người Kitô hữu, nếu không có lòng bác ái, vì “ở điểm này, mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ Thầy, là anh em có lòng yên mến nhau”(Ga 13,35). Trong lịch sử truyền giáo, cung cách sống yêu thương của các Kitô hữu giáo dân luôn là khởi điểm cho nhiều cuộc trở lại đông đảo. Vì bác ái là hành động truyền giáo có thần lực rất đặc biệt, và là phương pháp cốt yếu cho mọi hoạt động tông đồ: “Ở đâu có người thiếu ăn, thiếu uống, thiếu mặc, thiếu những phương tiện cần thiết để sống xứng danh con người; ở đâu có người bị đau khổ… thì ở đó bác ái Kitô giáo phải tìm gặp, ân cần săn sóc, ủi an và xoa dịu họ bằng những trợ giúp chính đáng.”[17]Tinh thần bác ái phải luôn được nuôi dưỡng thì mới nồng cháy, việc làm bác ái phải luôn bắt đầu lại mới bền bỉ. Có thể khẳng định rằng, “Nước Chúa trị đến” ở mức nào tùy thuộc vào mức độ thực hành yêu thương của các Kitô hữu trong đời sống hiện sinh mà họ được kêu mời hiện diện.

Làm chứng về Đức Kitô là trung thực phản ánh một Con Người, một giáo lý và những việc làm của Người (nghĩa là không phải tuyên truyền một học thuyết hay một chủ truơng, chính sách), nên đòi hỏi giáo dân phải sống bằng chính đời sống, nói bằng chính lời nói và làm bằng chính việc làm của Đức Kitô. Qua dòng lịch sử, giáo đoàn Vinh được hình thành bắt đầu từ những bậc cha anh gốc lương dân, đa số là những nông dân và ngư dân nghèo, thì ngày nay, là con cháu, người giáo dân Vinh có bổn phận giới thiệu Đức Kitô cho những nông dân và ngư dân nghèo như cha ông mình ngày xưa. Ngày xưa, ấn tượng mạnh nhất đối với những người lương muốn gia nhậpĐạo mới này là gương sáng qua đời sống của các Kitô hữu, đời sống của “những người yêu nhau”.

Hiện nay, ở Hàn Quốc, so với các cộng đồng khác thì cộng đồng Công giáo nước này đang dẫn đầu về công tác từ thiện bác ái, nhờ đó, công việc truyền giáo của họ đạt hiệu quả cao. Cũng mới đây, Giáo Hội nước này đã mở một “chiến dịch” truyền giáo bằng phương pháp “kết bạn” giữa người Công giáo với người không Công giáo, giữa gia đình Công giáo với gia đình không Công giáo nhằm truyền giáo cho họ. Chiến dịch này đã đem lại kết quả rất lớn cho Giáo hội Hàn Quốc. Có những người giáo dân Hàn Quốc không biết nói thế nào về Chúa, nhưng họ biết nói với người dự tòng rằng: “Anh chị em cứ nhìn chúng tôi sống thế nào thì anh chị em bắt chước mà sống như vậy!” Đó là điều đáng cho chúng ta học hỏi.

Trong xã hội chúng ta hiện nay, với hiện trạng đầy dẫy những bất công, hố chênh lệch giàu nghèo quá sâu, công ích bị xâm phạm, công lý bị coi thường, người dân bị thiệt thòi quá nhiều, tình cảnh bất mãn, lừa lọc, giả dối diễn ra khắp nơi trên đất nước, thì những chứng nhân sống động về lòng trung thực và tình bái ái huynh đệ của các Kitô hữu chẳng phải là lời rao giảng Tin Mừng một cách hữu hiệu bậc nhất sao?! Vì thế, nếu giáo dân can đảm sống trung thực và hăng say thực thi bác ái thì chắc chắn Đức Kitô dễ dàng được mọi người chấp nhận hơn.

3. Trong một mức độ nào đó, các Kitô hữu cũng phải chịu một phần trách nhiệm với hiện trạng của một xã hội đang bị xuống cấp về đạo đức đến mức báo động hiện nay, vì người Kitô hữu chưa dấn thân đủ với vai trò là men, muối và là chứng nhân Tin Mừng trong xã hội này. Chúng ta phải thực sự hoán cải và canh tân bằng sự trở về với đời sống đức tin sâu xa cùng với sự dấn thân mạnh mẽ hơn nữa bằng hành động nhằm cải biến xã hội hiện tại mà chúng ta đang được Chúa mời gọi tham gia. Bởi mặc dù xã hội hiện tại đầy thực dụng, người ta cần lương tháng hơn là lương tâm, nhưng đa số người dân lương thiện vẫn đang theo đuổi những công việc lành mạnh với lương tâm ngay chính theo cảm thức của họ, và tương lai của xã hội vẫn sẽ tốt đẹp hơn nếu người Kitô tích cực tham gia cải biến nó. Chúng ta có quyền hi vọng vào điều đó!

Để dấn thân cho công tác truyền giáo, chúng ta phải chọn lĩnh vực ưu tiên đặc thù và khả dĩ theo địa phương và theo từng giai đoạn lịch sử nhất định. Ở giáo phận Vinh hiện nay, điều làm cho người lương dễ tin hơn là tìnhliên đới với người nghèo cùng với việc các Kitô hữu sống chân thành bằng một đức tin sâu xa và một tình yêu không giả dối đối với mọi người. Vì không thể có sự rao giảng Tin Mừng đích thực nếu trước hết người giáo dân không trao tặng một đời sống chứng tá phù hợp. Nếu một người Công giáo có lòng đạo chân chính thể hiện qua cuộc sống thì dễ dàng được người ta kính trọng và tin theo. Hơn nữa, ngày hôm nay, khi mà công việc mục vụ của các linh mục bị hạn chế, riêng biệt cho người Công giáo, và khi mà các phương tiện truyền thông như phát thanh, truyền hình, báo in… Giáo Hội chưa được phép sử dụng, thì chứng tá thầm lặng của đời sống người giáo dân vẫn là cách thế khả dĩ nhất để giới thiệu Đức Kitô cho lương dân.

4. Trong hoàn cảnh xã hội hiện nay, nếu người giáo dân được huấn luyện kỹ càng, được Chúa Thánh Thần hướng dẫn và được các mục tử đồng hành với thì họ mới có khả năng dấn thân và làm biến đổi các cơ cấu xã hội, văn hóa và cả kinh tế-chính trị. Trách nhiệm của người giáo dân một đàng là làm cho Tin Mừng được bén rễ sâu trong nền văn hóa và cơ chế kinh tế, chính trị mà họ được mời gọi tham gia, và đàng khác, mọi giáo dân đều là con dân của Quê hương, Dân tộc Việt nên phải “cùng chia sẻ một cộng đồng sinh mạng với dân tộc mình, vì quê hương này là nơi chúng ta được Thiên Chúa mời gọi để sống làm con Ngài.”[18] Vì thế, người giáo dân phải chủ động tham gia vào việc giải quyết các vấn đề cấp bách của địa phương như: xóa đói giảm nghèo, cứu trợ khi gặp thiên tai, tạo công ăn việc làm, giáo dục cho trẻ em nghèo, chữa bệnh cho người nghèo… Khi tiếp các Giám mục Việt Nam trong dịp Ad Limina năm 2009 vừa qua, ĐGH Benedict XVI đã nhắn nhủ tới giáo dân Việt Nam rằng: “bằng đời sống xây dựng trên đức ái, sự liêm chính, việc quí trọng công ích, anh chị em giáo dân phải chứng minh rằng người Công giáo tốt cũng là người công dân tốt.”[19]

5. Trong nỗ lực tìm cách áp dụng những phương pháp truyền giáo sao cho phù hợp và hiệu quả, ngày hôm nay, người ta đặc biệt quan tâm tới cách thức truyền giáo đồng đẳng, nghĩa là người giáo dân làm chứng về Đức Kitô cho những đồng nghiệp, đồng môn, đồng giới, và cho những người đồng cấp về học vấn, cùng quan điểm hay sở thích về một vài lĩnh vực nào đó. Một điều tôi cho là hết sức cấp bách hiện nay là Giáo phận cần hỗ trợ giáo dân bằng việc huấn luyện chuyên biệt cho từng giới, từng nhóm ngành nghề như bác sỹ, giáo chức, doanh nhân, công nhân, sinh viên và những người tham gia trong các cơ quan nhà nước về Giáo huấn xã hội của Giáo Hội. Xin được nhấn mạnh, đây là công việc rất quan trọng và cấp bách trong giai đoạn hiện nay.

Hiện nay, giới bác sĩ và giáo chức Công giáo ở giáo phận Vinh khá đông, giới công nhân cũng vậy. Họ là những thành phần có học thức cao trong hàng ngũ giáo dân và có chuyên môn về nghề nghiệp, nhưng họ đã được đào tạo trong một môi trường có nhiều điểm không phù hợp với đức tin, và vì công việc, họ đứng vào một vị thế hết sức nhạy cảm. Trong hoàn cảnh hiện nay, chỉ nhờ chứng tá đời sống của các giáo chức Công giáo mà Giáo Hội mới có thể hiện diện trong các trường không Công giáo. Đức tin Công giáo phải được tiến hành như men trong bột, để khi hiện diện trong môi trường học đường, dù chỉ một số ít giáo chức Công giáo, nhưng họ có thể làm cho những đồng nghiệp và học sinh của mình thấm nhuần Tin Mừng Đức Kitô. Chính vì thế, họ phải nhận được nơi những người đồng đạo và đặc biệt nơi các vị mục tử của họ sự cảm thông, chia sẻ và giúp đỡ, nhờ đó họ can đảm và an tâm hoàn thành công việc của mình một cách liêm chính, trung thực, vì phục vụ con người và công ích. Và khi họ hoàn thành tốt công việc của mình giữa một môi trường đa số là lương dân, họ sẽ trở nên những chứng nhân sáng ngời của Đức Kitô cho những người chưa được nhận biết Ngài.

6. Các mục tử cần hướng dẫn, khích lệ giáo dân hăng say dấn thân một cách đặc biệt vào các lĩnh vực liên quan đến công bằng xã hội, bảo vệ sự sống, quyền con người, phát triển cộng đồng… với nỗ lực giải thích những lý do và lập trường của Giáo Hội đối với sự dấn thân của họ vào các lĩnh vực xã hội dân sự và phi lợi nhuận nói trên. Giới trí thức và giáo chức Công giáo cần chủ động cộng tác, chia sẻ, trao đổi với mọi người thiện chí về các lĩnh vực kinh tế, xã hội, chính trị, nghệ thuật và đặc biệt dấn thân theo đuổi các mục tiêu công ích và phi lợi nhuận như các công việc từ thiện, cải tạo môi trường, giáo dục cộng đồng,…  Nhờ đó, đức ái Kitô giáo được thể hiện qua các chứng từ của người giáo dân sẽ trở thành sự “phục vụ” cho văn hóa, kinh tế, chính trị và xã hội mà không nhằm chiêu dụ tín đồ nhưng là trao tặng cho các thực tại trần thế đó giá trị Tin Mừng của Đức Kitô.

Tuy tham gia tích cực vào các lĩnh vực xã hội, chính trị, nhưng cộng đồng Kitô hữu không phải với tư cách là một cơ quan xã hội hay một tổ chức chính trị mà chỉ là một cộng đồng mang nặng sứ mệnh với cuộc đời, đồng sinh đồng tử với quê hương và có trách nhiệm đóng góp phần mình vào việc giải quyết các vấn đề cấp bách của Đất Nước. Trách nhiệm vô tư đó tuy có thể có những bất trắc và đôi lúc có thể bị hiểu lầm, nhưng giáo dân vẫn phải làm, vì “khía cạnh đạo đức và xã hội này là một yếu tố thiết yếu của chứng tá Kitô hữu.”[20]

6. Các mục tử cần giúp đỡ giáo dân của mình để họ có thể chống lại cơn cám dỗ muốn thu mình trong trạng tháighetto (biệt lập), bằng lòng với một thứ linh đạo riêng tư cá nhân và một đời sống đức tin khép kín trong nhà thờ hoặc cam chịu một lối sống đạo luẩn quẩn, ích kỷ trong cộng đồng thuần túy Công giáo. Đức tin Kitô đòi hỏi mọi giáo dân mở tung cánh cửa ích kỷ ra cho hợp với “logic” của mầu nhiệm Nhập Thể làm người của Ngôi Lời, vì “sứ điệp Kitô giáo không làm cho con người tránh né khỏi công cuộc xây dựng thế giới hoặc khiến họ không còn tha thiết đến lợi ích của đồng loại, nhưng trái lại, bổn phận thực hiện những điều ấy còn thúc bách họ hơn nữa.”[21]

Đi vào lòng xã hội, đó là điều cần thiết để làm chứng cho Đức Kitô! Trong Tông huấn Kitô hữu giáo dân, Đức Gioan Phaolô II đã tha thiết mời gọi người giáo dân “đem đạo vào đời, theo ý nghĩa chúng ta vẫn nói, là phục vụ con người và xã hội, giáo dân tuyệt đối không thể từ chối tham gia chính trị -, tức là những hoạt động đa dạng về kinh tế, xã hội, luật pháp, hành chính, văn hóa, một chính trị có mục đích cổ võ công ích một cách có tổ chức và qua các định chế.”[22] Những lời tố cáo về các tệ nạn như tham ô, hối lộ, cửa quyền… của một xã hội, một thể chế chính trị hay hệ thống cầm quyền, “cũng như những ý kiến khá phổ biến cho rằng chính trị nhất thiết là lĩnh vực nguy hiểm về đạo đức, tất cả những điều ấy không biện minh tí nào cho thái độ hoài nghi cũng như chủ trương không tham gia của người Kitô hữu đối với vấn đề chính trị.”[23]

Ở Việt Nam, điều mời gọi trên của ĐGH phải được biện phân kĩ càng và phải được áp dụng cách khôn ngoan và can đảm. Để khi sống trong một xã hội mà các quyền của con người và lợi ích căn bản của cộng đồng chưa được tôn trọng thì người giáo dân càng phải có trách nhiệm dấn thân để cải thiện nó, “điều mà ngày nay được coi như một sự cấp bách và như một trách nhiệm, giáo dân phải làm chứng về những giá trị của con người và Tin Mừng, là những giá trị có liên hệ mật thiết đến hoạt động chính trị, chẳng hạn như tự do, công lý, tình liên đới.”[24]Trong bối cảnh xã hội có nhiều biến chuyển làm đảo lộn các giá trị tôn giáo, nhân bản, đạo đức và văn hóa thì người giáo dân phải thuộc vào số những người tiên phong và can đảm tìm cách giải quyết để làm trong sạch hóa các lĩnh vực đó, cũng như làm tăng trưởng các giá trị của chúng, nhờ sự phong phú độc đáo của Tin Mừng và đức tin Kitô.

7. Đối với người trẻ, họ cần được huấn luyện và khuyến khích trở thành những chủ thể tích cực tham gia vào việc loan báo Tin Mừng nhằm đổi mới xã hội. Giáo phận và giáo xứ cần cung cấp cho họ sự chăm sóc mục vụ chuyên biệt hơn về các phương pháp truyền giáo và thấm nhuần tinh thần này.[25] Giáo phận cần có một Trung tâm học tập cộng đồng (hoặc tương tự như thế) để từ đây, những giáo dân trẻ (cả lương dân, nếu họ muốn) có cơ hội được học tập về những kỹ năng sống cá nhân và phục vụ cộng đồng. Nếu được huấn luyện phù hợp và thường xuyên, những người trẻ Công giáo mới có thể trở nên như muối, men cho bạn bè với sự năng động và vô tư của họ.

Hơn nữa, người trẻ cần được hướng dẫn để họ có thể đối diện vững vàng với thực tế mà người ta gọi là văn hoá thời “mở cửa”, tránh được những ảnh hưởng xấu của xã hội thời “thực dụng” hiện nay. Vai trò của Giáo Hội đối với người trẻ trong lĩnh vực này không ai thay thế được, đặc biệt, trong khi ngành giáo dục ở Việt Nam hiện nay đang trên đà trượt dốc của thời “cải cách”.

Các mục tử cần quan tâm khuyến khích người trẻ biết dấn thân vào các lĩnh vực cấp thiết của xã hội, nhằm góp phần làm lành mạnh hoá xã hội này, để trong khi góp phần vào việc cải tạo xã hội, chính những người trẻ cũng xoá đi nơi mình những tư tưởng yếm thế, tự ti, và óc hẹp hòi địa phương do tình trạng sống biệt lập gây nên và qua đó mở rộng việc truyền giáo.

8. Trên vùng đất giáo phận Vinh, do lịch sử để lại, ngày nay giữa những người Công giáo với những người không Công giáo vẫn còn những thành kiến, cách biệt với mức độ khác nhau tùy từng nơi, từng lúc. Trước hiện trạng đó, đòi hỏi cộng đồng Công giáo và nhất là các vị chủ chăn cần phải can đảm và khôn ngoan, chủ động tìm kiếm sự đối thoại bằng sự dấn thân mới mẻ và đầy tin tưởng. Trên hết, muốn người khác nhận ra khuôn mặt đích thực của Đức Kitô, thì mỗi Kitô hữu phải chủ động đối thoại cởi mở và kiên trì xây dựng bầu khí hiệp thông thân thiện, nhờ đó, những người chưa biết Chúa và cả những người chống đối Giáo Hội sớm có cảm tình và cơ hội đón nhận niềm tin vào Đức Kitô – Đấng “là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống” (Ga 14, 6). Phải làm cho mọi người gặp thấy nơi mỗi Kitô hữu là một chứng nhân Kitô sống động, dễ mến, đáng tin, và nhờ đó họ có thể nhận ra rằng, những điều họ đã từng nghe hoặc từng tham gia tuyên truyền xấu về đạo Công Giáo trước đây đều không đúng. Hơn nữa, đối với Chúa, ngay cả những người chống đối và tội lỗi, Người vẫn có thể biến họ thành công cụ đắc lực của Người.

9. Như đã nói ở trên, người dân vùng Nghệ-Tĩnh-Bình với đa số là nông dân, nhu cầu tâm linh của họ mang đậm tính dân gian truyền thống. Sự tiếp nhận các yếu tố thiêng liêng của người dân nơi đây thông qua cảm quan dân dã, đơn sơ và gần gũi hơn là qua những lý luận cao siêu. Lương dân dễ dàng đến cầu khấn các vị thần thành hoàng làng nơi các đền, miếu, thờ ông bà tổ tiên nơi các nhà thờ họ tộc đơn sơ, hoặc lập ban thờ cha mẹ ngay trong nhà mình; mồng một, ngày rằm, ngày giỗ, ngày Tết họ đều làm cỗ và thắp hương cúng ông bà tổ tiên. Vì thế, trong nỗ lực trở nên nhân chứng của Chúa Kitô cho những lương dân trên quê hương mình, các Kitô hữu phải trở nên gần gũi với họ bằng một cách thức đơn sơ, dễ tin, tựa như lời thánh Phaolô, “tôi thành Do thái cho người Do thái, tôi thành Hi lạp cho người Hi lạp.”[26] Hơn nữa, mọi người Công giáo hiện nay đều có nguồn gốclà lương dân; những người “đạo gốc” nhất cũng chỉ là Công giáo đời thứ tư hoặc thứ năm. Do đó, trong cách sống đạo của mình, người Công giáo không rập theo thói xấu đời này nhưng cũng đừng quá xa lạ với những người đồng hương chung quanh mình. Điều này phải được thể hiện qua những cung cách sống cởi mở, hoà đồng, không phân biệt lương – giáo một cách cứng nhắc. Đặc biệt, trong cách tổ chức các buổi cầu nguyện cũng như các hình thức thờ phượng khác, kể cả kiến trúc và cách bài trí của những công trình thờ phượng Công giáo, cũng cần phải nghiên cứu đến tính tương hợp với cảm thức, văn hóa và nhu cầu tâm linh của đa số người dân nơi đây, không riêng người Công giáo. Nếu làm được như vậy, thì nhờ đó, khi những người lương có cơ hội đến nhà thờ hoặc tham gia các buổi kinh nguyện Công giáo, họ dễ dàng cảm nhận được những thực tại vô hình.

10. Để người giáo dân thực thi ơn gọi chứng nhân của mình, thiển nghĩ, các đấng bậc trong Giáo phận không những trợ giúp họ bằng việc huấn luyện, đồng hành thường xuyên, mà còn nên để giáo dân cộng tác bằng sự tham gia vào một số công tác cụ thể trong công tác truyền giáo của Giáo phận nhằm nâng cao vai trò chủ động của họ và thích nghi kịp với hoàn cảnh nhiều đổi thay nhanh chóng và khác nhau trong thực tế. Cơ cấu của UB Truyền bá Tin Mừng giáo phận nên có sự tham gia của các thành viên là giáo dân đại diện cho các giới và các vùng miền khác nhau trong giáo phận. Chúng ta hãy cùng suy nghĩ về chỉ dẫn của Công đồng Vat. II: “Trong mỗi giáo phận, phải hết sức liệu sao cho có những hội đồng cố vấn gồm các giáo sĩ, tu sĩ cùng cộng tác thích hợp với giáo dân để giúp cho hoạt động tông đồ của Giáo Hội hoặc trong việc rao truyền Phúc Âm và thánh hóa, hoặc trong các công việc từ thiện bác ái, xã hội hay các hoạt động khác.”[27]

Quả thật, đời sống đức tin của Giáo Hội Việt Nam nói chung và của giáo phận Vinh nói riêng lâu nay thường chỉ gói gọn trong những vấn đề thuần túy thiêng liêng; người giáo dân chưa ý thức đủ về sứ mệnh trần thế như một đòi hỏi của chính đức tin; các giáo sỹ chưa hướng dẫn đủ cho giáo dân sống và thể hiện đức tin trong các lĩnh vực trần thế của họ. Vì ý nghĩa đích thực của đức tin Kitô chính là việc người tín hữu kết hợp thân tình với Chúa song song với việc dấn thân vào lịch sử trần thế, trở nên men, muối để biến lịch sử này thành lịch sử ơn cứu độ. Bởi ngày trước, các môn đệ Đức Giêsu sau khi đã sống thân mật với Người, các ông đã “xuống núi”, thì ngày nay, người giáo dân sau các giờ kinh lễ cũng cần phải ra khỏi nhà thờ và khỏi ngôi làng của mình để đi vào hành trình trần gian nhằm đem Đạo vào đời.

Kết luận

Trong thời kì truyền giáo mới hiện nay, cộng đồng Giáo Hội sống Tin Mừng thế nào thì kết quả của hoạt động truyền giáo cũng sẽ như vậy. Và trong xã hội Việt Nam đang có nhiều biến chuyển hôm nay, chúng ta khó có thể tìm ra một phương pháp truyền giáo nào duy nhất để áp dụng cho toàn thể, bởi vì tùy từng mỗi địa phương có những hoàn cảnh đặc thù, có những thời điểm bất trắc và có những khó khăn riêng biệt. Nhưng dẫu thế nào, chúng ta cũng phải sống bác ái yêu thương, phục vụ con người trong Chân lý và Tình yêu theo gương Đức Kitô để giới thiệu Người cho những ai chưa nhận biết Người. Đó chính là từ bỏ mình và vác Thánh giá hằng ngày mà theo Đức Kitô !

Để kết thúc bài viết này, xin được ghi lại câu chuyện về cách làm chứng nhân Tin Mừng như một gợi ý suy tư và tham khảo cho tất cả chúng ta. Câu chuyện như sau:

Một nhóm bạn trẻ từ nhiều quốc gia bàn thảo về cách làm cho Tin Mừng được lan rộng trong thế giới hôm nay. Người này nói về việc rao giảng, người khác nói về việc phân phát tài liệu giáo lý và nhiều cách phổ biến Tin Mừng khác. Đến lượt mình, cô gái Phi châu nói: “Khi muốn truyền đạo cho những làng lân cận của chúng tôi, chúng tôi không cho họ sách. Chúng tôi gửi một gia đình Kitô giáo đến sống trong làng đó. Và dần dà, gia đình đó sẽ làm cho mọi người thành Kitô hữu.

Fx. Hồng Ân

 


 

[1] Vat. II, Sắc lệnh “Tông đồ giáo dân, số 3.

[2] Vat. II, Hiến chế “Vui mừng và Hi vọng”, số 43.

[3] Vat. II, Hiến chế “Ánh sáng muôn dân”, số 31.

[4] Vat. II, Sắc lệnh “Truyền giáo”, số 21.

[5] Vat. II, Sắc lệnh “Tông đồ giáo dân”, số 2.

[6] Ibid., số 12.

[7] ĐGH. GIOAN PHAOLÔ II, Tông huấn “Giáo Hội tại Á châu”, số 23.

[8] FABC-The Federation of The Bishops Conferences of Asia.

[9] Felipe GÓMEZ, SJ., Truyền giáo học, Antôn & Đuốc Sáng, tr.82.

[10] X. Ga 4, 23-24.

[11] X. Ga 15, 12.

[12] X. Mt 12, 19-21.

[13] NGUYỄN ĐĂNG DUY, Văn Hóa Tâm Linh, Nxb. Hà Nội-1998, tr. 274 có ghi: “Không được cúng cơm, cúng tuần, cúng 50 ngày, 100 ngày, giỗ đầu, giỗ hết. Đây là một hẫng lớn về mặt tâm lí của người sống đối với người chết”; và ở tr. 275 ghi: “Gia tô giáo không cho thờ cúng tổ tiên thì thật là bất trung, bất hiếu, quá đáng”. Quả là một sự hiểu lầm nếu không muốn nói là xuyên tạc đáng tiếc.

[14] Xin xem: http://nguoitinhuu.com/martyrs/tudao50.html#4

[15] Theo số liệu của Văn phòng Tòa Giám Mục, năm 2009: tổng số nhân danh Công giáo Giáo phận Vinh là 486.234 người; 05 năm vừa qua số nhân danh tăng 52.636 người, trong đó số người tân tòng là 5.252 người (số tín hữu tân tòng bình quân trên 01 ngàn người/năm).

[16] GM. JB. BÙI TUẦN, Truyền giáo tại Việt Nam hôm nay, đăng trên website vietcatholic.org, ngày 21/10/2010.

[17] Vat. II, Sắc lệnh “Tông đồ giáo dân”, số 8.

[18] HĐGMVN, Thư chung năm 1980, số 9.

[19] ĐGH. BENEDICT XVI, Hun t trước HĐGM Vit Nam ti Vatican, 27/6/2009, số 6.

[20] ĐGH. GIOAN PHAOLÔ II, Tông thư “Khởi đầu ngàn năm mới”, ban hành tại Vatican ngày 06/01/2001, số 52.

[21] Vat. II, Hiến chế “Vui mừng và Hi vọng”, số 34.

[22] ĐGH. GIOAN PHAOLÔ II, Tông huấn “Kitô hữu giáo dân”, ban hành ngày 30/12/1988, ch.3, s.11.

[23] Ibid.

[24] Ibid.

[25] X. Vat. II, Sắc lệnh “Tông đồ giáo dân”, số 30.

[26] X. 1 Cr 9, 19-23.

[27] Vat. II, Sắc lệnh “Tông đồ giáo dân”, số 26.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Đăng ký nhận tin
Nhập email để nhận được những tin tức mới nhất từ chúng tôi.
Thống kê truy cập
  • Đang truy cập25
  • Máy chủ tìm kiếm6
  • Khách viếng thăm19
  • Hôm nay7,451
  • Tháng hiện tại127,986
  • Tổng lượt truy cập331,615
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây