Sách Giáo Lý HTCG : Phần III Sống trong Chúa Kitô - Mười Điều Răn (tiếp 2)

Thứ tư - 19/09/2018 23:38 60 0
Điều răn thứ bảy cấm lấy hoặc giữ tài sản của kẻ khác cách bất công, cấm làm hại của cải họ bất cứ bằng cách nào.
Sách Giáo Lý HTCG : Phần III Sống trong Chúa Kitô - Mười Điều Răn (tiếp 2)

Mục 7
ĐIỀU RĂN THỨ BẢY

"Ngươi không được trộm cắp " (Xh 20, 15; Đnl 5,19).
"Ngươi không được trộm cắp" (Mt 19,18).

2401 1807 952
Điều răn thứ bảy cấm lấy hoặc giữ tài sản của kẻ khác cách bất công, cấm làm hại của cải họ bất cứ bằng cách nào. Điều răn này dạy phải giữ công bằng và bác ái trong việc quản lý những của cải trần thế và thành quả lao động của con người. Vì công ích, điều răn này đòi phải tôn trọng quyền chung hưởng các của cải trần thế và quyền tư hữu. Người Ki-tô hữu cố gắng sử dụng mọi của cải trần thế để phụng sự Thiên Chúa và thực thi bác ái huynh đệ.

I. QUYỀN CHUNG HƯỞNG CỦA CẢI TRẦN THẾ VÀ QUYỀN TƯ HỮU

2402 226 1939
Từ khởi thủy, Thiên Chúa trao địa cầu và các tài nguyên cho nhân loại chung sức quản lý, để con người chăm sóc, chế ngự chúng bằng lao động và hưởng dùng hoa trái của địa cầu ( x. St 1,26-29 ). Của cải trong trần gian được dành cho toàn thể nhân loại. Tuy nhiên, để bảo đảm an toàn cho cuộc sống con người khỏi nghèo đói và bị bạo lực đe dọa, Thiên Chúa chia trái đất thành nhiều phần. Cho con người quyền sở hữu của cải là chính đáng để bảo đảm tự do và phẩm giá con người, để mỗi người đáp ứng được các nhu cầu căn bản của họ và của những ai họ có trách nhiệm coi sóc. Quyền này cũng phải nói lên tình liên đới tự nhiên giữa người với người.

2403
Quyền tư hữu của cải do mình làm ra hay nhận được một cách chính đáng, không hủy bỏ việc Thiên Chúa đã ban địa cầu cho toàn thể nhân loại ngay từ nguyên thủy. Quyền chung hưởng của cải vẫn ưu tiên, cho dù sự thăng tiến công ích đòi phải tôn trọng tư sản, quyền tư hữu và việc hành sử quyền này.

2404 307
"Khi sử dụng của cải, con người phải coi của cải vật chất mà mình sở hữu cách chính đáng không chỉ như của riêng mình, nhưng còn là của chung nữa : nghĩa là của cải đó có thể sinh ích không những cho riêng mình mà còn cho cả người khác nữa" ( x. GS 69,1 ). Người sở hữu một tài sản là người được Thiên Chúa quan phòng trao cho nhiệm vụ quản lý, để làm cho của cải này sinh hoa lợi và thông phần lợi ích cho người khác, trước tiên là cho những người thân của mình.

2405
Chủ nhân của những tư liệu sản xuất, vật chất hoặc phi vật chất, như đất đai hoặc cơ xưởng, những kỹ năng hay nghệ thuật, phải biết chăm lo để lợi tức của chúng đem lại ích lợi cho nhiều người hơn. Những người sở hữu các sản phẩm tiêu dùng, phải sử dụng chừng mực, dành phần tốt đẹp hơn cho người khách, người đau ốm, người nghèo khổ.

2406 1903
Vì công ích, chính quyền có quyền và bổn phận điều tiết, việc hành sử chính đáng quyền sở hữu ( x. GS 71,4 ).

II. TÔN TRỌNG CON NGƯỜI VÀ TÀI SẢN

2407 1809 1807 1839
Trong lãnh vực kinh tế, việc tôn trọng nhân phẩm đòi chúng ta phải sống tiết độ, biết tiết chế lòng ham muốn của cải trần gian; sống công bằng, biết tôn trọng và bảo vệ quyền lợi chính đáng của tha nhân; và sống liên đới, theo "quy luật vàng" và theo lòng hào phóng của Chúa. "Người vốn giàu sang phú quý đã tự ý trở nên nghèo khó vì anh em, để lấy cái nghèo của mình mà làm cho anh em trở nên giàu có" (2Cr 8,9).

Tôn trọng tài sản tha nhân

2408
Điều răn thứ bảy cấm trộm cắp, nghĩa là cấm chiếm đoạt tài sản tha nhân bất chấp ý muốn chính đáng của sở hữu chủ. Nếu có thể đoán trước được sự ưng thuận của chủ hoặc sự khước từ của họ nghịch với lẽ phải và với quyền chung hưởng của cải trần thế thì việc chiếm hữu tài sản không còn là tội ăn cắp. Như thế, trong trường hợp khẩn cấp và rõ ràng, và không còn cách nào để đáp ứng cho các nhu cầu cấp thời và thiết yếu (thức ăn, chỗ ở, áo quần...), thì được quyền sử dụng tài sản tha nhân ( x. GS 69,1 ).

2409 1867
Mọi hình thức chiếm đoạt và cầm giữ cách bất công tài sản tha nhân, dù không nghịch với dân luật, vẫn nghịch với điều răn thứ bảy, như cố tình không trả của đã mượn, giữ lại của rơi, buôn gian bán lận ( x. Đnl 25,13-16 ), trả lương thiếu công bằng (x. Đnl 24,14-15, Gcb 5,4 ),lợi dụng sự không biết và khó khăn của tha nhân để tăng giá (x. Am 8,4 6).
Về phương diện luân lý, những việc sau đây bất hợp pháp: đầu cơ, làm biến động giá cả cách giả tạo với mục đích trục lợi cho mình nhưng làm thiệt hại cho tha nhân; hối lộ, làm sai lệch phán đoán của những người có bổn phận quyết định theo luật pháp; chiếm đoạt và sử dụng tài sản tập thể làm của riêng; làm ăn thiếu trách nhiệm, lậu thuế, giả mạo các chi phiếu và hóa đơn, chi tiêu quá mức, lãng phí. Cố ý gây thiệt hại tài sản tư nhân hoặc công cộng là nghịch với luật luân lý và phải bồi thường.

2410 2101
Phải giữ lời hứa, và thực hiện đầy đủ các hợp đồng đã cam kết trong mức độ công bằng và hợp lý. Đời sống kinh tế và xã hội tùy thuộc rất nhiều vào các hợp đồng thương mại, những giao kèo thuê mướn hoặc lao động. Mọi hợp đồng đều phải được thỏa thuận và thi hành với thiện ý.

2411 1807
Các hợp đồng phải tuân theo công bằng giao hoán quy định những sự trao đổi giữa các cá nhân và giữa các tổ chức trong sự tôn trọng đúng mức các quyền lợi của nhau. Công bằng giao hoán phải được triệt để tôn trọng, vì nó buộc con người bảo toàn các quyền tư hữu, hoàn trả nợ nần và tuân giữ các nghĩa vụ đã tự do giao kết. Không có công bằng giao hoán thì không thể có một hình thức công bằng nào khác.

Cần phân biệt công bằng giao hoán với công bằng pháp lý quy định những bổn phận công bình của ngưòi công dân đối với cộng đồng, và với công bằng phân phối qui định việc cộng đồng phải thực hiện cho người công dân tương xứng với những đóng góp và những nhu cầu của họ.


2412 1459
Công bằng giao hoán đòi chúng ta phải đền bù điều bất công đã làm bằng cách hoàn lại của cải đã lấy cắp cho sở hữu chủ :

2487
Đức Giê-su khen Da-kêu vì lời hứa của ông : "Nếu tôi đã lường gạt ai cái gì, tôi xin đền gấp bốn" (Lc 19,8). Những ai đã trực tiếp hoặc gián tiếp chiếm đoạt tài sản tha nhân, buộc phải hoàn lại, hoặc nếu đồ vật đó không còn nữa, phải trả lại bằng hiện vật hay tiền mặt tương đương, kèm theo tiền lời và các lợi lộc khác mà sở hữu chủ của nó đã có thể hưởng được cách chính đáng. Tất cả những người đã tham gia vào việc trộm cắp một cách nào đó, hoặc đã thừa hưởng mà biết rõ là của phi pháp, đều phải hoàn trả cân xứng theo trách nhiệm và lợi lộc đã hưởng, ví dụ những người đã truyền lệnh hoặc giúp đỡ, hoặc tàng trữ, che giấu.

2413
Các trò đỏ đen (cờ bạc v.v...) hoặc cá cược, tự chúng không nghịch với phép công bằng, nhưng về phương diện luân lý, không thể chấp nhận được khi chúng cướp đi những cái cần thiết để nuôi sống bản thân và người khác. Cờ bạc biến kẻ ham mê thành nô lệ. Cờ gian bạc lận là một lỗi nặng, trừ khi gây thiệt hại rất nhẹ đến độ người bị thiệt thấy việc đó không đáng kể.

2414 2297
Điều răn thứ bảy nghiêm cấm bất cứ hành vi hoặc dịch vụ nào - vì bất cứ một lý do gì, vì ích kỷ hoặc vì ý thức hệ, lợi nhuận hoặc độc tài - dẫn tới việc  nô lệ hóa con người, không nhìn nhận nhân phẩm của họ, mua bán hoặc trao đổi họ như hàng hóa. Tội này xúc phạm đến nhân phẩm và những quyền căn bản của con người vì dùng bạo lực biến họ thành một vật dụng hoặc nguồn lợi. Thánh Phao-lô đã ra lệnh cho một chủ nhân Ki-tô hữu phải đối xử với người nô lệ đồng đạo "không như một nô lệ, nhưng như một người anh em rất thân mến...như một con người, trong Đức Chúa" (Plm 16).

Tôn trọng sự toàn vẹn của các thụ tạo

2415 226, 358 378 373
Điều răn thứ bảy dạy phải tôn trọng sự toàn vẹn của vạn vật. Thiên Chúa đã ban thú vật, thực vật và những vật vô tri, nhằm phục vụ lợi ích chung của nhân loại trong quá khứ, hiện nay và tương lai ( x. St 1,28-31 ). Khi sử dụng các nguồn tài nguyên khoáng chất, thực vật và động vật trong vũ trụ, con người phải tôn trọng các đòi hỏi của luân lý : Đấng Sáng Tạo đã ban cho con người quyền bá chủ trên các vật vô tri và những sinh vật khác, nhưng không phải quyền tuyệt đối, vì phải để ý đến ảnh hưởng trên đời sống của tha nhân, kể cả những thế hệ tương lai; quyền này đòi chúng ta phải trân trọng sự toàn vẹn của vạn vật (x. CA 37 -38).

2416 344
Thú vật là những thụ tạo của Thiên Chúa và được Người ân cần chăm sóc (Mt 6,2 ). Chúng hiện hữu để ca tụng và tôn vinh Người ( x. Đn 3, 57 -58 ). Do đó, con người phải biết thương chúng. Các thánh như Phan-xi-cô Át-xi-di hoặc Phi-lip-phê Nê-ri đều đối xử dịu hiền với thú vật.

2417 2234
Thiên Chúa đã dựng nên con người giống hình ảnh Người và trao phó quyền quản lý các thú vật ( x. St 2,19-20; 9,1-4 ). Do đó con người được phép ăn thịt thú vật và lấy da làm y phục, có thể thuần hóa chúng để trợ lực con người trong lao động và giải trí. Những thí nghiệm y học và khoa học trên thú vật có thể chấp nhận được về phương diện luân lý, miễn là ở trong những giới hạn hợp lý và góp phần vào việc chữa bệnh hoặc cứu lấy mạng sống con người.

2418 2446
Hành hạ hay giết hại thú vật cách vô ích là điều trái với phẩm giá con người. Cũng thế, chi phí những số tiền quá đáng cho thú vật, lẽ ra phải ưu tiên làm giảm bớt sự khốn cùng của con người, thì cũng là một việc bất xứng. Người ta có thể thương thú vật, nhưng không được dành cho chúng tình yêu, chỉ xứng với con người.

III. HỌC THUYẾT XÃ HỘI CỦA HỘI THÁNH

2419 1960 359
"Mặc khải Ki-tô giáo đưa ta đến sự hiểu biết sâu xa hơn về những luật lệ của đời sống xã hội" ( x. GS 23,1 ). Qua Tin Mừng, Hội Thánh nhận được mặc khải trọn vẹn chân lý về con người. Khi chu toàn sứ vụ loan báo Tin Mừng, Hội Thánh nhân danh Đức Ki-tô, xác nhận cho con người biết phẩm giá riêng và ơn gọi hiệp thông của con người. Hội Thánh dạy cho con người biết các yêu sách của công lý và hòa bình, hợp với ý định khôn ngoan của Thiên Chúa.

2420
Trong lãnh vực kinh tế và xã hội, Hội Thánh chỉ đưa ra một phán đoán luân lý "khi các quyền căn bản của con người hoặc phần rỗi các linh hồn đòi hỏi" ( x. GS 76,5 ). Về mặt luân lý, Hội Thánh có sứ mạng khác với chính quyền : Hội Thánh quan tâm đến các khía cạnh trần thế của công ích vì chúng qui hướng về Sự Thiện tối thượng, là cứu cánh tối hậu của chúng ta. Hội Thánh cố gắng phổ biến những lập trường đúng đắn đối với của cải trần thế và với các quan hệ kinh tế xã hội.
2421
Học thuyết xã hội của Hội Thánh được phát triển vào thế kỷ thứ XIX khi Tin Mừng tiếp xúc với xã hội kỹ nghệ tân tiến, với các cơ cấu mới để sản xuất các sản phẩm tiêu thụ, với khái niệm mới về xã hội, về quốc gia và quyền bính, với các hình thức mới của lao động và quyền sở hữu. Sự phát triển học thuyết kinh tế và xã hội của Hội Thánh, xác nhận giá trị vững bền của quyền giáo huấn, cũng như cho thấy ý nghĩa đích thực của Truyền Thống luôn luôn sống động và tích cực ( x. CA 3 ).

2422 2044
Học thuyết xã hội của Hội Thánh là tập hợp các lời dạy của Hội Thánh về các biến cố lịch sử, dưới ánh sáng mặc khải của toàn bộ Lời Chúa, và sự trợ giúp của Chúa Thánh Thần ( x. SRS 1,41 ). Những người thiện chí dễ dàng chấp nhận giáo thuyết này, khi chúng được các Ki-tô hữu thể hiện trong đời sống.

2423
Học thuyết xã hội của Hội Thánh đề ra những nguyên tắc suy tư, những tiêu chuẩn phán đoán, những đường hướng hành động :

“Bất kỳ thể chế nào chỉ căn cứ vào các yếu tố kinh tế để quyết định những mối tương quan xã hội, đều nghịch với bản chất của con người và của các hành vi nhân linh ( x. CA 24 ).

2424 2317
Về mặt luân lý, không thể chấp nhận một lý thuyết coi lợi nhuận là qui luật tuyệt đối và mục đích tối hậu của sinh hoạt kinh tế. Sự ham mê tiền của quá độ đưa đến những hậu quả tai hại. Đây là một trong những nguyên nhân gây rối loạn trật tự xã hội (x. GS 63,3; LE 7; CA 35 ).

Những thể chế "đòi hy sinh những quyền lợi căn bản của cá nhân và đoàn thể cho tổ chức sản xuất tập thể" đều đi ngược với phẩm giá con người ( x. GS 65 ). Những gì biến con người thành phương tiện thuần túy để trục lợi, đều nô lệ hóa con người, đưa tới việc tôn thờ tiền bạc và góp phần truyền bá chủ nghĩa vô thần. "Anh em không thể vừa làm tôi Thiên Chúa, vừa làm tôi tiền của được" ( x. Mt 6,24; Lc 16,13 ).

2425 676 1886
Hội Thánh phi bác các ý thức hệ chuyên chế và vô thần đang hoạt động dưới hình thức "chủ nghĩa cộng sản" hoặc "chủ nghĩa xã hội". Mặt khác, Hội Thánh cũng phi bác chủ nghĩa cá nhân và việc coi luật thị trường là qui luật tối thượng trên lao động của con người, trong cách thực hành của "chủ nghĩa tư bản" ( x. CA 10; 13;44 ). Điều hành kinh tế chỉ dựa trên kế hoạch tập trung sẽ phá hủy tận gốc các mối liên hệ xã hội; điều hành chỉ dựa theo qui luật thị trường sẽ vi phạm công bằng xã hội. "Thị trường không thể thỏa mãn được những nhu cầu muôn mặt của con người" (CA 34). Người tín hữu phải tác động vào thị trường và các sáng kiến kinh tế, để có được một điều hành hợp lý dựa trên một bậc thang giá trị đúng đắn và vì công ích.

IV. HOẠT ĐỘNG KINH TẾ VÀ CÔNG BẰNG XÃ HỘI

2426 1928
Phát triển kinh tế và gia tăng sản xuất đều nhằm phục vụ những nhu cầu của con người. Đời sống kinh tế không chỉ nhằm vào việc gia tăng các sản phẩm, lợi nhuận hoặc quyền lực, nhưng trước tiên là để phục vụ con người : con người toàn diện và toàn thể cộng đồng nhân loại. Hoạt động kinh tế được điều hành theo những phương pháp riêng nhưng phải tôn trọng các khuôn khổ luân lý và công bằng xã hội, để đáp ứng ý định của Thiên Chúa về con người ( x. GS 64 ).

2427 307 378 531
Lao động là công trình trực tiếp của những con người được sáng tạo theo hình ảnh của Thiên Chúa, và được mời gọi cùng nhau tiếp nối công trình sáng tạo khi làm chủ địa cầu ( x. St 1, 28; GS 34; CA 31 ). Do đó, lao động là một bổn phận : "Ai không chịu làm việc thì cũng đừng ăn" ( x. 2 Th 3,1-10;1 Th 4,11 ). Khi lao động, con người biểu dương các ân huệ của Đấng Sáng Tạo và những tài năng Chúa ban. Lao động còn có giá trị cứu chuộc ( x. St 3,14-19 ). Khi kết hợp với Đức Giê-su, người thợ làng Na-da-rét và cũng là Đấng chịu đóng đinh trên Đồi Sọ, con người qua những vất vả lao động được cộng tác với Con Thiên Chúa trong công trình cứu độ. Họ chứng tỏ mình là môn đệ của Đức Ki-tô khi vác thập giá hằng ngày, qua việc chu toàn những bổn phận trong sinh hoạt ( x. LE 27 ). Lao động có thể là một phương thế thánh hóa và thấm nhuần các thực tại trần thế bằng thần khí của Đức Ki-tô.

2428 2834 2185
Trong lao động, con người sử dụng và thể hiện một phần các khả năng tự nhiên của mình. Giá trị hàng đầu của lao động hệ tại ở chính con người, là tác giả và là người thụ hưởng nó. Lao động vì con người, chớ không phải con người vì lao động ( x. LE 6 ).

Mỗi người có quyền nhờ lao động mà có được các phương thế để nuôi sống bản thân và những người thân, cũng như phục vụ cộng đồng nhân loại.

2429
Mỗi người có quyền có sáng kiến trong sinh hoạt kinh tế, sử dụng chính đáng các tài năng của mình để góp phần làm ra nhiều của cải cho mọi người được hưởng, và gặt hái những hiệu quả chính đáng do các nỗ lực của mình. Họ phải để tâm tuân theo các qui định do chính quyền hợp pháp đề ra vì công ích ( x. CA 32,34 ).

2430
Đời sống kinh tế liên can đến nhiều quyền lợi khác nhau, thường đối nghịch nhau, nên thường xảy ra các xung đột ( x. LE, 11). Phải cố gắng giải quyết các xung đột bằng thương lượng, dựa trên sự tôn trọng các quyền lợi và bổn phận của mọi thành phần xã hội: ban điều hành các xí nghiệp, đại diện công nhân, thí dụ các tổ chức nghiệp đoàn, và đại diện chính quyền.

2431 1908 1883
Trách nhiệm của Nhà Nước. "Hoạt động kinh tế, đặc biệt là nền kinh tế thị trường, cần đến những định chế, pháp luật và chính sách. Hoạt động kinh tế phải được bảo đảm bằng tự do cá nhân và quyền tư hữu, ngoài ra phải có hệ thống tiền tệ ổn định và các dịch vụ công cộng hữu hiệu. Nhiệm vụ chính yếu của Nhà Nước là bảo đảm sự an toàn để người lao động có thể hưởng hiệu quả công việc làm của họ và do đó họ sẽ cảm thấy được khuyến khích làm việc cách hiệu quả và lương thiện... Nhà Nước cũng có bổn phận giám sát và hướng dẫn việc thực thi nhân quyền trong lãnh vực kinh tế. Tuy nhiên trong lãnh vực này trách nhiệm đầu tiên không phải của nhà nước nhưng của các cá nhân, các đoàn nhóm khác nhau và các hiệp hội là thành viên của xã hội ( x. CA 48 ).


2432 2415
Những người lãnh đạo xí nghiệp chịu trách nhiệm trước xã hội về mặt kinh tế và sinh-thái của công việc làm ăn của mình ( x. CA 37 ). Họ quan tâm đến lợi ích của con người chứ không lo gia tăng lợi nhuận. Dĩ nhiên, lợi nhuận cần thiết vì giúp thực hiện những đầu tư bảo đảm tương lai của xí nghiệp và bảo đảm công ăn việc làm của công nhân.

2433
Mọi người phải được quyền làm việc và chọn nghề, không bị kỳ thị bất công, nam hay nữ, người khỏe mạnh hay tàn tật, người địa phương hay người nơi khác ( x. LE 19,22-23 ). Tùy hoàn cảnh xã hội phải giúp đỡ để các công dân có công ăn việc làm ( x. CA 48 ).

2434 1867
Người lao động có quyền hưởng đồng lương công bằng. Không trả hoặc giữ tiền lương lại, là một tội bất công nghiêm trọng ( x. Lv 19,13; Đnl 24,14-15; Gcb 5,4 ). Để định giá tiền lương cho công bằng, phải lưu ý đến các nhu cầu và đóng góp của mỗi người. "Tùy theo nhiệm vụ và năng suất của mỗi người, tình trạng của xí nghiệp và công ích, việc làm phải được trả lương sao cho con người có đủ khả năng xây dựng cho mình một đời sống xứng hợp về phương diện vật chất, xã hội, văn hóa và tinh thần" ( x. GS 67,2 ). Về phương diện luân lý, sự thỏa thuận giữa chủ và thợ không đủ đễ định mức lương.

2435
Về mặt luân lý, đình công là việc chính đáng, khi đó là một phương thế không tránh được hoặc cần thiết, để đạt được lợi ích tương xứng. Đình công không thể chấp nhận được về mặt luân lý, khi kèm theo bạo động hoặc khi chỉ được dùng nhằm những mục tiêu không trực tiếp liên hệ đến các điều kiện làm việc hay trái nghịch với công ích.

2436
Không đóng góp lệ phí cho những cơ quan an ninh xã hội do chính quyền hợp pháp qui định là điều bất công.

Tình trạng thất nghiệp, đối với nạn nhân, luôn xúc phạm đến phẩm giá của họ và là một đe dọa cho thế quân bình của đời sống. Ngoài sự thiệt hại mà cá nhân người đó phải gánh chịu, thất nghiệp còn đem lại nhiều mối nguy cho gia đình của họ ( x. LE 18 ).

V. CÔNG BẰNG VÀ TÌNH LIÊN ĐỚI GIỮA CÁC QUỐC GIA

2437 1938
Trên bình diện quốc tế, tình trạng các nguồn tài nguyên và các phương tiện kinh tế không được phân bố đồng đều, đến độ gây nên một "hố sâu" giữa các quốc gia ( x. SRS,14 ). Một bên là những quốc gia có được và phát triển các phương tiện tăng trưởng; bên kia là những quốc gia nợ nần chồng chất.

2438 1911 2315
Ngày nay, "vấn đề xã hội mang một chiều kích quốc tế" (x. SRS 9), vì nhiều nguyên do khác nhau như tôn giáo, chính trị, kinh tế và tài chánh. Giữa các quốc gia vốn có liên hệ chính trị, cần phải liên đới với nhau. Tình liên đới này lại còn khẩn thiết hơn nữa khi phải loại trừ những "guồng máy kinh tế tàn nhẫn" ngăn chặn quá trình phát triển của các quốc gia yếu kém ( x. SRS 17,45 ). Thay vì các hệ thống kinh tài đầy lạm dụng hoặc bóc lột ( x. CA 35 ), những trao đổi thương mại bất công giữa các quốc gia, chạy đua vũ trang, chúng ta phải có một cố gắng chung để huy động các nguồn tài nguyên vào những mục tiêu phát triển luân lý, văn hóa và kinh tế "nhờ xác định lại những quyền ưu tiên và các bậc thang giá trị" ( x. CA 28 ).

2439
Các nước giàu phải có trách nhiệm đối với những quốc gia không có những phương thế phát triển hoặc không phát triển được vì những biến cố lịch sử bi đát. Đây là một bổn phận của tình liên đới và bác ái. Đó cũng là một đòi hỏi của công bình, nếu sự sung túc của các nước giàu là do những tài nguyên của các nước nghèo, nhưng chưa được trả giá đúng mức.

2440
Viện trợ trực tiếp chỉ là phản ứng nhất thời đáp ứng những nhu cầu trước mắt và đột xuất, chẳng hạn do thiên tai hay dịch tễ. Nhưng viện trợ này không đủ để bù đắp những thiệt hại nặng nề sau tai biến, cũng không thể trường kỳ thỏa mãn các nhu cầu được. Phải cải tổ các thể chế kinh tế và tài chánh quốc tế, để có thể có được những trao đổi công bằng hơn với các nước chậm phát triển ( x. SRS 16 ). Phải nâng đỡ cố gắng của các nước nghèo đang phấn đấu để phát triển và giải phóng (x.CA 26). Điều này phải được áp dụng đặc biệt trên bình diện nông nghiệp. Nông dân là thành phần nghèo đói đông đảo, nhất là ở thế giới thứ ba.

2441 1908
Nền tảng cho mọi phát triển trọn vẹn xã hội loài người đòi buộc phải nâng cao cảm thức về Thiên Chúa và nhận thức về mình. Sự phát triển này làm gia tăng gấp bội tài sản vật chất để phục vụ con người và tự do, giảm bớt sự cùng khổ và bóc lột kinh tế, tôn trọng bản sắc văn hóa và khai mở chiều kích siêu việt ( x. SRS 32; CA 51. ).
2442 899
Các mục tử của Hội Thánh không có trách nhiệm nhúng tay trực tiếp vào cơ cấu chính trị cũng như việc tổ chức đời sống xã hội. Trách nhiệm này là ơn gọi của giáo dân; họ cộng tác với đồng bào theo sáng kiến riêng mình. Có nhiều đường lối cụ thể rộng mở cho việc tham gia chính trị của họ; nhưng phải luôn nhắm tới công ích và thích ứng với sứ điệp Tin Mừng cũng như giáo huấn Hội Thánh. Người tín hữu có bổn phận "tham gia vào lãnh vực trần thế với sự nhiệt tình của người Ki-tô hữu và sống như những người kiến tạo hòa bình và công lý" ( x. SRS 47; SRS 42 ).

2544-2547
VI. YÊU THƯƠNG NGƯỜI NGHÈO

2443 786 525,544, 853
Thiên Chúa chúc phúc cho ai giúp đỡ người nghèo và kết án ai lãnh đạm với họ. "Ai xin thì hãy cho; ai muốn vay mượn, thì đừng ngoảnh mặt đi" (Mt 5,42) "Anh em đã được cho không, thì cũng phải cho không như vậy" (Mt 10,8). Đức Giê-su Ki-tô nhận ra kẻ được Người tuyển chọn ( x. Mt 25,31-36 ) qua việc họ đã làm cho người nghèo. Dấu chỉ sự hiện diện của Đức Ki-tô là "kẻ nghèo được nghe Tin Mừng" (Mt 11,5) ( x. Lc 4,18 ).

2444 1716
"Hội Thánh vẫn luôn yêu thương người nghèo... Đây là truyền thống ngàn đời của Hội Thánh" ( x. CA 57 ). Hội Thánh đã múc nguồn cảm hứng cho tình yêu này từ Tin Mừng của Bát Phúc (x. Lc 6, 20-22), từ chính sự nghèo khó của Đức Giê-su (x. Mt 8, 20) và từ lòng thương xót của Người đối với kẻ nghèo (x. Mc 12,41-44). Tình yêu đối với người nghèo phải trở thành một trong những động lực thúc đẩy tín hữu hoạt động và "làm ăn, để có gì chia sẻ với người túng thiếu" (Eph 4,28). Điều này không phải chỉ giới hạn ở sự nghèo khó về vật chất nhưng còn hướng tới nhiều hình thức nghèo đói văn hóa và tôn giáo ( x. CA 57 ).

2445 2536.
Tình yêu đối với kẻ nghèo không thể đi đôi với lòng ham muốn giàu sang quá độ cũng như sử dụng của cải quá ích kỷ :
2547
"Giờ đây, hỡi những kẻ giàu có, các ngươi hãy than van rên rỉ về những tai họa sắp đổ xuống trên đầu các ngươi. Tài sản của các ngươi đã hư nát, quần áo của các ngươi đã bị mối ăn. Vàng bạc của các ngươi đã bị rỉ sét; và chính rỉ sét ấy là bằng chứng buộc tội các ngươi; nó sẽ thiêu hủy xác thịt các ngươi như lửa. Các ngươi đã lo tích trữ trong những ngày sau hết này. Các ngươi đã gian lận mà giữ lại tiền lương của những thợ đi cắt lúa trong ruộng của các ngươi. Kìa, tiền lương ấy đang kêu lên oán trách các ngươi, và tiếng kêu của những thợ gặt ấy đã thấu đến tai Chúa Tể càn khôn. Trên cõi đời này, các ngươi đã sống xa hoa, đã buông theo khoái lạc, lòng các ngươi đã được no đầy thỏa mãn trong ngày sát hại. Các người đã kết án, đã giết hại người công chính, và họ đã chẳng cưỡng lại các người" (Gcb 5,1-6).

2446 2402.
Thánh Gio-an Kim Khẩu nhắc lại trách nhiêm này với những lời khẩn thiết : "Không cho kẻ nghèo được chia sẻ của cải thuộc về họ là ăn cắp và cướp lấy mạng sống của họ. Của cải chúng ta đang nắm giữ, không phải là của chúng ta, nhưng là của họ" (Laz 1,6). "Phải thỏa mãn những đòi hỏi công bình trước đã, kẻo những tặng phẩm đem cho, tưởng là vì bác ái, mà thật ra là vì đức công bằng phải đền trả" ( x. AA 8 ).
"Khi tặng những thứ cần thiết cho người nghèo, chúng ta không làm vì lòng quảng đại cá nhân, nhưng là hoàn trả cho họ những gì thuộc về họ. Qua đó, chúng ta chu toàn một trách nhiệm công bằng hơn là thực hiện một hành vi bác ái" (T. Ghê-gô-ri-ô Cả, 3,21).

2447 1460 1038 1969.
Các việc từ thiện là những hành vi bác ái, qua đó chúng ta giúp đỡ tha nhân những gì cần thiết cho thể xác và tinh thần ( x. Is 58,6-7; Dt 13,3 ). Dạy dỗ, khuyên nhủ, an ủi, khích lệ, cũng như tha thứ, nhẫn nhục, chịu đựng là những hành vi bác ái về mặt tinh thần. Công việc từ thiện về mặt vật chất phải kể : cho kẻ đói ăn, cho kẻ vô gia cư tạm trú, cho kẻ rách rưới ăn mặc, thăm viếng bệnh nhân và kẻ tù đày, chôn xác kẻ chết ( x. Mt 25, 31-46 ). Trong các hành vi đó, bố thí ( x. Tb 4,5-11; Kn 17,22 ) là một trong những chứng cứ chính yếu của tình bác ái huynh đệ; đó cũng là hành động đẹp lòng Thiên Chúa (Mt 6,2-4) :

1004
"Ai có hai áo, thì chia cho người không có; ai có gì ăn, thì cũng làm như vậy" (Lc 3,11). "Tốt hơn, hãy bố thí những gì các ngươi có, rồi thì mọi sự sẽ trở nên trong sạch cho các ngươi" (Lc 11,41). "Giả như có người anh em hay chị em không có áo che thân và không đủ của ăn hằng ngày, mà có ai trong anh em lại nói với họ : "Hãy đi bình an, mặc cho ấm và ăn cho no", nhưng lại không cho họ những thứ thân xác họ đang cần, thì nào có ích lợi gì ?" (Gcb 2,15-16; 1 Ga 3,17).

2448 886 1586.
Sự khốn cùng của con người xuất hiện dưới nhiều hình thức : thiếu thốn vật chất, bất công và đàn áp, bệnh hoạn thể xác và tâm thần, cuối cùng là cái chết. Sự khốn cùng này là dấu chỉ cho thấy con người sau nguyên tội yếu đuối từ bẩm sinh và cần đến ơn cứu độ. Vì thế, Đức Ki-tô đã chạnh lòng thương xót và mang lấy thân phận khốn cùng của con người và tự đồng hóa với "người bé nhỏ trong các anh em". Ngay từ đầu, Hội Thánh )ưu ái đặc biệt những người cùng khổ để nâng đỡ, bảo vệ và giải phóng họ, mặc dù vẫn có nhiều phần tử đã không làm như vậy. Hội Thánh đã thực hiện điều này qua vô số công cuộc từ thiện mà thời nào và ở đâu cũng không thể thiếu" (x "Libertatis Conscientia" 68 ).

2449 1397
Sách Đệ Nhị Luật khuyến cáo: "Người nghèo không bao giờ vắng bóng trên đất nước. Vì thế, ta truyền cho ngươi: phải mở rộng bàn tay cho người anh em nghèo đói, cùng khổ đang sống trên đất nước của ngươi" (Đnl 15,11). Đáp lại lời khuyến cáo này Cựu Ước đã có những luật như : năm toàn xá, cấm lấy lãi và xiết nợ, nộp thuế thập phân, trả lương công nhật, quyền được mót ở ruộng lúa và vườn nho. Đức Giê-su cũng tuyên bố : "Người nghèo thì anh em luôn có bên cạnh; còn Thầy, anh em không có luôn mãi đâu" (Ga 12,8). Và như vậy, Đức Giê-su không giảm nhẹ lời các ngôn sứ xưa kia : "Chúng dùng tiền để mua người cô thân, mua kẻ nghèo bằng giá một đôi dép" (Am 8,6), nhưng mời gọi chúng ta nhận ra Người trong những kẻ nghèo đói là anh em của Người (Mt 25,40).

786
Khi thánh Rô-sa thành Li-ma bị mẹ trách vì đã đem những kẻ nghèo, những bệnh nhân vào nhà, thánh nữ trả lời : "Khi chúng ta phục vụ người nghèo và người bệnh là chúng ta phục vụ chính Đức Giê-su. Chúng ta không được lơ là trong việc giúp đỡ tha nhân, vì chúng ta phục vụ Chúa Giê-su trong anh em" (Vita).

TÓM LƯỢC

2450
"Ngươi chớ trộm cắp" (Đnl 5,19). "Những kẻ trộm cắp, tham lam... cướp bóc sẽ không được Nước Thiên Chúa làm cơ nghiệp" (1 Cr 6,10).

2451
Điều răn thứ bảy truyền phải thực thi công bằng và bác ái khi quản lý của cải trần thế và thành quả lao động.

2452
Thiên Chúa sáng tạo vạn vật cho toàn thể nhân loại. Quyền tư hữu không hủy bỏ quyền chung hưởng những của cải này.

2453
Điều răn thứ bảy cấm trộm cắp. Trộm cắp là chiếm đoạt tài sản của kẻ khác nghịch lại ý muốn chính đáng của sở hữu chủ.

2454
Mọi hình thức chiếm đoạt hay sử dụng tài sản của kẻ khác cách bất công, đều vi phạm điều răn thứ bảy. Bất công đòi buộc phải đền bù. Công bằng giao hoán buộc phải hoàn trả lại tài sản đã bị chiếm đoạt.

2455


Luật luân lý nghiêm cấm mọi hành vi nô lệ hóa con người vì lợi nhuận hay độc tài, hoặc mua bán, trao đổi họ như hàng hóa.

2456
Đấng Sáng Tạo đã ban cho con người quyền sử dụng tài nguyên khoáng sản, thực vật và động vật trên thế giới. Nhưng họ phải tôn trọng những trách nhiệm luân lý, đối với cả những thế hệ tương lai.

2457
Thiên Chúa trao cho con người quyền trên các thú vật. Con người phải chăm sóc chúng. Và được sử dụng để đáp ứng những nhu cầu chính đáng của con người.

2458
Trong lãnh vực kinh tế và xã hội, Hội Thánh có quyền lên tiếng khi những quyền căn bản của con người hay ơn cứu độ đòi buộc. Hội Thánh quan tâm đến công ích thuộc lãnh vực trần thế của loài người, bao lâu công ích này qui hướng vào sự thiện hảo tối cao là cùng đích của chúng ta.

2459
Con người là tác giả, trung tâm và cứu cánh của toàn bộ đời sống kinh tế và xã hội. Mấu chốt của vấn đề xã hội là làm thế nào để của cải Thiên Chúa sáng tạo cho mọi người hưởng dùng, được đến tận tay mọi người theo lẽ công bằng và tương trợ bác ái.

2460
Vì con người vừa là tác giả, vừa là mục tiêu của lao động, nên con người là yếu tố quyết định cho giá trị chính yếu của lao động. Qua lao động, con người tham gia vào chương trình sáng tạo của Thiên Chúa. Lao động có thể có giá trị cứu độ, nếu con người biết kết hợp với Đức Ki-tô.

2461
Phát triển đích thực là phát triển con người toàn vẹn, giúp họ thêm khả năng đáp lại ơn gọi làm người, nghĩa là đáp lại lời mời gọi của Thiên Chúa.

2462
Bố thí là bằng chứng của bác ái huynh đệ và là hành vi công bằng đẹp lòng Thiên Chúa.

2463
Chẳng lẽ chúng ta không nhận ra La-da-rô, người hành khất đói khổ trong dụ ngôn của Đức Giê-su, giữa bao người không cơm áo, không nhà cửa? Chẳng lẽ chúng ta không nghe được tiếng của Đức Giê-su : "Các ngươi đã không làm cho chính Ta?" (Mt 25, 45).

Mục 8

ĐIỀU RĂN THỨ TÁM

“Ngươi không được làm chứng gian hại người (Xh 20, 16). Các ngươi còn nghe luật dạy người xưa rằng : "Chớ bội thề, nhưng hãy trọn lời thề đối với Chúa" (Mt 5,33)

2464
Điều răn thứ tám cấm xuyên tạc chân lý trong khi giao tiếp với tha nhân. Qui định luân lý này bắt nguồn từ ơn gọi của Dân Thánh làm chứng nhân cho Thiên Chúa của mình, Đấng là chân lý và muốn có chân lý.
Khi nói hoặc làm điều gì xâm phạm đến chân lý, con người từ chối sống ngay thẳng về luân lý. Làm như vậy là bất trung nặng nề với Thiên Chúa và do đó phá hủy nền tảng của Giao Ước.

I. SỐNG TRONG CHÂN LÝ

2465 215
Cựu Ước chứng nhận : Thiên Chúa là nguồn mạch chân lý. Lời Người là chân lý (x. Cn 8,7; 2 Sm 7,28 ). Luật Người là chân lý (x. Tv 119, 142). "Lòng tín trung Người tồn tại đến muôn đời" (x. Tv 119, 90; Lc 1, 50). Bởi vì Thiên Chúa là "Đấng Chân Thật" (Rm 3,4), nên mọi thành phần Dân Người được mời gọi sống trong chân lý (x. Lc 1,50).

2466 2153
Nơi Đức Giê-su Ki-tô, chân lý của Thiên Chúa được bày tỏ toàn vẹn. Đức Giê-su tràn đầy ân sủng và chân lý (Ga 1,14), là " ánh sáng thế gian"( Ga 8,12), là "sự thật"( x. Tv 119,30). "Ai tin vào Người thì không còn ở trong bóng tối" (Ga 12, 46). Môn đệ của Đức Giê-su"ở trong lời Người", nhờ đó nhận biết "chân lý giải thoát" (Ga 8, 32) và thánh hóa (x. Ga 14,6 ). Bước theo Đức Giê-su là sống nhờ "Thánh Thần chân lý" (Ga 14,17) mà Cha gởi đến nhân danh Người (x. Ga 17,17 ) và Thánh Thần sẽ dẫn đưa đến "chân lý toàn vẹn" (Ga 16,13). Đức Giê-su dạy các môn đệ phải yêu mến chân lý vô điều kiện : Trong lời ăn tiếng nói của anh em, "hễ có thì phải nói có", "không thì phải nói không" (Mt 5, 37).

2467 2104
Tự nhiên, con người hướng đến chân lý. Con người biết mình phải tôn trọng và làm chứng cho sự thật : "Vì có phẩm giá, mọi người được thôi thúc và có bổn phận tìm kiếm chân lý, trước tiên là chân lý về tôn giáo. Họ thấy mình phải tha thiết với sự thật ngay khi nhận biết sự thật và điều chỉnh toàn bộ đời sống theo các đòi hỏi của sự thật" (Ga 14,26).

2468 1458
Khi chân lý được thể hiện trong hành động và lời nói, chúng ta gọi là chân chính, thành thật hoặc thẳng thắn. Chân lý hoặc chân thật là nhân đức giúp con người thành thật trong các hành vi và lời nói, không gian dối, giả vờ, đạo đức giả.

2469 1807
"Người ta sẽ không thể sống chung với nhau được nếu không tín nhiệm nhau, nghĩa là nếu không cho nhau biết sự thật" ( x. DH 2 ). Đức tính chân thật đòi chúng ta cho người khác biết sự thật họ có quyền biết. Người chân thật vừa lương thiện, vừa cẩn mật : nói điều phải nói và giữ kín điều phải giữ kín. Theo đức công bình, "người ta phải sống thành thật với nhau" (T. Tô-ma A-qui-nô, s. th 2-2, 109,3 ).

2470
Người môn đệ Đức Ki-tô chấp nhận "sống trong chân lý", nghĩa là sống đơn sơ và thành thật theo gương mẫu của Chúa. "Nếu chúng ta nói là chúng ta được hiệp thông với Người,mà lại sống trong tối tăm, thì chúng ta nói dối, và không hành động theo sự thật" (1Ga 1,6).

II. " LÀM CHỨNG CHO CHÂN LÝ"

2471 1816
Trước mặt Phi-la-tô, Đức Ki-tô tuyên bố : "Tôi đã đến thế gian là để làm chứng cho sự thật" (Ga 18, 37). Người Ki-tô hữu ), "đừng hổ thẹn vì phải làm chứng cho Chúa" (2Tm 1,8). Trong những hoàn cảnh cần phải làm chứng cho đức tin, người Ki-tô hữu phải tuyên xưng không úp mở, theo gương thánh Phao-lô trước mặt các thẩm phán. Người Ki-tô hữu phải cố gắng để "lương tâm không có gì đáng chê trách trước mặt Thiên Chúa và người ta" (Cv 24,16).

2472 863, 905
Bổn phận tham gia vào đời sống của Hội thánh, thúc đẩy người Ki-tô hữu hành động như những chứng nhân của Tin Mừng và chu toàn những trách vụ phát xuất từ bổn phận ấy. Làm chứng nhân là truyền đạt đức tin bằng lời nói và việc làm. Làm chứng cho đức tin là một việc làm chính đáng để khẳng định hoặc làm cho kẻ khác nhận biết chân lý (x. Mt 18,16):

“Mọi Ki-tô hữu dù sống ở đâu, đều phải lấy gương mẫu đời sống và chứng từ lời nói để biểu dương con người mới mà họ đã mặc lấy nhờ bí tích Thánh Tẩy, và sức mạnh của Chúa Thánh Thần mà họ đã được củng cố nhờ bí tích Thêm Sức" ( x. AG 11 ).

2473 852 1808 1258
Tử đạo là chết để làm chứng cho chân lý đức tin, nên là lời chứng cao quí nhất. Sống kết hợp với Đức Ki-tô, khi chịu chết, vị tử đạo làm chứng cho Đấng đã chết và đã sống lại. Những vị tử đạo làm chứng cho chân lý đức tin và đạo lý Ki-tô giáo bằng cái chết anh hùng. "Hãy để tôi trở nên mồi ngon cho ác thú. Chính nhờ chúng mà tôi sẽ được về với Thiên Chúa" (T. Inhaxiô thành Antiôkia, Rom. 4,1 ).

2474
Hội Thánh hết sức cẩn thận thu thập kỷ niệm về những người đã đi đến tận cùng để làm chứng cho đức tin. Truyện các vị tử đạo là văn khố của Chân Lý được viết bằng máu :


1011
"Những quyến rũ của thế gian và các vương quốc thế trần sẽ chẳng ích gì cho tôi. Đối với tôi, chết (để được kết hợp ) với Đức Ki-tô Giê-su, còn hơn được thống trị cả mặt đất này. Chính Người là Đấng tôi tìm kiếm, Đấng đã chết cho chúng ta. Chính Người là Đấng tôi khao khát, Đấng đã sống lại vì chúng ta. Giờ phút tôi chào đời đã gần kề (T. Inhaxiô thành Antiôkia, Rom 6,1-2 ).

“Con chúc tụng Chúa vì Chúa cho con được hưởng ngày này và giờ này, được kể vào số các vị tử đạo của Chúa... Lạy Thiên Chúa trung tín và chân thật, Chúa đã giữ lời Chúa hứa. Vì ân huệ này và vì tất cả mọi sự, con ngợi khen Chúa, con chúc tụng Chúa, con tôn vinh Chúa nhờ vị Thượng Tế vĩnh hằng trên trời là Đức Giê-su Ki-tô, Con rất yêu dấu của Chúa. Nhờ Người, Đấng luôn ở với Cha và Chúa Thánh Thần, con xin tôn vinh Cha bây giờ và cho đến muôn muôn đời A-men (T. Pôlycapô, mart. 14, 2-3 ) ".

III. NHỮNG XÚC PHẠM ĐẾN CHÂN LÝ

2475
Là môn đệ của Đức Ki-tô, chúng ta đã "mặc lấy con người mới, là con người sáng tạo theo hình ảnh Thiên Chúa để sống thật sự công chính và thánh thiện" (Ep 4, 24). Một khi đã cởi bỏ sự gian dối (Ep 4, 25) chúng ta phải "từ bỏ mọi thứ gian ác, mọi điều xảo trá, giả hình và ghen tương cùng mọi lời nói gièm pha" (1 Pr 2,1).

2476 2152
Chứng dối và thề gian. Công khai nói nghịch với sự thật là một lỗi nặng. Trước tòa án, lời nói như thế là chứng dối ( x. Pr 19,9 ). Khi nói dối mà còn thề, thì đó là thề gian. Chứng dối và thề gian sẽ dẫn đến một người vô tội bị kết án hoặc can phạm được gỡ tội hoặc gia tăng hình phạt cho bị cáo (x. Pr 18, 5), làm cho các thẩm phán đi đến những phán quyết lệch lạc.

2477
Vì phải tôn trọng thanh danh của người khác, chúng ta không được có thái độ và lời nói có thể gây hại cho họ ( x. CIC can.220). Chúng ta có lỗi khi :
- Phán đoán hồ đồ, nghĩa là khi không có đủ cơ sở mà minh nhiên hoặc mặc nhiên cho rằng một người có lỗi về luân lý;
- Nói xấu nghĩa là khi không có lý do khách quan chính đáng mà lại tiết lộ những tật xấu và những lỗi lầm của kẻ khác cho những người chưa biết ( x. Kn 21,28 );
- Vu khống tức là khi dùng những lời ngược với sự thật mà làm hại thanh danh kẻ khác và tạo cớ cho người ta phán đoán sai lầm về người ấy.

2478
Để tránh phán đoán hồ đồ, chúng ta phải cố gắng cắt nghĩa tốt cho ý nghĩ, lời nói và việc làm của tha nhân :

“Mọi Ki-tô hữu tốt phải sẵn sàng bào chữa cho người khác hơn là lên án. Nếu không bàu chữa được, thì phải hỏi xem người ấy có ý nói gì, nếu người ấy nói sai, thì hãy lấy tình thương mà sửa chữa; và nếu chưa đủ thì tìm mọi phương thế thích hợp để giúp người ấy hiểu được và thoát được sai lầm (T.I-nhã Linh Thao, 22).

2479 1753
Nói xấu và vu khống làm mất thanh danh và danh dự của người khác. Danh dự là bằng chứng xã hội tôn trọng phẩm giá con người, và mọi người tự nhiên có quyền được tôn trọng thanh danh. Do đó, nói xấu và vu khống là phạm đến công bình và bác ái.


2480
Phải loại trừ mọi lời nói hoặc thái độ như nịnh hót, a dua, tâng bốc hoặc lấy lòng để thúc đẩy kẻ khác làm điều xấu và ăn ở đồi bại. Tâng bốc là một lỗi nặng nếu đồng lõa với các thói xấu hoặc các tội nặng. Ý muốn giúp đỡ hoặc tình bạn không biện minh được cho lời nói giả dối. Tâng bốc là một tội nhẹ khi chỉ vì muốn làm vui lòng người khác, tránh một điều xấu, thoát khỏi một tình thế khó khăn hay để đạt được những lợi ích chính đáng.

2481
Khoe khoang hoặc khoác lác là một lỗi nghịch với sự thật. Mỉa mai cũng là tội khi có ý châm biếm một cách cư xử nào đó của người khác để hạ giá họ.

2482 392
"Nói dối là nói sai sự thật, với ý định đánh lừa kẻ khác"(T.Âu-tinh, mend.4,5 ). Chúa Giê-su kết án nói dối như một công việc của ma quỉ "Cha các ngươi là ma quỉ ... vì sự thật không ở trong nó. Khi nói dối là nó nói theo bản tính của nó, vì nó là kẻ nói dối và là cha sự gian dối" (Ga 8,44).

2483
Khi nói dối người ta trực tiếp xúc phạm đến chân lý. Nói dối là nói hay hành động nghịch với chân lý để lừa gạt. Nói dối làm hại đến tương quan giữa con người với chân lý và con người với nhau, nên kẻ nói dối xúc phạm đến tương quan nguyên thủy giữa con người và lời nói của con người với Chúa.

2484 1750
Tội nói dối nặng hay nhẹ tùy theo mức độ làm sai lạc chân lý, tùy theo các hoàn cảnh và ý định của kẻ nói dối, tùy theo những thiệt hại mà nạn nhân của nó phải hứng chịu. Ngay cả khi nói dối chỉ là tội nhẹ, cũng trở thành tội trọng nếu vi phạm nặng nề đến công bình và bác ái.

2485 1756
Tội nói dối bao giờ cũng là điều phải lên án, vì làm mất giá trị lời nói trong khi lời nói có nhiệm vụ truyền thông cho kẻ khác chân lý mình đã biết. Lời nói cố ý lừa gạt kẻ khác, là lỗi phạm đến công bằng và bác ái. Tội này càng nặng hơn khi có nguy cơ gây ra những hậu quả tai hại cho người bị lừa gạt.

2486 1607
Nói dối vì xúc phạm đến đức tính chân thật, thực sự là một hành vi thô bạo đối với kẻ khác, xâm phạm đến khả năng nhận thức là điều kiện để họ phán đoán và quyết định. Nói dối gây chia rẽ giữa người với người và mọi tệ hại do chia rẽ mà ra. Nói dối là tai họa cho mọi xã hội, làm cho người ta không còn tin tưởng nhau và phá hoại những mối tương giao trong xã hội.

2487 1459 2412
Ai lỗi phạm đến công bình và chân lý, đều phải đền bù, dù đã được thứ tha. Khi không thể đền bù cách công khai, thì phải làm kín đáo; nếu không thể đền bù cách trực tiếp cho người bị hại, thì phải đền bù về tinh thần vì đức bác ái. Ai lỗi phạm đến thanh danh kẻ khác, cũng phải đền bù như thế. Phải đền bù tinh thần và đôi khi về mặt vật chất, tương xứng với thiệt hại đã gây ra. Đây là nghĩa vụ lương tâm.

IV. TÔN TRỌNG CHÂN LÝ

2488 1740
Con người có quyền được thông truyền chân lý nhưng không phải vô điều kiện. Ai cũng phải sống phù hợp với luật bác ái huynh đệ của Tin Mừng. Vì thế, trong những hoàn cảnh cụ thể, giới luật này đòi hỏi mỗi người phải suy xét xem có nên hay không nên tỏ bày sự thật theo yêu cầu.

2489 2284
Vừa phải giữ đức ái huynh đệ vừa phải tôn trọng chân lý, nên chúng ta phải thận trọng trước những yêu cầu trình bày sự thật. Vì lợi ích và an toàn của tha nhân, vì tôn trọng đời tư và công ích, chúng ta có thể giữ bí mật hay nói tránh đi. Bổn phận tránh gây gương xấu buộc chúng ta phải hết sức thận trọng. Không ai bị bắt buộc phải nói sự thật cho người không có quyền được biết ( x. Hc 27,16; Pr 25,9-10 ).

2490 1467
Bí mật toà giải tội là thánh thiêng và không được tiết lộ vì bất kỳ lý do nào. "Bí mật toà giải tội là bất khả vi phạm; do đó tuyệt đối cấm linh mục giải tội tiết lộ về hối nhân bất cứ điều gì, bằng lời nói hoặc một cách nào khác, và vì bất cứ lý do gì ( x. CIC, can 983,1 )".

2491
Những bí mật nghề nghiệp - ví dụ của các nhà chính trị, quân nhân, y sĩ, luật gia - hoặc chuyện tâm sự được yêu cầu giữ kín, phải được giữ bí mật trừ trường hợp ngoại lệ nếu việc giữ bí mật sẽ gây ra cho người đã nói ra, hoặc cho người đã tiếp nhận hoặc cho một đệ tam nhân, những thiệt hại nặng nề và chỉ có thể tránh được khi nói sự thật. Dù không buộc phải giữ kín, không được tiết lộ những chuyện riêng tư có thể gây tổn hại cho tha nhân, trừ khi có lý do hệ trọng và tương xứng.

2492 2522
Chúng ta phải tôn trọng bí mật đời tư của người khác. Ai có trách nhiệm về các phương tiện thông tin khi phục vụ công ích vẫn phải tôn trọng cách tương xứng các quyền lợi của cá nhân. Phải lên án việc ngành thông tin xen vào đòi tư của những người hoạt động chính trị hoặc được công chúng biết đến, nếu xâm phạm đến cuộc sống riêng tư và sự tự do của họ.

V. SỬ DỤNG NHỮNG PHƯƠNG TIỆN TRUYỀN THÔNG XÃ HỘI

2493
Trong xã hội hiện đại, các phương tiện truyền thông xã hội giữ một vai trò quan trọng trong lãnh vực thông tin, phát huy văn hóa và đào tạo con người. Vai trò này lớn dần theo các tiến bộ kỹ thuật theo lượng thông tin phong phú và đa dạng cũng như theo ảnh hưởng trên công luận.

2494 1906
Các phương tiện truyền thông phải phục vụ công ích ( x. IM 11 ). Xã hội có quyền được biết những tin tức phổ biến dựa trên sự thật và tự do, công bằng và tình liên đới.

"Việc thực thi đúng đắn quyền nầy đòi việc truyền thông phải luôn xác thực khi trình bày nội dung và phải đầy đủ mà vẫn giữ được công bình và bác ái; ngoài ra, cách thức truyền thông cũng phải lương thiện và thích hợp, nghĩa là cả trong việc săn tin và loan tin, tuyệt đối phải tuân giữ các luật luân lý, các quyền lợi chính đáng và phẩm giá của con người" (IM 5).

2495 906
"Mọi thành phần của xã hội cần phải chu toàn bổn phận công bình và bác ái của mình, ngay cả trong lãnh vực này; do đó, họ phải sử dụng các phương tiện truyền thông xã hội để cố gắng tạo ra và truyền bá những dư luận lành mạnh" ( x. IM 8 ). Tình liên đới phải là thành quả của một nền thông tin chân thật và công bình, và của việc tự do trao đổi ý kiến, nhờ đó người ta hiểu biết và tôn trọng nhau hơn.

2496 2525
Những phương tiện truyền thông xã hội (đặc biệt những phương tiện thông tin đại chúng) có thể làm cho những người tiếp nhận trở nên thụ động, thiếu cảnh giác đối với nội dung và hình ảnh được phổ biến. Bởi vậy, những người tiếp nhận phải giữ điều độ và kỷ luật đối với những nguồn thông tin đại chúng. Họ phải tạo cho mình một lương tâm sáng suốt và ngay thẳng, để có thể chống lại những ảnh hưởng thiếu lương thiện.

2497
Vì bổn phận nghề nghiệp, những người có trách nhiệm thông tin, khi phổ biến tin tức phải phục vụ chân lý nhưng không được lỗi phạm đức bác ái. Họ cũng phải để tâm vừa tôn trọng bản chất các sự kiện vừa tôn trọng những giới hạn khi phê bình người khác. Không bao giờ được bôi nhọ người khác.

2498 2237 2286
"Vì công ích, chính quyền có trách nhiệm đặc biệt đối với những phương tiện truyền thông. Chính quyền phải bênh vực và bảo vệ sự tự do đích thực và đúng đắn trong việc thông tin ( x. IM 12 ). "Bằng cách ban hành luật lệ và thi hành nghiêm chỉnh, chính quyền phải bảo đảm rằng các phương tiện truyền thông không bị lạm dụng để gây thiệt hại nặng nề cho thuần phong mỹ tục và cho những tiến bộ của xã hội ( x. IM 12 ). Chính quyền phải trừng phạt kẻ vi phạm thanh danh và bí mật đời tư của người khác. Chính quyền phải thông báo kịp thời và đúng đắn những thông tin liên hệ đến lợi ích của đại chúng hoặc giải đáp những bận tâm chính đáng của dân chúng. Không gì có thể biện minh cho việc dùng những phương tiện truyền thông đưa ra những thông tin sai lạc để lèo lái dư luận; làm như vậy là xâm phạm đến tự do của cá nhân và các nhóm.

2499 1903
Luân lý kết án các nhà nước độc tài xuyên tạc chân lý một cách có hệ thống, dùng các phương tiện truyền thông để khống chế dư luận về chính trị, "giật dây" những bị cáo và nhân chứng trong các vụ án công khai, tưởng rằng có thể củng cố ách chuyên chế bằng cách ngăn chặn và đàn áp những người "bất đồng quan điểm".

VI. CHÂN LÝ, THẨM MỸ VÀ NGHỆ THUẬT THÁNH

2500 1864 341 2189
Khi làm điều thiện, con người có được niềm vui tinh thần và nét đẹp luân lý. Cũng thế, chân lý đem lại niềm vui và cái đẹp tinh thần. Chân lý tự mình đã đẹp. Lời nói chân thật là cách diễn tả theo lý trí của nhận thức về thực tại được Thiên Chúa sáng tạo cũng như về chính Thiên Chúa; sự chân thật này rất cần thiết cho con người có lý trí. Con người diễn tả chân lý bằng nhiều hình thức khác nhau, bổ túc cho nhau, nhất là khi phải nói lên điều không thể diễn tả bằng lời : những gì sâu thẳm của lòng người, những tâm tình siêu vượt của linh hồn và mầu nhiệm Thiên Chúa. Trước khi tự mặc khải cho con người bằng lời chân lý, Thiên Chúa đã tỏ mình qua ngôn ngữ phổ quát của công trình sáng tạo lao động, tác phẩm của Lời và Đức Khôn Ngoan của Người, qua trật tự và sự hài hòa của vũ trụ mà cả trẻ thơ lẫn nhà khoa học đều khám phá được (Kn 13,5) "vì các thụ tạo càng lớn lao đẹp đẽ thì càng giúp ta nhận ra Đấng Tạo Thành" (Kn 13, 3).

"Vì chính Đấng Sáng Tạo mọi loài là tác giả của muôn vẻ đẹp" (Kn 13,3). Đức Khôn Ngoan tỏa ra từ quyền năng Thiên Chúa và rực lên trong ngần từ vinh hiển Đấng Toàn Năng, nên không thể vương một tì ố. Đức Khôn Ngoan phản chiếu Ánh Sáng vĩnh cửu, là tấm gương trong phản ánh hoạt động của Thiên Chúa, là hình ảnh lòng nhân hậu của Người" (Kn 7,25-26). "Đức Khôn Ngoan rực rỡ hơn mặt trời, trổi vượt muôn tinh t ú, so với Đức Khôn Ngoan, ánh sáng còn kém xa, bởi trước màn đêm, ánh sáng đành phải lui bước, còn Đức Khôn Ngoan, chẳng gian tà nào thắng nổi"(Kn 7,29-30). "Vẻ đẹp của Đức Khôn Ngoan làm tôi say đắm" ( Kn 8,2).

2501 339
"Được tạo dựng giống hình ảnh Thiên Chúa" (St 1, 26), con người diễn tả chân lý về tương quan của mình với Thiên Chúa Sáng Tạo bằng vẻ đẹp của các tác phẩm nghệ thuật. Nghệ thuật là một hình thức diễn tả đặc trưng của con người, vượt lên trên nhu cầu kiếm sống mà con người có chung với các sinh vật khác. Nghệ thuật là sự tràn đầy thoải mái của những nội tâm phong phú, phát sinh từ một tài năng được Đấng Sáng Tạo phú ban, và từ cố gắng của chính con người. Nghệ thuật là một dạng thức khôn ngoan thực tiễn, kết hợp trí thức với kỹ năng (Kn 7, 17) để tạo dáng cho chân lý của một thực tại, bằng ngôn ngữ phù hợp với giác quan. Nghệ thuật có phần giống như hoạt động của Thiên Chúa trong công trình sáng tạo, bao lâu được khởi hứng từ sự thật về vạn vật và tình yêu đối với chúng. Như mọi hoạt động khác của con người, nghệ thuật không tìm cứu cánh tuyệt đối nơi chính mình, nhưng được định hướng và trở nên cao quí nhờ cùng đích của con người (Piô XII, diễn văn ngày 25-12-1955 và 3-9-1950 ).

2502 1156-1162
Nghệ thuật thánh sẽ chân thật và đẹp đẽ, khi hình dạng thích ứng với chủ đích : đó là nhắc nhở chúng ta dùng đức tin và tâm tình thờ phượng để tôn vinh Thiên Chúa siêu việt, Đấng Tuyệt Mỹ vô hình vì là chân lý và tình yêu, đã xuất hiện trong Đức Ki-tô, "Người là phản ánh vẻ huy hoàng, là hình ảnh trung thực của bản thể Thiên Chúa" (Dt 1,3), "Nơi Người tất cả sự viên mãn của thần tính hiện diện cách cụ thể" (Cl 2, 9). Vẻ đẹp thần linh đã được phản chiếu nơi Đức Trinh Nữ Mẹ Thiên Chúa, nơi các thiên thần và các thánh. Nghệ thuật thánh đích thực đưa con người đến tâm tình thờ phượng, cầu nguyện và yêu mến Thiên Chúa là Đấng Sáng Tạo và Cứu Chuộc, Đấng Thánh Thiện và Thánh Hóa con người.

2503
Vì thế, chính các giám mục, hoặc qua các đại diện, phải lưu tâm cổ võ nghệ thuật thánh, dưới mọi dạng thức cổ truyền cũng như hiện đại, thận trọng, loại trừ khỏi phụng vụ và những nơi thờ phượng những gì không thích hợp với chân lý đức tin và cái đẹp đích thực của nghệ thuật thánh (x.SC 122-127 ).




TÓM LƯỢC

2504
"Ngươi không được làm chứng gian hại người" (Xh 20,16). Các môn đệ của Đức Ki-tô phải "mặc lấy con người mới là con người được sáng tạo theo hình ảnh Thiên Chúa để sống thật sự công chính và thánh thiện" (Ep 4,24)

2505
Chân lý hoặc chân thật là nhân đức giúp con người thành thật trong hành vi và lời nói, không gian dối, giả vờ và đạo đức giả.

2506
Người Ki-tô hữu đừng hổ thẹn vì phải làm chứng cho Chúa (2Tm 1,8) bằng lời nói cũng như việc làm. Tử đạo là lời chứng cao quý nhất về chân lý đức tin.

2507
Vì phải tôn trọng thanh danh và danh dự của người khác, chúng ta không được nói xấu hay vu khống ai bằng thái độ hay bằng lời nói.

2508
Nói dối là nói sai sự thật với ý định đánh lừa .

2509
Ai lỗi phạm đến chân lý thì buộc phải đền bù.

2510
"Khuôn vàng thước ngọc" giúp chúng ta nhận định trong những trường hợp cụ thể xem có nên hay không nên tiết lộ sự thật cho người muốn biết.

2511
"Bí mật tòa giải tội là bất khả vi phạm" ( x. CIC, can. 983, 1 ). Các bí mật nghề nghiệp phải được giữ kín. Không được tiết lộ những chuyện tâm sự có thể gây hại cho người khác.

2512
Xã hội có quyền được biết những tin tức phổ biến dựa trên chân lý, tự do và công bằng. Khi sử dụng các phương tiện truyền thông xã hội, những người tiếp nhận phải biết giữ điều độ và kỷ luật.

2513
"Mỹ thuật và nhất là nghệ thuật thánh, tự bản tính, nhằm diễn tả một cách nào đó, vẻ đẹp vô biên của Thiên Chúa qua những tác phẩm nhân loại; nghệ thuật này càng làm cho Thiên Chúa được ca tụng và tôn vinh hơn, một khi những tác phẩm đó không nhằm chủ đích nào khác ngoài sự tích cực góp phần hướng tâm trí con người sốt sắng về cùng Chúa" (x .SC 122 ).

Mục 9

ĐIỀU RĂN THỨ CHÍN

"Ngươi không được ham muốn nhà người ta. Ngươi không được ham muốn vợ người ta, tôi nam tớ nữ, con bò, con lừa hay bất cứ vật gì của người ta" (Xh 20,17)

"Ai nhìn người phụ nữ mà thèm muốn thì trong lòng đã ngoại tình với người ấy rồi" (Mt 5,28).

2514 377,400
Thánh Gio-an phân biệt ba loại thèm muốn hoặc dục vọng : thèm muốn của xác thịt, thèm muốn của con mắt, và lối sống kiêu kỳ ( x. 1 Ga 2,16 ). Theo truyền thống huấn giáo công giáo, điều răn thứ chín cấm chiều theo các dục vọng của xác thịt, điều răn thứ mười cấm thèm muốn của cải kẻ khác.

2515 405
Theo nguyên ngữ, "dục vọng" có thể chỉ mọi hình thức thèm muốn mãnh liệt của con người. Thần học Ki-tô giáo dùng từ này với ý nghĩa đặc biệt là cơn ham muốn của giác quan đi ngược với lý trí. Thánh tông đồ Phao-lô đồng hóa nó với sự nổi loạn của "xác thịt" chống lại "tinh thần" ( x. Gl 5,16; 17,24; Ep 2,3 ). Dục vọng là hậu quả của tội đầu tiên, khi con người không vâng phục Thiên Chúa. Dục vọng làm hỗn loạn các năng lực luân lý con người. Dục vọng tự nó không phải là một tội, nhưng nó hướng con người đến chỗ phạm tội ( x.Công đồng Tren-tô: DS 1515 ).

2516 362 407
Con người là một tổng hợp gồm tinh thần và thể xác, nên trong con người đã sẵn có một sự căng thẳng nào đó, một cuộc chiến đấu giữa các khuynh hướng của "tinh thần" và của "xác thịt". Nhưng thật ra, cuộc chiến đó là di sản của tội lỗi, vừa là hậu quả vừa là một bằng chứng của tội. Đây là kinh nghiệm hằng ngày của chúng ta về cuộc chiến thiêng liêng :

"Đối với thánh Tông Đồ, vấn đề không phải là khinh thường hay kết án thân xác, vì cùng với linh hồn thiêng liêng, thân xác tạo nên bản tính của con người và nhân cách của mỗi người. Trái lại thánh Tông Đồ nói đến những công việc, hay nói đúng hơn, về những khuynh hướng ổn định tốt hoặc xấu về mặt luân lý là nhân đức hay thói xấu - đây là kết quả của sự tùng phục (trong trường hợp thứ nhất) hoặc trái lại của sự chống đối (trong trường hợp thứ hai) tác động cứu độ của Chúa Thánh Thần. Vì thế, ngài viết : "Nếu chúng ta sống nhờ Chúa Thánh Thần thì hãy để Chúa Thánh Thần hướng dẫn đời ta" (Gl 5,25) (FGio-an Phao-lô II, DeV 55 ).

I. THANH LUYỆN TÂM HỒN

2517 368 1809
Tâm hồn là trung tâm của nhân cách luân lý : "Từ trong lòng phát xuất những ý định gian tà, những tội giết người, ngoại tình và tà dâm" (Mt 15,19). Muốn chiến đấu chống lại nhục dục chúng ta phải thanh luyện tâm hồn và sống tiết độ :

“Hãy sống đơn sơ, trong trắng bạn sẽ nên như trẻ thơ không biết đến điều ác đang hủy hoại cuộc sống con người” (Hermas, mand.2,1).

2518 94
Trong mối phúc thứ sáu, Đức Giê-su dạy : "Phúc thay ai có lòng trong sạch ngay thẳng vì họ sẽ được ngắm nhìn Thiên Chúa" (Mt 5,8). Những người có "lòng trong sạch ngay thẳng là những người biết dùng trí khôn và ý chí để sống thánh thiện như Thiên Chúa đòi hỏi, đặc biệt trong ba lãnh vực : sống bác ái ( x. 1 Tm.4,3 - 9; 2 Tm 2,22 ), sống khiết tịnh nghĩa là sử dụng tính dục cách ngay chính ( x. 1 Th 4,7; Cl 3,5; Ep 4,19 ), yêu mến chân lý và giữ đức tin chính truyền ( x. Tt 1,15; 1Tm 1,3-4 ; 2Tm 2,23-26 ). Sự tinh tuyền trong tâm hồn, trong thân xác, và trong đức tin gắn liền với nhau.
158
"Người tín hữu phải tin các điều trong kinh Tin Kính; để nhờ tin, họ vâng phục Thiên Chúa; nhờ vâng phục, họ sống tốt lành; nhờ sống tốt lành, họ thanh luyện tâm hồn và nhờ thanh luyện tâm hồn họ hiểu điều mình tin" (T. Âu-tinh ,fid et symb. 10,25).

2519 2548 2819 2501
Thiên Chúa cho những người có "lòng trong sạch ngay thẳng" được ngắm nhìn Thiên Chúa tận mắt và trở nên giống Người ( x. 1Cr 13,12; 1Ga 3,2 ). Sự trong sạch của tâm lòng là điều kiện tiên quyết để được ) thấy Thiên Chúa. Ngay từ bây giờ, người có lòng trong sạch biết nhìn mọi sự )theo cái nhìn của Thiên Chúa, biết đón nhận tha nhân như người "thân cận", biết nhận ra thân xác của mình cũng như của người khác, là đền thờ của Chúa Thánh Thần, là phản ánh của Thiên Chúa tuyệt mỹ.

II. CHIẾN ĐẤU ĐỂ SỐNG TRONG SẠCH

2520 1264
Bí tích Thánh Tẩy thanh luyện chúng ta khỏi mọi tội lỗi. Nhưng người tín hữu còn phải tiếp tục chiến đấu chống lại nhục dục và những thèm muốn bất chính. Với ân sủng của Chúa, họ sẽ chiến thắng :

2337
- Nhờ nhân đức và ơn khiết tịnh, vì đức khiết tịnh giúp họ biết yêu thương với tấm lòng ngay thẳng và không san sẻ.
1752    - Nhờ ý hướng trong sạch luôn nhắm đến cứu cánh đích thực của con người : nghĩa là, với cái nhìn đơn sơ, họ lo tìm kiếm

1762
- Nhờ cái nhìn trong sáng, bên ngoài và trong lòng, nhờ kiểm soát được tình cảm và trí tưởng tượng, nhờ khước từ mọi vui thú trong những tư tưởng dâm ô lôi kéo ta lìa xa các giới răn của Chúa : "Thấy điều xấu, kẻ ngu si động lòng ham muốn"(Kn 15,5):

2846
- Nhờ kinh nguyện :

"Con cứ tưởng: tự sức mình có thể sống tiết dục được (...) nhưng thực ra con đâu có sức. Con khờ dại nên không biết rằng nếu Chúa không ban ơn, không sống tiết dục được. Con chắc chắn Chúa sẽ ban, nếu con tha thiết kêu cầu và vững tin phó thác nơi Chúa (T. Âu-tinh. tự thuật 6,11,20 )".

2521
Người có tâm hồn trong sạch biết giữ )nết na. Đây là một thành phần của đức tiết độ. Người nết na biết giữ gìn những gì thầm kín của con người, không phơi bày những gì phải giữ kín. Nết na hướng về đức khiết tịnh và diễn tả nét tinh tế của khiết tịnh. Người nết na biết giữ cái nhìn và cử chỉ hợp với phẩm giá của con người và của những tương giao giữa con người với nhau.

2522 2492
Sống nết na, chúng ta bảo vệ được điều huyền nhiệm về con người và tình yêu. Người nết na biết nhẫn nại và điều độ trong quan hệ yêu đương, lo thực hiện đầy đủ các điều kiện của sự dâng hiến và dấn thân vĩnh viễn giữa người nam và người nữ. Nết na chính là đoan trang. Người nết na cẩn thận trong cách ăn mặc, biết im lặng hay dè dặt tránh những tò mò thiếu lành mạnh. Người nết na cũng là người kín đáo.

2523 2354
Chúng ta phải giữ nết na trong tình cảm cũng như thể xác. Chẳng hạn người nết na chống lại việc phơi bày thân xác con người để thỏa mãn thị dục trong quảng cáo, hoặc chống lại việc khai thác bí mật đời tư trên phương tiện truyền thông. Người nết na không chạy theo những quyến rũ của thời trang và các trào lưu tư tưởng thời thượng.

2524
Cách thức giữ nết na thay đổi theo từng nền văn hóa. Tuy nhiên bất cứ ở đâu, nết na vẫn là một linh cảm về phẩm giá thiêng liêng đặc thù của con người. Nết na phát sinh từ ý thức của con người về phẩm giá của mình. Dạy cho trẻ em và thiếu niên nam nữ biết giữ nết na là khơi dậy ý thức tôn trọng nhân phẩm.

2525 2344
Đức thanh sạch ki-tô giáo đòi chúng ta góp phần thanh luyện bầu khí xã hội, phải tôn trọng con người và thận trọng khi sử dụng các phương tiện truyền thông xã hội. Người có tâm hồn trong sạch được giải thoát khỏi tệ nạn dâm ô đang lan tràn và tránh xa những màn trình diễn nhằm thỏa mãn thị dục và trí tưởng tượng không lành mạnh.

2526 1740
Chủ trương sống phóng túng phát xuất từ quan niệm sai lạc về tự do. Muốn có tự do đích thực, điều tiên quyết là con người phải được giáo dục; phải dạy cho người trẻ biết tôn trọng sự thật, các đức tính, phẩm giá luân lý và thiêng liêng của con người.

2527 1204
"Tin Mừng của Đức Ki-tô không ngừng đổi mới cuộc sống và văn hóa của con người đã sa ngã, chống lại và khử trừ những sai lầm và tai họa do sức quyến rũ thường xuyên của tội lỗi luôn luôn đe dọa. Tin Mừng không ngừng thanh luyện và nâng cao phong hóa các dân tộc. Những đức tính của mọi thời như được Tin Mừng làm cho phong phú từ bên trong, được củng cố, bổ túc và tái tạo trong Đức Ki-tô nhờ những ân huệ bởi Trời" (GS 58,4).

TÓM LƯỢC

2528
"Ai nhìn người phụ nữ mà thèm muốn thì trong lòng đã ngoại tình với người ấy rồi"(Mt 5,28).

2529
Điều răn thứ chín dạy chúng ta đừng chiều theo những ham muốn xác thịt hay nhục dục.

2530
Muốn chiến đấu chống lại nhục dục, chúng ta phải thanh luyện tâm hồn và sống tiết độ.

2531
Người có "lòng trong sạch ngay thẳng" sẽ được ngắm nhìn Thiên Chúa, ngay từ bây giờ, họ biết nhìn mọi sự theo cái nhìn của Thiên Chúa.

2532
Để thanh luyện tâm hồn, chúng ta phải cầu nguyện, sống khiết tịnh, có ý hướng và cái nhìn trong sáng.

2533
Người có tâm hồn trong sạch, biết giữ nết na, nghĩa là nhẫn nại, đoan trang và kín đáo. Người nết na biết giữ kín những điều thầm kín của mình và của người khác.

Mục 10

ĐIỀU RĂN THỨ MƯỜI

"Ngươi không được ham muốn ... bất cứ vật gì của người ta" (Xh 20,17). "Ngươi không được ước ao nhà cửa, đồng ruộng tôi tớ nam nữ, con bò, con lừa, hay bất cứ vật gì của người ta" (Đnl 5,21).

"Của cải anh ở đâu thì lòng anh ở đó" (Mt 6,21).

2534 242 2069
Điều răn thứ mười được tách ra và bổ túc điều răn thứ chín về lòng ham muốn nhục dục, điều răn thứ mười cấm tham của người. Lòng tham là nguồn gốc của trộm cắp, cướp đoạt và gian lận mà điều răn thứ bảy đã cấm. "thèm muốn của con mắt" (1Ga 2,16) đưa đến bạo lực và bất công mà điều răn thứ năm đã cấm ( x. Mk 2,2 ). Tham lam cũng như tà dâm bắt nguồn từ việc sùng bái ngẫu tượng mà ba điều răn đầu đã cấm ( x. Kn 14,12 ). Điều răn thứ mười nhắm vào ý hướng trong lòng, và cùng với điều răn thứ chín, tóm kết tất cả các giới răn trong luật Cựu Ước.

I. CÁC HAM MUỐN BẤT CHÍNH

2535 1767
Khi đói chúng ta thèm ăn, khi lạnh chúng ta mong được sưởi ấm, những ham muốn giác quan này thúc đẩy chúng ta tìm thỏa mãn. Những ham muốn này tự chúng là tốt, nhưng chúng ta thường không giữ mức độ hợp lý nên tham của người.

2536 2445
Điều răn thứ mười cấm ham muốn và ước ao chiếm hữu thái quá của cải thế trần, cấm tham lam vì ham mê của cải và thế lực do của cải đem lại, điều răn này còn cấm ước muốn làm điều bất công hại đến tài sản người khác.

"Khi lề luật dạy : "Chớ tham của người", có nghĩa là đừng ham muốn những gì không thuộc về mình. Vì lòng tham của người không đáy, như sách giảng viên nói : "Người thích tiền bạc có bao nhiêu cũng không lấy làm đủ" (Gv 5,9) ( x. Giáo lý Rô-ma.R.3,37 ).

2537
Điều răn này không cấm chúng ta ước ao có được những gì của người khác, bằng những phương thế chính đáng. Huấn giáo cổ truyền cho thấy, trong thực tế, "những người phải chiến đấu nhiều nhất để chống lại những ham muốn tội lỗi này" và cần được "nhắc nhở phải giữ điều răn này nhất":

"Đó là...những nhà buôn bán mong hàng hóa khan hiếm và đắt đỏ, buồn phiền vì không được độc quyền để mặc sức mua rẻ bán đắt; những kẻ muốn người khác gặp hoạn nạn để thừa cơ thu lợi.... Những thầy thuốc mong cho người ta bệnh tật, những luật gia mong cho có nhiều vụ kiện cáo quan trọng... ( x. Giáo lý Rô-ma 3,37 )

2538 2317 391
Điều răn thứ mười dạy chúng ta không được ganh tị. Khi muốn khuyến giục vua Đa-vít hối lỗi, ngôn sứ Na-than đã thuật chuyện một người nghèo chỉ có một con chiên và thương yêu nó như con mình, và một người giàu tuy có vô số chiên cừu, nhưng tham lam và bắt con chiên của người nghèo ( x. 2 Sm 12,1-4 ). Tham lam và ganh tị có thể đưa tới những việc làm tệ hại nhất ( x. St 4,3-7, 1 V 21,1-29 ) "chính vì quỉ dữ ganh tị mà cái chết đã xâm nhập thế gian (Kn 2,24) :

"Chúng ta đấm đá nhau, chỉ vì ganh tị ... nếu mọi người đều xâu xé nhau như vậy thì thân thể của Đức Ki-tô sẽ ra sao ? Chúng ta đang làm tan nát thân thể của Đức Ki-tô ... chúng ta đang tự xưng là những chi thể của cùng một thân thể, vậy mà chúng ta lại cấu xé nhau như thú rừng ( T. Gio-an Kim Khẩu hom. in 2 Cr 28, 3-4 )".

2539 1866
Ganh tị là một trong bảy mối tội đầu. Người ganh tị buồn phiền khi thấy kẻ khác có của cải và ước ao chiếm đoạt. Nếu ai, vì ganh tị, muốn cho người khác gặp hoạn nạn nặng nề, thì mắc tội trọng:

“Thánh Âu-Tinh coi ganh tị là "tội quỷ quái nhất" (x. Giáo lý Công Giáo Rô-ma 4,8 ). "Ganh tị sinh ra thù ghét, nói xấu, vu khống, vui khi thấy kẻ khác gặp hoạn nạn, buồn khi thấy kẻ khác được may lành"( T.Ghê-gô-ri-ô Cả, 31,45 ).

2540 1829
Kẻ ganh tị thường hay buồn bực nên thiếu đức bác ái, người tín hữu phải nhân hậu thay vì ganh tị. Ganh tị thường do kiêu ngạo, nên người tín hữu phải tập sống khiêm nhường:

"Anh em không muốn Thiên Chúa được tôn vinh nơi anh em sao ? Vậy, hãy vui mừng khi người khác thành công, lúc đó Thiên Chúa sẽ được tôn vinh nơi anh em. Mọi người sẽ nói rằng Thiên Chúa được ca ngợi vì tôi tớ của Người đã thắng được tính ganh tị khi biết vui mừng thấy người khác thành công ( T. Gio-an Kim khẩu 7,3 )".

II. ƯỚC MUỐN NHỮNG ĐIỀU HỢP Ý CHÚA THÁNH THẦN

2541 1718 2764
Thiên Chúa ban lề luật và ân sủng để giúp con người thoát khỏi tính tham lam và ganh tị, khi dạy con người ước ao sự toàn thiện, biết ước muốn những điều hợp ý Chúa Thánh Thần, Đấng làm no thỏa lòng người.

397
Thiên Chúa luôn nhắc nhở con người đề phòng sự quyến rũ của những thứ "ăn thì ngon, trông thì đẹp mắt và đáng quí vì làm cho mình được tinh khôn"( St 3,6)

2542 1992
Luật Cựu Ước không đủ sức công chính hóa những người tuân giữ, mà còn đã trở thành công cụ cho "dục vọng" ( x. Rm 7,7 ). Thực tế, "lực bất tòng tâm"(Rm 7,10) cho ta thấy xung đột giữa một bên là luật của Thiên Chúa, "luật của lý trí", một bên là một lề luật khác "giam hãm tôi trong Luật của tội là luật vẫn có trong các chi thể tôi" (Rm 7, 23).

2543 1992
"Ngày nay, sự công chính của Thiên Chúa đã được thể hiện mà không cần đến luật Mô-sê. Điều này, sách Luật và các Ngôn sứ làm chứng. Quả thế, người ta được Thiên Chúa làm cho nên công chính nhờ lòng) tin vào Đức Giê-su Ki-tô. Tất cả những ai tin đều được như thế" ( Rm 3,21-22). Từ đó, những tín hữu của Đức Ki-tô "đã đóng đinh tính xác thịt vào thập giá, cùng với các dục vọng và đam mê" (Gl 5,24). Họ được Chúa Thánh Thần hướng dẫn ( Rm 8,14) và ước muốn những điều hợp ý Chúa Thánh Thần (Rm 8,27).

2443-2449
III TINH THẦN NGHÈO KHÓ

2544 544
Đức Giê-su dạy các môn đệ yêu mến Người trên tất cả mọi người, đồng thời mời gọi họ từ bỏ mọi sự (Lc 14,33) vì Người và vì Tin Mừng (Mc 8,35). Ít ngày trước khi chịu tử nạn, Người đã đề cao gương bà góa nghèo ở Giê-ru-sa-lem ; trong hoàn cảnh nghèo túng, bà đã cho tất cả những gì để nuôi sống mình (Lc 21,4). Muốn vào Nước Trời không được ham mê của cải.

2545 2013
Mọi tín hữu của Đức Ki-tô "phải lưu ý điều khiển tâm tình mình cho đúng đắn, để việc sử dụng của cải trần gian và lòng quyến luyến sự giàu sang nghịch với tinh thần khó nghèo của Tin Mừng, không cản trở họ theo đuổi đức ái trọn hảo"( LG 42).

2546 1716
"Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó"( Mt 5,3). Các mối phúc cho chúng ta biết phải sống thế nào để được hạnh phúc, ân sủng, tốt đẹp và bình an. Đức Giê-su tán dương niềm vui của người nghèo vì Nước Trời đã thuộc về họ ( Lc 6,20) :

“Ngôi Lời gọi "tinh thần nghèo khó" là tinh thần của người tự nguyện sống khiêm nhường và từ bỏ. Thánh tông đồ Phao-lô trình bày gương khó nghèo của Thiên Chúa khi nói : "Người đã tự ý trở nên nghèo khó vì anh em" ( 2 Cr 8,9) ( T. Ghê-gô-ri-ô thành Nít-sê 1 ).

2547 305
Chúa khóc thương những người giàu có vì họ tìm an ủi ( Lc 6,24) nhờ của cải dư dật; "kẻ kiêu căng tìm quyền lực thế trần, còn người có tinh thần nghèo khó, tìm kiếm Nước Trời" ( T. Âu - Tinh 1,1.3). Ai phó thác vào sự quan phòng của Cha trên trời, được giải thoát khỏi những âu lo về ngày mai ( Mt 6,25-34 ). Ai tín thác vào Chúa sẽ được hưởng hạnh phúc Chúa hứa ban cho người nghèo : Họ sẽ được thấy hạnh phúc.

IV. TÔI MUỐN THẤY THIÊN CHÚA

2548 2519
Khi ao ước hạnh phúc đích thực, con người được giải thoát khỏi mọi ràng buộc bất chính với của cải trần thế, để cuối cùng được chiêm ngắm nhan thánh Chúa và hưởng hạnh phúc bên Người. "Chúng ta được Thiên Chúa hứa cho chiêm ngắm tôn nhan, đó là hạnh phúc lớn lao nhất. Theo Thánh kinh, thấy cũng đồng nghĩa với được...Ai thấy Thiên Chúa cũng được mọi điều phúc lộc mà người ta có thể nghĩ tưởng ra được ( T.Ghê-gô-ri-ô thành Ni-sê, beat 6 )".

2549 2015
Với ơn Chúa trợ giúp, Dân Thánh còn phải chiến đấu để đạt tới những điều phúc lộc Chúa hứa ban. Để được thấy và ở với Thiên Chúa, Ki-tô hữu phải chế ngự dục vọng, và nhờ ơn Chúa, chiến thắng các quyến rũ của lạc thú và quyền lực.

2550
Trên đường hoàn thiện, Thần Khí và Tân Nương kêu gọi những ai biết lắng nghe ( x. Kh 22,17 ), hãy hiệp thông trọn vẹn với Thiên Chúa :
314
"Nơi đó mới có vinh quang đích thực. Nơi đó không ai được khen ngợi vì lầm lẫn hay nịnh bợ, vinh dự đích thực sẽ không trao lầm cho người bất xứng mà bỏ qua kẻ đáng công. Không kẻ bất xứng nào có thể bước vào nơi dành cho người xứng đáng. Nơi đây bình an đích thực sẽ ngự trị, vì không ai cảm thấy bất an với chính mình hay với người khác. Chính Thiên Chúa là phần thưởng cho người đức hạnh, Người là Đấng đã ban nhân đức và hứa ban chính mình làm phần thưởng lớn nhất và cao cả nhất ..."Ta sẽ là Thiên Chúa của chúng, và chúng sẽ là dân riêng của Ta" (Lv 26,12)...Đây cũng là ý nghĩa của lời thánh Phao-lô : "để Thiên Chúa có toàn quyền trên muôn loài" (1Cr 15,28). Chúng ta chiêm ngắm Người vĩnh viễn, yêu mến vô tận, ca tụng khôn nguôi vì Người thỏa mãn mọi khát vọng của chúng ta. Hồng ân này, tình mến này, công việc này, cũng như chính đời sống vĩnh cửu được dành cho mọi người" (FT.Âu-tinh, thành đô thiên quốc ).







TÓM LƯỢC

2551
"Kho tàng của anh ở đâu, thì lòng anh ở đó" (Mt 6, 21).

2552
Điều răn thứ mười cấm tham lam do ham mê của cải và thế lực đồng tiền.

2553
Ganh tị là buồn phiền vì thấy kẻ khác giàu hơn mình và muốn chiếm đoạt. Ganh tị là một mối tội đầu.

2554
Muốn thắng được tính ganh tị, người tín hữu phải sống nhân hậu, khiêm nhường và phó thác vào Chúa quan phòng.

2555
Người Ki-tô hữu "đã đóng đinh tính xác thịt vào thập giá cùng với các dục vọng và đam mê" (Gl 5, 24). Họ được Thánh Thần hướng dẫn và tuân theo ý muốn của Người.

2556
Để được vào Nước Trời, con người phải dứt bỏ lòng quyến luyến của cải. "Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó"(Mt 5, 3).

2557
Khát vọng đích thực của con người : "Tôi muốn thấy Thiên Chúa". Chỉ có "mạch nước mang lại sự sống đời đời" mới thỏa mãn được khát vọng này (Ga 4,14).

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Đăng ký nhận tin
Nhập email để nhận được những tin tức mới nhất từ chúng tôi.
Thống kê truy cập
  • Đang truy cập109
  • Máy chủ tìm kiếm6
  • Khách viếng thăm103
  • Hôm nay14,823
  • Tháng hiện tại128,813
  • Tổng lượt truy cập781,959
Đánh giá website

Quý vị đánh giá website GPLS thế nào?

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây