Sách Giáo Lý HTCG : Phần I Tuyên Xưng Đức Tin - Đoạn 2 Kinh Tin Kính - Chương 3 (tiếp) Tôi tin Phép Tha Tội, Tôi Tin xác loài người ngày sau sống lại

Thứ tư - 19/09/2018 23:15 81 0
"Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần. Anh em tha tội cho ai thì người ấy được tha, anh em cầm tội ai thì người ấy bị cầm giữ" (Ga 20,22-23).
Sách Giáo Lý HTCG : Phần I Tuyên Xưng Đức Tin - Đoạn 2 Kinh Tin Kính - Chương 3 (tiếp) Tôi tin Phép Tha Tội, Tôi Tin xác loài người ngày sau sống lại

Mục 10
"TÔI TIN PHÉP THA TỘI"

976.     Kinh Tin Kính các tông đồ không những liên kết việc tin có ơn tha tội với việc tin kính Chúa Thánh Thần mà còn liên kết với việc tin có Hội Thánh và mầu nhiệm hiệp thông trong Dân Thánh. Khi ban Thánh Thần, Đức Ki-tô Phục Sinh cũng ban cho các tông đồ quyền tha tội : "Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần. Anh em tha tội cho ai thì người ấy được tha, anh em cầm tội ai thì người ấy bị cầm giữ" (Ga 20,22-23).

(Phần hai của sách Giáo Lý này sẽ trình bày rõ ràng về ơn tha tội qua : bí tích Thánh Tẩy, bí tích Giải Tội và các bí tích khác, nhất là bí tích Thánh Thể. Ở đây, chúng ta chỉ nêu lên cách ngắn gọn vài dữ kiện căn bản.)

1263.
I. TÔI TUYÊN XƯNG CÓ MỘT PHÉP RỬA DUY NHẤT ĐỂ THA TỘI

977.    
Chúa Giê-su liên kết ơn tha tội với đức tin và bí tích Thánh Tẩy : "Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho tất cả mọi loài. Ai tin và chịu phép rửa sẽ được cứu độ" (Mc 16,15-16). Bí tích Thánh Tẩy là bí tích đầu tiên và chính yếu để tha tội, vì bí tích này kết hợp chúng ta với Đức Ki-tô đã chết vì tội lỗi chúng ta, đã phục sinh để chúng ta được trở nên công chính ( x. Rm 4,25), hầu chúng ta cũng được sống một cuộc sống mới" (Rm 6,4).

978 1264.
"Khi tuyên xưng đức tin lần đầu trong bí tích Thánh Tẩy, chúng ta được tha hết mọi tội lỗi, đến nỗi tuyệt không còn gì phải tẩy xóa, dù là nguyên tội hay những tội riêng, không còn gì phải đền bù ... Nhưng ân sủng bí tích Thánh Tẩy không giải thoát chúng ta khỏi bản tính yếu đuối. Trái lại chúng ta vẫn phải chiến đấu chống lại các xu hướng xấu dẫn chúng ta đến tội lỗi"( Giáo Lý Rô-ma 1,11,3).

979 1446.
Trong cuộc chiến chống xu hướng xấu, không ai đủ nghị lực và cảnh giác để tránh mọi tội lỗi, "vì thế, Hội Thánh cần có quyền tha tội. Bí tích Thánh Tẩy không phải là phương thế duy nhất để Hội Thánh sử dụng chìa khóa Nước Trời đã lãnh nhận từ Đức Giê-su Ki-tô; Hội Thánh phải có khả năng tha tội cho tất cả các hối nhân phạm tội sau khi lãnh nhận bí tích Thánh Tẩy", cho dù họ có còn phạm tội cho đến hơi thở cuối cùng " (Giáo Lý Rô-ma 1,11,4).

980 1422-1484.
Chính nhờ Bí tích Giải Tội mà người đã được rửa tội có thể được hòa giải với Thiên Chúa cũng như với Hội Thánh.

Các giáo phụ có lý khi gọi Bí Tích Giải Tội là "phép rửa cực nhọc" (x. T.Ghê-gô-ri-ô thành Naz., or. 39,17.). Như những người chưa được tái sinh cần đến bí tích Thánh tẩy để được ơn cứu độ thế nào, thì những người sa ngã sau khi nhận phép Rửa cũng cần đến bí tích Giải Tội như vậy (Công Đồng Tren-tô : DS 1672).

II. QUYỀN THÁO GỠ VÀ CẦM BUỘC

981 1444.
Sau khi phục sinh, Đức Ki-tô đã sai các tông đồ nhân danh Người "rao giảng cho muôn dân sự sám hối để được ơn tha tội" (Lc 24,47). "Để chu toàn thừa tác vụ hòa giải"(2 Cr 5,18), các tông đồ và những người kế nhiệm không chỉ rao giảng cho mọi người ơn tha thứ của Thiên Chúa mà chúng ta được hưởng nhờ công trạng Đức Ki-tô và kêu gọi mọi người hoán cải và tin nhận Tin Mừng; các ngài còn ban ơn tha tội qua bí tích Thánh Tẩy, cũng như hòa giải họ với Thiên Chúa và Hội Thánh, nhờ quyền tháo gỡ và cầm buộc nhận lãnh từ Đức Ki-tô :

553.
Hội Thánh đã nhận chìa khóa Nước Trời để ban ơn tha tội nhờ Máu Đức Ki-tô và tác động của Chúa Thánh Thần. Chính trong Hội Thánh, kẻ đã chết do tội lỗi được sống lại để sống với Đức Ki-tô, Đấng cứu độ chúng ta nhờ ân sủng của Người ( x. T. Augustinô, bài giảng 214,11).

982 1463 605.
Không có tội nào nặng đến nỗi Hội Thánh không thể tha thứ được. "Dù có ai gian ác và xấu xa đến đâu... vẫn có thể tin chắc được tha thứ, miễn là chân thành sám hối" ( x. Giáo lý Rô-ma 1,11,5). Đức Ki-tô, Đấng đã chết cho mọi người, muốn rằng: mọi cánh cửa tha thứ trong Hội Thánh luôn rộng mở cho bất cứ ai ăn năn trở lại ( x. Mt 18,21-22).

983 1442.
Huấn giáo phải cố gắng khơi dậy và nuôi dưỡng nơi các tín hữu niềm tin vào hồng ân vô song Đức Ki-tô Phục Sinh đã ban cho Hội Thánh là sứ mạng và quyền tha tội nhờ thừa tác vụ của các tông đồ và những người kế nhiệm :

1465.
"Chúa muốn các môn đệ của Người có một quyền năng vô biên : Người muốn các tôi tớ thấp hèn của Người nhân danh Người mà thực hiện tất cả những gì Người đã làm khi còn tại thế" ( x. T. Am-rô-siô bàn về phép giải tội 1,34).

Các linh mục đã nhận được một quyền năng mà Thiên Chúa đã không ban cho các thiên thần hoặc các tổng lãnh thiên thần... Từ trời cao, Thiên Chúa phê chuẩn tất cả những gì các linh mục làm dưới đất ( x. T. Gio-an Kim Khẩu, chức linh mục 3,5).

Nếu Hội Thánh không có quyền tha tội, thì chúng ta không còn hy vọng nào, không còn hy vọng được sống đời đời và được ơn giải thoát vĩnh cửu. Chúng ta hãy tạ ơn Thiên Chúa vì đã ban cho Hội Thánh một hồng ân như vậy ( x. T. Âu-tinh bài giảng 213,8)!

TÓM LƯỢC

984.     Kinh Tin Kính nối kết "phép tha tội" với tín điều về Chúa Thánh Thần, vì Chúa Ki-tô Phục Sinh đã ban cho các tông đồ quyền tha tội, khi ban cho các ngài Chúa Thánh Thần.

985.     Bí tích Thánh Tẩy là bí tích đầu tiên và chính yếu để tha tội. Bí tích này kết hợp chúng ta với Đức Ki-tô, Đấng đã chết và sống lại, cũng như ban cho chúng ta Chúa Thánh Thần.

986.     Do ý muốn của Đức Ki-tô, Hội Thánh có quyền tha tội cho những người đã được rửa tội. Thông thường Hội Thánh thi hành quyền này trong bí tích Giải Tội qua các giám mục và linh mục.

987.     "Trong việc tha tội, linh mục và bí tích chỉ là dụng cụ mà Chúa Giê-su Ki-tô, tác giả và Đấng duy nhất ban ơn cứu độ, dùng để xóa bỏ tội lỗi và tái sinh chúng ta trong ân sủng" ( x Giáo lý Rô-ma 1,11,6).


Mục 11

"TÔI TIN XÁC LOÀI NGƯỜI SẼ SỐNG LẠI"

988.
Trong kinh Tin Kính, chúng ta tuyên xưng Thiên Chúa là Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần; và tin Thiên Chúa sáng tạo, cứu chuộc và thánh hóa. Kinh Tin Kính kết thúc với lời tuyên xưng : "Tôi đợi trông kẻ chết sống lại và sự sống đời sau."

989 655 648.
Chúng ta tin vững vàng và hy vọng chắc chắn rằng: cũng như Đức Ki-tô đã thực sự phục sinh từ cõi chết và sống mãi, thì sau khi chết những người công chính cũng sống mãi với Đức Ki-tô Phục Sinh và Người sẽ cho họ sống lại ngày sau hết (x. Ga 6,39-40). Cũng như sự phục sinh của Đức Ki-tô, sự sống lại của chúng ta là công trình của Chúa Ba Ngôi :

"Nếu Thần Khí của Đấng đã làm cho Chúa Giêsu sống lại từ cõi chết cư ngụ trong anh chị em, Đấng đã làm cho Chúa Giêsu sống lại từ cõi chết cũng sẽ ban sự sống cho             những thân xác phải chết của anh chị em, nhờ Thần             Khí của Ngài cư ngụ trong anh chị em (Rm 8, 11). (xem 1 Tx 4,14; 1 Cr 6,14; 2 Cr 4,14; Pl 3,10-11)

990 364.
Thuật ngữ "thân xác" chỉ con người trong thân phận yếu đuối và phải chết ( x. St 6,3; Tv 56,5; Is 40,6). "Xác sống lại" có nghĩa là sau khi chết, không phải chỉ có linh hồn bất tử vẫn tiếp tục sống, nhưng chính " thân xác phải chết" (Rm 8,11) cũng sẽ sống lại.

991 638.
Ngay từ đầu, tin kẻ chết sống lại đã là điều cốt yếu của đức tin Ki-tô giáo. "Người Ki-tô hữu xác tín rằng kẻ chết sống lại; chúng tôi sống được nhờ niềm tin này." (x. Tertulianô, bàn về phục sinh 1,1).

"Tại sao trong anh em có người lại nói : không có chuyện kẻ chết sống lại? Nếu kẻ chết không sống lại, thì Đức Ki-tô cũng không chỗi dậy. Mà nếu Đức Ki-tô không sống lại, thì lời rao giảng của chúng tôi trống rỗng, và cả đức tin của anh em cũng trống rổng.... Nhưng không ! Đức Ki-tô đã sống lại từ cõi chết, mở đường cho những ai đã an giấc ngàn thu" (x. 1Cr 15,12-14.20).

I. SỰ PHỤC SINH CỦA ĐỨC KI-TÔ VÀ CỦA CHÚNG TA

Sự sống lại đã được mặc khải dần dần

992 297.
Việc kẻ chết sống lại được Thiên Chúa từng bước mặc khải cho Dân Người. Niềm hy vọng "xác loài người ngày sau sống lại" đã trở thành cần thiết như là hậu quả nội tại của đức tin vào Thiên Chúa sáng tạo con người trọn vẹn cả hồn và xác. Đấng tạo thành trời đất cũng là Đấng trung thành giữ Giao Ước với Áp-ra-ham và miêu duệ. Chính trong viễn tượng sáng tạo và giao ước, Dân Chúa bắt đầu bày tỏ niềm tin vào sự Phục Sinh. Giữa những thử thách, các vị tử đạo thuộc gia đình Ma-ca-bê tuyên xưng :

"Vua trời đất sẽ cho chúng tôi phục sinh để được sống vĩnh cửu, bởi chúng tôi chết vì tuân giữ lề luật của Người" (2Mcb 7,9). "Chúng tôi thà chết do tay người phàm mà giữ vững niềm hy vọng được Thiên Chúa cho phục sinh ..." (2Mcb 7,14) (x. 7,29; Đn 12,1-13).

993 575 205.
Những người Pha-ri-sêu và nhiều người đương thời với Chúa Giê-su hy vọng vào sự sống lại. Chúa Giê-su đã giảng dạy rõ ràng về việc kẻ chết sống lại. Với người Sa-đốc không tin sự phục sinh, Người nói : "Vì các ông không biết Kinh Thánh và quyền năng Thiên Chúa mà các ông lầm" (Mc 12,24). Đức tin về sự sống lại dựa trên đức tin vào "Đấng không phải là Chúa của kẻ chết nhưng là Chúa của kẻ sống" (Mc 12,27).

994 646 652.
Hơn nữa, Chúa Giê-su liên kết đức tin về sự phục sinh với bản thân của Người : "Tôi là sự sống lại và là sự sống" (Ga 11,25). Đức Giê-su sẽ cho những ai tin vào Người ( x. Ga 5, 24-25;6,40), và đã ăn Thịt và uống Máu Người ( x. Ga 6,54), được sống lại trong ngày sau hết. Ngay khi còn ở trần gian, Người cho chúng ta một dấu chỉ và một bảo chứng, bằng cách cho một số người đã chết được sống lại ( x. Mc 5,21-42; Lc 7,11-17; Ga 11), để tiên báo chính Người sẽ sống lại, nhưng là phục sinh chứ không chỉ hồi sinh. Người nói về biến cố này như là "dấu chỉ Gio-na" (Mt 12,39) và dấu chỉ Đền Thờ ( x. Ga 2,19-22): Người tiên báo sẽ phục sinh ngày thứ ba sau khi chịu chết ( x. Mc 10,34).

995 860 655.
Các tông đồ làm chứng cho Đức Ki-tô nghĩa là các ngài "làm chứng cho sự Phục Sinh của Người" (Cv 1,22) ( x.4,33), "vì đã ăn, uống với Người sau khi Người từ trong kẻ chết sống lại" (Cv 10,41). Niềm hy vọng Ki-tô giáo về phục sinh mang đậm nét những lần gặp gỡ với Đức Ki-tô Phục Sinh. Chúng ta sẽ sống lại như Người, với Người và nhờ Người.

996 643.
Ngay từ đầu, có nhiều người không hiểu và chống lại đức tin Ki-tô giáo về Phục Sinh ( x. Cv 17,32; 1Cr 15,12-13). "Trong đức tin Ki-tô giáo vấn đề gặp nhiều chống đối hơn hết là việc xác loài người sống lại" ( x. T. Âu-tinh, thánh vịnh 88,2,5). Thông thường, người ta chấp nhận là sau khi chết, hồn con người vẫn sống. Nhưng làm sao tin được thân xác phải chết này sẽ phục sinh để sống đời đời ?

Người chết sẽ phục sinh thế nào?

997 366.
"Phục sinh" là gì ? Khi chết, hồn lìa khỏi xác, thân xác con người lâm cảnh hư nát trong khi linh hồn đến gặp Thiên Chúa, nhưng trong tình trạng chờ đợi được tái hợp với thân xác vinh quang. Thiên Chúa toàn năng sẽ làm cho thân xác chúng ta vĩnh viễn không còn hư nát nữa, khi hợp nhất nó với linh hồn nhờ hiệu năng của Chúa Giê-su Phục Sinh.
998 1038.
Ai sẽ phục sinh ? Mọi người đã chết đều sẽ phục sinh: "Ai đã làm điều lành thì sẽ sống lại để được sống, ai đã làm điều dữ thì sẽ sống lại để bị kết án" ( Ga 5,29; x. Đn 12,2 ).

999 640 645.
Phục sinh thế nào ? Đức Ki-tô đã phục sinh với chính thân xác mình : "Hãy nhìn chân tay Thầy coi : đúng là Thầy đây mà" (Lc 24,39). Nhưng Người không trở về với đời sống trần thế. Cũng vậy, trong Người, "mọi người sẽ sống lại với thân xác của mình, thân xác họ đang có bây giờ " ( x. Cđ Latran IV: DS 801), nhưng thân xác đó "sẽ biến đổi thành thân xác vinh hiển" (Pl 3,21), thành "thân xác có thần khí" (1 Cr 15,44) :

Có người thắc mắc : Kẻ chết sống lại như thế nào? Họ lấy thân hình nào mà trở về ? Đồ ngốc! Ngươi gieo cái gì, cái ấy phải chết mới được sống. Cái ngươi gieo không phải là thân hình sẽ mọc lên nhưng là một hạt trơ trụi .... Khi gieo xuống là thân xác hư nát, mà khi sống lại thì bất diệt...những kẻ chết sẽ sống lại mà không còn hư nát... Vì cái thân phải hư nát này cần phải mặc lấy sự bất diệt; và cái thân phải chết này cần phải mặc lấy sự bất tử ( x. l Cr 15,35-37.42,42-53).

1000 647.
"Thân xác con người phục sinh như thế nào" là điều vượt quá sức tưởng tượng và hiểu biết của chúng ta. Chúng ta chỉ hiểu được trong đức tin. Dầu vậy, khi rước Mình Máu Thánh Chúa, chúng ta được nếm trước việc thân xác chúng ta được biến đổi nhờ Đức Ki-tô :

1405.
Bánh là hoa mầu ruộng đất, nhưng sau khi đã kêu cầu Thiên Chúa, không còn là bánh thường nữa mà trở thành Mình Thánh Chúa, gồm cả hai thực tại trần thế và thượng giới. Cũng vậy, khi con người rước Mình Thánh Chúa, thân xác sẽ không phải hư nát vì mang trong mình hạt giống phục sinh ( x Irênê, chống lạc giáo 4, 18,4-5).

1001 1038 673.
Bao giờ kẻ chết sống lại ? Mọi người sẽ sống lại ( x. Ga 6,39-40,44.54;11,24 ) "vào ngày sau hết", "ngày tận thế"(x. LG 48). Ngày kẻ chết sống lại chính là ngày Đức Ki-tô quang lâm :

"Vì khi hiệu lệnh ban ra, khi tiếng tổng lãnh thiên thần và tiếng kèn của Thiên Chúa vang lên, thì chính Chúa sẽ từ trời xuống và những kẻ chết trong Đức Ki-tô sẽ sống lại trước tiên" (lTx 4,16).

Phục sinh với Đức Ki-tô

1002 655.
Đức Ki-tô sẽ cho chúng ta sống lại "ngày sau hết" nhưng có thể nói, chúng ta đã phục sinh với Đức Ki-tô rồi. Thật vậy, nhờ Chúa Thánh Thần, cuộc đời Ki-tô hữu đã dự phần vào cái chết và sự Phục Sinh của Đức Ki-tô ngay từ đời này :

"Anh em đã được mai táng cùng với Đức Ki-tô, khi chịu Phép Rửa, lại cùng được sống lại với Người, bởi anh em đã tin vào quyền năng của Thiên Chúa, Đấng làm cho Người sống lại từ kẻ chết .... Vậy bởi anh em đã sống lại cùng với Đức Ki-tô, thì anh em hãy tìm kiếm những gì trên trời, nơi Đức Ki-tô đang ngự bên hữu Thiên Chúa" (Cl 2,12; 3,1).

1003 1227 2796.
Được kết hiệp với Đức Ki-tô nhờ bí tích Thánh Tẩy, các tín hữu thật sự tham dự vào đời sống trên trời của Đức Ki-tô Phục Sinh (x. Pl 3,20), nhưng sự sống này còn "ẩn tàng với Đức Ki-tô trong Thiên Chúa" (Cl 3,3). "Thiên Chúa đã cho chúng ta được cùng sống lại và cùng ngự trị với Đức Ki-tô trên cõi trời" (Ep 2,6). Được nuôi dưỡng bằng Mình Máu Đức Ki-tô, chúng ta đã thuộc về Thân Thể Người. Khi chúng ta được phục sinh vào ngày sau hết, chúng ta sẽ "xuất hiện với Người và cùng Người hưởng phúc vinh quang" (Cl 3,4).

1004 364 1379.
Trong khi chờ đợi ngày ấy, xác và hồn của tín hữu đã được vinh dự "thuộc về Đức Ki-tô". Vì thế, phải tôn trọng thân xác của mình cũng như của kẻ khác, nhất là khi thân xác phải chịu đau đớn :

Thân xác là để phụng sự Thiên Chúa vì Chúa là chủ thân xác. Thiên Chúa đã làm cho Đức Ki-tô sống lại, cũng sẽ cho chúng ta sống lại. Nào anh em chẳng biết thân xác anh em là chi thể của Đức Ki-tô sao ? ... Anh em đâu còn thuộc về mình nữa ... Vậy anh em hãy tôn vinh Thiên Chúa nơi thân xác anh em (x. l Cr 6,13-15.19-20).

II. CHẾT TRONG ĐỨC GIÊ-SU KI-TÔ

1005 624.
Muốn được phục sinh với Đức Ki-tô, chúng ta phải cùng chết với Người, ta phải "lìa bỏ thân xác này để được ở bên Chúa" (2 Cr 5,8). Chết là "ra đi" (Pl 1,23), hồn lìa khỏi xác. Hồn sẽ họp lại với xác trong ngày kẻ chết sống lại (x. SPF 28).

 Sự Chết

1006 164,1500.
"Trước cái chết, bí ẩn về thân phận con người lên cao đến tột độ" (x. GS 18). Con người phải chết, đó là điều tự nhiên. Nhưng, đức tin cho chúng ta biết, chết là "tiền công trả cho tội lỗi" (Rm 6,23) (x. St 2,17). Và đối với người chết trong ân sủng Đức Ki-tô, chết là tham dự vào cái chết của Chúa để cùng được tham dự vào sự Phục Sinh của Người (x. Rm 6,3-9; Pl 3,10-11).

1007.  
Chết là chấm dứt cuộc đời trần thế. Cuộc đời chúng ta được tính bằng thời gian. Trong khoảng thời gian đó, chúng ta thay đổi, già đi rồi chết, bình thường như mọi sinh vật khác trên mặt đất. Thực tại này cho chúng ta một cái nhìn bức thiết hơn về cuộc sống. Nhớ đến cái chết, chúng ta phải nhớ là đời người có hạn :

"Vào thời thanh xuân, con hãy nhớ đến Đấng Sáng Tạo ... trước khi bụi trở về với đất như cũ và sinh khí trở về với Đấng đã ban nó cho con" (x.Giảng viên 12,1.7).

1008 401 376.
Chết là hậu quả của tội lỗi. Khi chính thức giải thích những điều Thánh Kinh (x. St 2,17;3,3;3,19;Sg 1,13;Rm 5,12;6,23) và Thánh Truyền khẳng định, Huấn quyền của Hội Thánh dạy rằng cái chết đã vào trần gian vì con người đã phạm tội (x. DS 1511). Mặc dù theo bản tính tự nhiên con người phải chết, nhưng Thiên Chúa đã muốn nó không phải chết. Cái chết đi ngược lại với ý định của Thiên Chúa sáng tạo và nó bước vào trần gian như hậu quả của tội lỗi (x. Kn 2,23-24). "Giả như con người không phạm tội thì đã không phải chết" (x. GS 18), nên "cái chết là kẻ thù cuối cùng con người cần phải chiến thắng" (x.1Cr 15,26).

1009 612.
Cái chết được biến đổi nhờ Đức Ki-tô. Dù là Con Thiên Chúa, Đức Giê-su đã chịu chết vì mang thân phận con người. Đứng trước cái chết, tuy sợ hãi (x.Mc 14,33-34; Dt 5,7-8), Người đã chấp nhận nó vì hoàn toàn và tự nguyện tùng phục ý Chúa Cha. Nhờ vâng phục, Đức Giê-su đã biến đổi cái chết từ chỗ là lời nguyền rủa trở thành lời chúc lành (x.Rm 5,19-21).

1681-1690.
Ý nghĩa sự chết theo Ki-tô giáo

1010 1220.
Nhờ Đức Ki-tô, chết mang một ý nghĩa tích cực. "Đối với tôi, sống là Đức Ki-tô và chết là một mối lợi" (Pl 1, 21). "Đây là lời đáng tin cậy : Nếu ta cùng chết với Người, chúng ta sẽ cùng sống với Người" (2 Tm 2,11). Ki-tô giáo đem lại ý nghĩa mới cho cái chết : nhờ bí tích Thánh Tẩy, Ki-tô hữu đã "cùng chết với Đức Ki-tô" cách bí nhiệm để sống một đời sống mới. Nếu chúng ta chết trong ân sủng Đức Ki-tô, cái chết thể xác sẽ kết thúc việc "cùng chết với Đức Ki-tô" mỗi ngày để hoàn tất việc tháp nhập chúng ta vĩnh viễn vào Người nhờ công trình cứu độ của Người :

Đối với tôi, chết trong Đức Giê-su Ki-tô còn hơn là được cai trị cả thế gian. Tôi đang đi tìm Đấng đã chết cho chúng ta: tôi đang khao khát Đấng đã phục sinh cho chúng ta. Giờ tôi được sinh ra (trong cuộc sống vĩnh cửu) đã gần kề ... Anh em hãy để tôi nhận lãnh ánh sáng tinh tuyền, khi nào tôi tới được đó, tôi mới thực sự là một con người (x.T. Inhaxio Antiôkia, thư gởi giáo đoàn Rô-ma 6,1-2).

1011 1025.
Qua cái chết, Thiên Chúa gọi chúng ta về với Người. Vì thế đối với cái chết, Ki-tô hữu có thể mong ước như Thánh Phao-lô : "Ao ước của tôi là ra đi để được ở với Đức Ki-tô" (Pl 1,23); theo gương Đức Ki-tô, họ có thể biến cái chết của mình thành một hành vi vâng phục và yêu mến đối với Chúa Cha (x.Lc 23,46):

"Lòng ham muốn trần thế của tôi đã bị đóng đinh... "mạch nước trường sinh" trong tôi đang thầm nhắn nhủ: "Hãy đến với Chúa Cha" (x.T. Inhaxio Antiôkia Rm 7,2).

"Tôi muốn gặp Thiên Chúa và để gặp Người tôi phải chết" (x.T .Tê-rê-sa Giê-su Vila 1).

"Tôi không chết, nhưng đang bước vào cõi sống (x.T. Tê-rê-sa Hài Đồng Giê-su, những lời cuối cùng).

1012.  
Cái nhìn Ki-tô giáo về sự chết (x.1Th 4,13-14) được diễn tả đặc biệt trong phụng vụ của Giáo hội:

"Lạy Chúa ! Đối với chúng con là những tín hữu, sự sống thay đổi chứ không mất đi; và khi nơi trú ngụ dưới trần bị hủy diệt, chúng con được về hưởng hạnh phúc vĩnh cửu trên quê trời" (Sách lễ Rô-ma, kinh tiền tụng cho kẻ qua đời).

1013.
Chết là kết thúc cuộc lữ hành trần thế, kết thúc thời gian Thiên Chúa gia ân và thương xót để con người sống cuộc đời trần thế theo ý Chúa và quyết định số phận tối hậu của mình. Khi chấm dứt "cuộc đời trần thế duy nhất này" (x. LG 48), chúng ta sẽ không trở lại với những cuộc sống trần thế khác. "Con người chỉ chết một lần" (Dt 9,29), không "đầu thai" sau khi chết.

1014 2676- 2677.
Hội Thánh khuyên chúng ta chuẩn bị cho giờ chết ("Xin cứu chúng con khỏi chết bất đắc kỳ tử": kinh cầu các thánh cũ); khấn xin Mẹ Thiên Chúa chuyển cầu cho chúng ta "trong giờ lâm tử" (Kinh Kính Mừng) và trông cậy vào Thánh Giu-se là bổn mạng kẻ "mong sinh thì":

"Trong mọi hành động, trong mọi suy tư của con, con phải xử sự như hôm nay con phải chết. Nếu lương tâm thanh thản, con sẽ không quá sợ cái chết. Thà giữ mình không phạm tội, hơn là trốn tránh sự chết. Nếu hôm nay con chưa sẵn sàng chết, thì làm sao ngày mai con sẵn sàng được? (x. Gương Chúa Giê-su 1,23,1)"

Lạy Chúa, chúc tụng Chúa vì chị Chết mà không ai thoát khỏi được. Vô phúc cho người chết trong tội trọng và diễm phúc cho người được chết trong ân nghĩa Chúa, vì cái chết lần thứ hai sẽ không làm cho họ đau khổ (Thánh Phan-xi-cô Assisi).





TÓM LƯỢC

1015.   "Việc cứu độ thân xác con người là điểm quan trọng trong chương trình cứu độ" (x.Tertullien,res 8,2). Chúng tôi tin vào Thiên Chúa là Đấng sáng tạo thân xác con người. Chúng tôi tin Ngôi Lời đã mặc lấy xác phàm để cứu chuộc thân xác. Chúng tôi tin "xác loài người ngày sau sống lại", khi ấy Thiên Chúa hoàn tất công trình sáng tạo và cứu chuộc thân xác.

1016.   Khi chết, hồn lìa khỏi xác, nhưng khi con người sống lại, Thiên Chúa sẽ trả lại sự sống bất diệt cho thân xác đã được biến đổi, bằng cách tái hợp xác với hồn. Như Đức Ki-tô đã phục sinh và sống mãi muôn đời, tất cả chúng ta sẽ sống lại vào ngày sau hết.

1017.   "Chúng tôi tin thân xác hiện nay của chúng tôi sẽ sống lại thật" (x. DS 854). Tuy nhiên, khi gieo xuống mồ là thân xác phải hư nát và khi Phục Sinh là thân xác bất diệt (x.1Cr 15,42), "thân xác có thần khí" (1Cr 15, 44).

1018.   Do hậu quả nguyên tội, con người phải chết. "Giả như con người không phạm tội, thì đã không phải chết" (GS 18).

1019.   Chúa Giê-su Con Thiên Chúa, tự nguyện chịu chết cho chúng ta vì hoàn toàn tùng phục thánh ý Chúa Cha. Nhờ cái chết của Người, Người đã chiến thắng tử thần và mở ra cho mọi người con đường cứu độ.





Mục 12

"TÔI TIN CÓ SỰ SỐNG ĐỜI ĐỜI"

1020 1523-1525.
Vì kết hợp cái chết của mình với cái chết của Chúa Giê-su, nên đối với người Ki-tô hữu, chết là về với Chúa và bước vào cuộc sống muôn đời. Khi thay Đức Ki-tô nói lời tha tội lần cuối cùng, xức dầu ban sức mạnh và trao Mình Thánh Chúa như của ăn đàng cho người Ki-tô hữu hấp hối, Hội Thánh dịu dàng trấn an người ấy :

2677, 336.
Nhân danh Chúa Cha toàn năng, Đấng tạo thành nên con, nhân danh Đức Giê-su Ki-tô, Con Thiên Chúa hằng sống, Đấng chịu khổ hình vì con, nhân danh Chúa Thánh Thần, Đấng được ban xuống trong con : Hỡi con hãy rời khỏi thế gian này. Hôm nay, con sẽ vào nơi bình an và ở bên Chúa trên núi thánh Xi-on, cùng với Đức Trinh Nữ Ma-ri-a, Mẹ Thiên Chúa, với thánh Giu-se, toàn thể thiên thần và các thánh của Chúa ... Con trở về cùng Đấng sáng tạo đã lấy bùn đất dựng nên con. Khi con lìa bỏ đời này, xin Đức Trinh Nữ Ma-ri-a, các thiên thần và toàn thể các thánh ra đón tiếp con... Xin cho con được nhìn thấy tận mắt Đấng Cứu Chuộc con... (kinh hối tử).

I. PHÁN XÉT RIÊNG

1021 1038 679.
Cái chết kết thúc đời sống con người, nghĩa là chấm dứt thời gian đón nhận hay chối bỏ ân sủng Thiên Chúa được biểu lộ trong Đức Ki-tô ( x.2 Tm 1,9-10). Khi đề cập đến phán xét, Tân Ước chủ yếu nói về cuộc gặp gỡ chung cuộc với Đức Ki-tô trong ngày quang lâm, nhưng cũng nhiều lần khẳng định có sự thưởng phạt tức khắc ngay sau khi chết, tùy theo công việc và đức tin của mỗi người. Dụ ngôn về người nghèo khó La-gia-rô ( x.Lc 16,22), và lời Đức Ki-tô trên thập giá nói với người trộm lành ( x.Lc 23,43), cũng như nhiều đoạn khác của Tân Ước (x.2Cr 5,8; Pl 1,23; Dt 9,27;12,23) nói đến số phận rất khác nhau của từng người (x.Mt 16,26).

1022 393.
Ngay khi lìa khỏi xác,linh hồn bất tử sẽ chịu phán xét riêng để được thưởng hay bị phạt đời đời; tùy theo đời sống của mình trong tương quan với Đức Ki-tô, linh hồn hoặc phải trải qua một cuộc thanh luyện ( x.Cđ Lyon:DS 857-858;Cđ .Florence:DS 1304-1306; Cđ.Trente:DS 1820) hoặc được hưởng phúc trên trời (x.Benoit XII:DS 1000-1001;Gio-an XXII:DS 990) hoặc sa địa ngục vĩnh viễn ( x.Benoit XII:DS 1002).

1470
"Khi chết chúng ta sẽ bị Thiên Chúa xét xử căn cứ trên tình yêu" (T.Gio-an Thánh giá, Bài giảng 64).

II. THIÊN ĐÀNG

1023 954.
Những kẻ chết trong ơn nghĩa Chúa và kẻ đã được thanh luyện trọn vẹn, sẽ sống mãi với Đức Ki-tô. Muôn đời họ sẽ nên giống Thiên Chúa, vì Người thế nào họ sẽ được "nhìn thấy Người như vậy" diện đối diện (l Ga 3,2).

Chúng tôi dùng quyền tông đồ định tín rằng (x.1Cr 12,13;Kh 22,4):"Theo sự an bài chung của Thiên Chúa, từ sau khi Đức Giê-su về trời, linh hồn của tất cả các thánh ... và của mọi Ki-tô hữu đã chết sau khi nhận Phép Rửa của Đức Ki-tô, nếu họ không có gì cần thanh luyện hoặc có gì cần thanh luyện nhưng đã thanh luyện xong sau khi chết ... thì các linh hồn này đã, đang và sẽ được ở trên trời trong Nước Trời và trong Thiên Đàng cùng với Đức Ki-tô, được nhập đoàn các thánh thiên thần, ngay cả trước khi thân xác họ sống lại vào ngày phán xét chung. Kể từ cuộc khổ nạn và cái chết của Chúa Giê-su Ki-tô, các linh hồn này đã và đang được xem thấy Thiên Chúa trực tiếp, diện đối diện, không qua trung gian một thụ tạo nào ( x.Benoit XII:DD 1000,x.LG 49).

1024 260,326 2734,1718.
"Thiên Đàng" là cuộc sống viên mãn vì được hiệp thông trong sự sống và tình yêu với Thiên Chúa Ba Ngôi, với Đức Trinh Nữ Ma-ri-a, với các thiên thần và các thánh. Thiên Đàng là mục đích tối hậu và là sự hiện thực các nguyện vọng sâu xa nhất của con người, là tình trạng hạnh phúc tuyệt hảo và chung cuộc.

1025 1011.
"Lên Thiên Đàng" là "được ở với Đức Ki-tô" ( x. Ga 14,3; Pl 1,23;1Th 4,17). Những người được tuyển chọn "sống trong Người", nhưng vẫn giữ, hay nói đúng hơn là tìm được căn tính đích thực của mình, danh xưng riêng của mình ( x. Kh 2,17).

"Vì sống là được ở với Đức Ki-tô; và ở đâu có Đức Ki-tô, nơi đó có sự sống, nơi đó là Nước Trời" ( x. T.Am-rô-xiô chú giải TM-Lc 10,121).



1026 793.
Nhờ đã chết và phục sinh, Chúa Giê-su Ki-tô đã "mở" cửa Thiên Đàng cho chúng ta. Các thánh được hưởng trọn vẹn hoa quả ơn cứu chuộc của Đức Ki-tô. Người cho những ai đã tin vào Người và trung thành với thánh ý Người được cùng hưởng vinh quang với Người. Thiên Đàng là cộng đồng vĩnh phúc gồm tất cả những người đã được tháp nhập trọn vẹn vào Đức Ki-tô.

1027 959,1720.
Chúng ta không đủ khả năng hiểu biết và trình bày mầu nhiệm hiệp thông vinh phúc với Thiên Chúa và với tất cả những người ở trong Đức Ki-tô. Khi nói về mầu nhiệm này, Kinh Thánh dùng những hình ảnh như sự sống, ánh sáng, bình an, tiệc cưới, rượu mới trong Nước Trời, nhà Cha, Thành Giê-ru-sa-lem Thiên Quốc, Thiên Đàng : "Điều mắt chẳng hề thấy, điều tai chẳng hề nghe, lòng người không hề nghĩ đến, đó là điều Thiên Chúa đã dọn sẵn cho những ai yêu mến Người" (1Cr 2,9).

1028 1722 163.
Thiên Chúa siêu việt, nên ta chỉ thấy được Người khi chính Người mặc khải mầu nhiệm cho ta chiêm ngưỡng và khi Người ban cho ta khả năng đó. Việc chiêm ngưỡng Thiên Chúa trong vinh quang Thiên Quốc được Hội Thánh gọi là "phúc kiến".

"Bạn sẽ được vinh quang và hạnh phúc biết bao: khi bạn được Thiên Chúa tiếp nhận để thấy Người, được vinh dự hưởng niềm vui cứu độ và ánh sáng vĩnh cửu cùng Đức Ki-tô, Chúa của bạn... Trên Thiên Quốc, bạn được hưởng niềm vui của sự bất tử cùng với những người công chính và những bạn hữu của Thiên Chúa" (x. T.Syp-pri-a-nô, thư 56,10,1).
1029 956 668.
Trong vinh quang Thiên Đàng, các thánh vẫn tiếp tục hân hoan thi hành thánh ý Thiên Chúa đối với những người khác và toàn thể các thụ tạo. Và các ngài đã bắt đầu hiển trị với Đức Ki-tô, cùng với Người, các Ngài "hiển trị đời đời" (Kh 22, 5) (x. Mt 25,21.23).

III. LUYỆN NGỤC : CUỘC THANH LUYỆN CUỐI CÙNG

1030.  
Những người chết trong ân nghĩa Chúa, nhưng chưa được thanh luyện hoàn toàn, mặc dù chắn chắc được cứu độ đời đời, còn phải chịu thanh luyện sau khi chết, để đạt được sự thánh thiện cần thiết để vào hưởng phúc Thiên Đàng.

1031 954,1472.
Hội Thánh gọi việc thanh luyện cuối cùng của những người được chọn là luyện ngục. Điều này khác hẳn với hình phạt đời đời của kẻ bị chúc dữ: Hội Thánh công bố giáo lý về luyện ngục cách riêng trong các công đồng Flôrence (x. DS 1304) và Trentô (x. DS 1820; 1580). Dựa vào một số đoạn Kinh Thánh (x. 1Cr 3,15; 1Pr 1,7), Hội Thánh nói về lửa thanh luyện.

"Đối với một số tội nhẹ, phải tin là trước phán xét chung có lửa thanh luyện. Chúa Giê-su xác nhận : nếu ai nói phạm đến Chúa Thánh Thần người ấy sẽ chẳng được tha cả đời này lẫn đời sau (Mt 12,31). Qua khẳng định này, chúng ta có thể hiểu là một số tội có thể được tha ở đời này, nhưng một số tội khác thì phải đợi tới đời sau" (x. T.Ghê-gô-ri-ô cả, đối thoại 4,39).

1032 958 1371 1479.
Lời dạy này cũng căn cứ trên tập quán cầu nguyện cho những người quá cố mà Kinh thánh đã nói: vì thế ông Giu-đa Ma-ca-bê-ô "xin dâng lễ đền tội cho những người chết, để họ được giải thoát khỏi tội lỗi" (2 Mcb 12,46). Ngay từ đầu, Hội Thánh vẫn kính nhớ người quá cố và cầu nguyện cho họ, đặc biệt trong thánh lễ (x. DS 856) để một khi được thanh luyện họ có thể hưởng nhan Thánh Chúa. Hội Thánh khuyên chúng ta bố thí, làm việc hãm mình và nhường các ân xá cho những người đã qua đời.

"Chúng ta hãy giúp họ và hãy nhớ đến họ. Nếu các con của ông Gióp đã được thanh luyện nhờ việc hiến lễ của cha (G 1,5), tại sao chúng ta còn nghi ngờ là những lễ tế của chúng dâng lên Thiên Chúa, để cầu cho người quá cố, lại không đem đến cho họ một phần an ủi nào? Đừng do dự giúp đỡ và cầu nguyện cho những người đã qua đời"(x. T.Gio-an Kim Khẩu, Bài Giảng về 1Cr 41,5).

IV. HỎA NGỤC

1033 1861 393 633.
Chúng ta không thể kết hiệp với Thiên Chúa, nếu không tự nguyện yêu mến Người. Nhưng chúng ta không thể yêu mến Người, nếu chúng ta phạm tội trọng phản nghịch Người, ngược lại lợi ích của người khác và chính mình : "Kẻ không yêu thương thì còn ở trong sự chết. Phàm ai ghét anh em mình thì là kẻ sát nhân. Và anh em biết : không một kẻ sát nhân nào có sự sống đời đời ở trong nó" (1Ga 3,15). Chúa Giê-su cảnh cáo : chúng ta sẽ bị tách xa Người, nếu chúng ta bỏ qua không đáp ứng những nhu cầu khẩn thiết của người nghèo và những người bé mọn là anh em của Người (x. Mt 10,28). Chết mà còn mang tội trọng, không hối cải, không đón nhận tình yêu nhân hậu của Chúa có nghĩa là phải xa cách Người đời đời, vì chính chúng ta đã tự do lựa chọn. "Hỏa ngục" chính là tình trạng con người dứt khoát tự loại trừ khỏi sự hiệp thông với Thiên Chúa và chư thánh.

1034.  
Chúa Giê-su thường nói về "hỏa ngục", về "lửa không hề tắt" (x.Mt 5,22.29;13,42.50; Mc 9,43-48), dành cho những ai đến chết vẫn không tin và không chịu hoán cải. Họ sẽ mất cả hồn lẫn xác trong hỏa ngục (x.Mt 10,28). Chúa Giê-su đã nghiêm khắc cảnh cáo: "Con Người sẽ sai sứ thần của mình tập trung mọi kẻ gian ác... mà quăng chúng vào lò lửa"(Mt 13,41-42). Người tuyên án : "Quân bị nguyền rủa kia hãy đi khuất mắt Ta mà vào lửa đời đời" (Mt 25, 41).
1035 393

Hội Thánh dạy rằng có hỏa ngục và án phạt đời đời. Ngay sau khi chết, linh hồn kẻ còn mắc tội trọng sẽ xuống hỏa ngục chịu cực hình "lửa đời đời" (x.DS 76; 409; 411; 801; 858; 1002; 1351; 1575; SPF 12). Vì chỉ nơi Thiên Chúa, con người mới tìm được sự sống và hạnh phúc hằng khao khát, nên cực hình chính của hỏa ngục là đời đời bị tách khỏi Thiên Chúa.

1036 1734 1428.
Những điều Kinh Thánh xác quyết và Hội Thánh dạy về hỏa ngục là lời mời gọi con người phải có trách nhiệm sử dụng tự do để đạt tới hạnh phúc đời đời; đồng thời thúc giục chúng ta ăn năn hối cải : "Hãy qua cửa hẹp mà vào, vì cửa rộng và đường rộng thì đưa tới diệt vong, mà nhiều người lại đi qua đó; còn cửa hẹp và đường hẹp thì đưa đến sự sống, nhưng ít người tìm được lối ấy" (Mt 7,13-14) :


"Vì không biết ngày và giờ, chúng ta phải theo lời Chúa dạy, luôn tỉnh thức, để khi cuộc đời độc nhất của chúng ta ở trần gian chấm dứt, chúng ta xứng đáng vào dự tiệc cưới với Người và được liệt vào số người được chúc phúc (x.Mt 25,31-46), chứ không như những tôi tớ khốn nạn và lười biếng (x.Mt 25,26) sẽ bị đẩy vào lửa đời đời (x.Mt 25,41), vào chốn tối tăm, nơi khóc lóc và nghiến răng" (LG 48).

1037 162 1014-1821.
Thiên Chúa không tiền định cho ai xuống hỏa ngục (x.DS 397; 1567). Ai tự ý lìa bỏ Thiên Chúa bằng một tội trọng và chai lì đến cùng, sẽ phải xuống hỏa ngục. Trong phụng vụ Thánh Thể và trong kinh nguyện hằng ngày của tín hữu, Hội Thánh khẩn cầu Thiên Chúa từ bi, Đấng "không muốn cho ai phải diệt vong, nhưng muốn cho mọi người ăn năn hối cải" (2 Pr 3,9) :

"Đây là lễ vật của chúng con là tôi tớ Cha và cũng là lễ vật của toàn thể gia đình Cha nữa, cúi xin Cha vui lòng chấp nhận. Xin an bài cho chúng con ở đời này được hưởng bình an của Cha. Xin cứu chúng con khỏi án phạt đời đời và thâu nhận chúng con vào số những người được Cha tuyển chọn" (Sách lễ Rô-ma, lễ qui Rô-ma 88).

678-679
V. PHÁN XÉT CHUNG

1038 1001,998.
Phán xét chung sẽ diễn ra ngay sau khi mọi người đã chết được sống lại, "người công chính cũng như kẻ có tội" (Cv 24,15) sống lại. Đó sẽ là "giờ các kẻ ở trong mồ sẽ nghe tiếng Người Con và sẽ ra khỏi đó : ai đã làm điều lành thì sẽ sống lại để được sống, ai đã làm điều dữ thì sẽ sống lại để bị kết án" (Ga 5,28-29). Khi Con Người "vinh hiển quang lâm, có toàn thể thiên sứ theo hầu... Các dân thiên hạ sẽ tập hợp trước mặt Người, và Người sẽ tách biệt họ như mục tử tách biệt chiên với dê. Chiên thì đặt bên phải, dê thì đặt bên trái... Thế là bọn này sẽ phải ra đi vào chốn cực hình muôn kiếp, còn những người công chính sẽ được lên hưởng phúc trường sinh" (x. Mt 25,31.32.46).

1039 678.
Khi đối diện với Đức Ki-tô Đấng là Chân Lý, quan hệ của từng người với Thiên Chúa sẽ được phơi bày rõ ràng (x.Ga 12,49). Phán xét chung sẽ cho thấy rõ những việc lành mỗi người đã làm hoặc đã bỏ qua khi còn sống ở trần gian, cả đến những hậu quả sâu xa của chúng :

"Những việc xấu kẻ dữ đã làm đều bị ghi nhận, dù họ không hay biết. Ngày đó "Thiên Chúa sẽ không còn làm thinh nữa" (Tv 50,3) ... Người quay sang kẻ dữ và nói với họ : "Vì các ngươi, Ta đã đặt trên trần gian những người nghèo hèn yếu đuối. Ta là Đầu của họ, đang ngự trị bên hữu Cha Ta trên Trời, nhưng dưới đất các chi thể của Ta phải đói khổ. Nếu các ngươi đã cho các chi thể của Ta, thì cái các ngươi cho, đã lên đến tận trên Đầu. Khi Ta đặt những người nghèo khó dưới đất là để làm tùy phái mang những việc tốt lành của các ngươi vào kho của Ta: vì các ngươi đã không cho họ gì cả, nên các ngươi không có gì trong nhà Ta" (x.T.Âu-tinh, bài giảng 18,4,4).

1040 637 314.
Phán xét chung sẽ diễn ra khi Đức Ki-tô quang lâm. Chỉ có Chúa Cha mới biết ngày giờ; chỉ một mình Người quyết định khi nào sự kiện này sẽ xảy ra. Người sẽ dùng Chúa Con là Đức Giê-su Ki-tô để ra phán quyết chung thẩm về toàn bộ lịch sử. Bấy giờ chúng ta sẽ thông hiểu ý nghĩa tối hậu của toàn bộ công trình sáng tạo, mầu nhiệm cứu độ và những con đường kỳ diệu Thiên Chúa Quan Phòng dẫn dắt mọi sự đến mục đích tối hậu của chúng. Phán xét chung cho ta thấy Chúa công chính sẽ chiến thắng mọi bất chính của thụ tạo và tình yêu của Người mạnh hơn sự chết (Dc 8,6).

1041 1432 2854.
Sứ điệp về phán xét chung mời gọi con người sám hối, trong khi Thiên Chúa còn cho "thời gian thi ân, thời gian cứu độ" (2 Cr 6,2). Sứ điệp này nhắc nhở chúng ta kính sợ Thiên Chúa, khuyến khích ta dấn thân cho sự công chính của Nước Trời, loan báo "niềm hy vọng hồng phúc" (Tt 2,13), ngày Đức Giê-su ngự đến "để được tôn vinh giữa Dân Thánh của người và được ngưỡng mộ giữa mọi kẻ đã tin" (2 Tx 1,10).

VI. HY VỌNG SẼ THẤY  TRỜI MỚI ĐẤT MỚI

1042 769 670.
Nước Thiên Chúa sẽ viên mãn trong ngày tận thế. Sau phán xét chung, những người công chính, được vinh thăng cả hồn lẫn xác để hiển trị muôn đời với Đức Ki-tô và toàn thể vũ trụ sẽ được đổi mới :

Bấy giờ, Hội Thánh "kết thúc trong vinh quang trên trời, khi toàn thể vũ trụ cùng với loài người được canh tân và đạt tới viên mãn trong Chúa Ki-tô" (LG 48).

1043 671 280 518.
Kinh Thánh gọi nhân loại và thế giới được canh tân cách huyền diệu này là "Trời Mới và Đất Mới" (2 Pr 3,13) (x. Kh 21,1). Khi ấy ý định "qui tụ muôn loài trong trời đất dưới quyền một thủ lãnh là Đức Ki-tô" (Ep 1,10) của Thiên Chúa sẽ được thành tựu.

1044.
Thiên Chúa sẽ ngự giữa loài người trong "vũ trụ mới" này ( Kh 21,5) tức là thành Giê-ru-sa-lem thiên quốc. "Người sẽ lau sạch nước mắt họ : sẽ không còn sự chết, cũng chẳng còn tang tóc, kêu than và đau khổ, vì những điều cũ đã biến mất" ( Kh 21,4) (x. Kh 21,27).

1045 775 1404.
Về phần con người, đó là lúc nhân loại hoàn toàn hiệp nhất như Thiên Chúa đã định từ tạo thiên lập địa, mà Hội Thánh lữ hành là "bí tích", sẽ được thực hiện trong cuộc viên mãn này (x. LG 1). Những kẻ được kết hợp với Đức Ki-tô tạo thành cộng đoàn những người được cứu chuộc, Thành Thánh của Thiên Chúa (Kh 21,2), "Hiền Thê của Con Chiên" (Kh 21,9). Cộng đoàn này sẽ không còn mang thương tích của tội lỗi nhơ bẩn (x. Kh 21,27), ích kỷ từng hủy diệt hoặc gây tổn thương cho cộng đồng nhân loại dưới thế. Việc hưởng nhan thánh Chúa sẽ là nguồn hạnh phúc, bình an và hiệp thông bất tận cho những người được tuyển chọn, vì Thiên Chúa tự ban trọn vẹn cho họ.

1046
Về phần vũ trụ, Mặc Khải xác nhận nhân loại và thế giới vật chất có chung một vận mệnh :

349.
"Muôn loài thụ tạo những ngong ngóng đợi chờ ngày Thiên Chúa mặc khải vinh quang của con cái Người ... hy vọng có ngày mình cũng sẽ được giải thoát, không phải lệ thuộc vào cảnh hư nát, ... Thật vậy, chúng ta biết rằng : cho đến bây giờ, muôn loài thụ tạo cùng rên siết và quằn quại như sắp sinh nở. Không phải muôn loài mà thôi, cả chúng ta cũng rên siết trong lòng : chúng ta đã lãnh nhận Thánh Thần như ân huệ mở đầu, nhưng còn trông đợi Thiên Chúa cứu chuộc thân xác chúng ta" (Rm 8,19-23).

1047.
Thiên Chúa đã tiền định vũ trụ hữu hình cũng phải biến đổi "để cho thế giới khôi phục lại tình trạng ban đầu, không gây bất kỳ trở ngại nào để phục vụ người công chính", và vũ trụ này cùng được vinh quang với họ trong Đức Giê-su Phục Sinh (T. I-rê-nê, chống lạc giáo 5,32,1).

1048 673.
"Chúng ta không biết được thời gian hoàn tất của trái đất và nhân loại, chúng ta cũng chẳng biết cách thức biến đổi của vũ trụ. Chắc chắn hình ảnh của một thế giới lệch lạc vì tội lỗi sẽ qua đi, nhưng chúng ta được biết Thiên Chúa đã dọn sẵn một chỗ ở mới và một đất mới, nơi công bằng ngự trị. Hạnh phúc nơi ấy sẽ thỏa mãn và vượt quá mọi ước vọng an bình trào dâng trong lòng con người" (GS 39,1).

1049 2820.
"Sự trông đợi đất mới không được làm suy giảm, trái lại phải kích thích nỗ lực phát triển trái đất này, nơi mà thân thể gia đình nhân loại mới đang tăng trưởng và tiên báo một vài hình ảnh của thời đại mới. Bởi vậy, tuy phải phân biệt rõ rệt những tiến bộ trần thế với sự mở rộng Vương Triều Chúa Ki-tô, nhưng những tiến bộ này trở thành quan trọng đối với Nước Thiên Chúa tùy theo mức độ chúng có thể góp phần vào việc tổ chức xã hội loài người cho tốt đẹp hơn" (GS 39,2).

1050 1709 260.
"Bởi vì tất cả những thành quả tuyệt hảo của bản chất và tài năng chúng ta, mà chúng ta đã tạo nên khắp địa cầu theo mệnh lệnh của Chúa và trong Thánh Thần Người, chúng ta sẽ nhận chúng lại sau này nhưng chúng đã được thanh luyện khỏi mọi tì ố, được chiếu sáng và biến đổi, khi Chúa Ki-tô trao lại Chúa Cha vương quốc vĩnh cửu và đại đồng" (x. GS 39,3; LG 2). Trong cuộc sống vĩnh cửu, Thiên Chúa "có toàn quyền trên muôn loài" (1Cr 15,28) :

Chúa Cha là sự sống đích thực và trường tồn. Qua Chúa Con và trong Thánh Thần, Người đã ban những hồng ân thiên quốc cho vạn vật. Do lòng nhân từ, Người cũng hứa ban không sai chạy cho chúng ta đời sống vĩnh cữu (x.T. Si-ren-lô thành Giêrusalem, minh hoạ giáo lý 18,29).

TÓM LƯỢC

1051.   Ngay sau khi qua đời, mỗi người nhận lãnh phần thưởng phạt đời đời, trong một cuộc phán xét riêng do Đức Ki-tô, Đấng phán xét kẻ sống và kẻ chết.

1052.   "Chúng tôi tin là linh hồn của tất cả những ai đã chết trong ơn nghĩa của Đức Ki-tô ... đều thuộc về Dân Thiên Chúa. Cái chết sẽ hoàn toàn bị đánh bại, trong ngày Phục Sinh, ngày linh hồn tái hợp với thân xác "(SPF 28).

1053.   "Chúng tôi tin rằng đông đảo các linh hồn tụ tập chung quanh Chúa Giê-su và Mẹ Ma-ri-a trên thiên đàng, họp thành Hội Thánh trên trời. Ở đó trong hạnh phúc đời đời, họ được diện kiến Thiên Chúa. Ở đó theo cấp độ khác nhau, họ được nhập đoàn các thiên thần, cùng hiển trị với Đức Ki-tô trong vinh quang, nâng đỡ sự yếu hèn của chúng ta và chuyển cầu cho chúng ta trong tình huynh đệ" (SPF 29).

1054.   Những ai chết trong ơn nghĩa Chúa, nhưng chưa được thanh luyện hoàn toàn, mặc dù đã chắc chắn được ơn cứu độ muôn đời, còn phải chịu thanh luyện sau khi chết, để đạt được sự thánh thiện cần thiết trước khi vào hưởng niềm vui của Thiên Chúa.

1055.   Do mầu nhiệm "Các Thánh Hiệp Thông", Hội Thánh phó thác người quá cố cho Thiên Chúa từ bi và cầu nguyện cho họ, đặc biệt trong Thánh Lễ.

1056.   Theo gương Đức Ki-tô, Hội Thánh luôn nhắc nhở tín hữu về "thực tế u buồn và bi thảm của cái chết đời đời" (x. DCG 69) còn gọi là "hỏa ngục".

1057.   Hình phạt chính của hỏa ngục là đời đời bị tách khỏi Thiên Chúa; vì chỉ nơi Thiên Chúa con người mới tìm được sự sống và hạnh phúc, là cùng đích và khát vọng của mình.

1058.   Hội Thánh cầu nguyện để không ai bị hư mất : "Lạy Chúa, xin đừng bao giờ để con lìa xa Chúa". Thực ra không ai có thể tự cứu lấy mình được, nhưng "Thiên Chúa muốn mọi người được cứu độ" (1 Tm 2,4) và đối với Người "mọi sự đều có thể được" (Mt 19,26).

1059.   "Hội Thánh Rô-ma tin và tuyên xưng vững vàng rằng, đến ngày phán xét chung, tất cả mọi người sẽ trình diện với chính thân xác mình trước tòa Đức Ki-tô, để trả lẽ về những hành vi của mình" (DS 859; x.DS 1549).

1060.   Nước Thiên Chúa sẽ viên mãn trong ngày tận thế. Sau phán xét chung, những người công chính được vinh thăng cả hồn lẫn xác để hiển trị muôn đời với Đức Ki-tô, và toàn thể vũ trụ sẽ được đổi mới. Trong cuộc sống vĩnh cửu, Thiên Chúa có "toàn quyền trên muôn loài" (1 Cr 15,28).


"A-MEN"


1061 2856.
Kinh Tin Kính, cũng như quyển cuối cùng của Thánh Kinh (x.Kh 22,21), kết thúc với từ Híp-ri "A-men". Chúng ta thường gặp từ này ở cuối các kinh nguyện của Tân Ước. Hội Thánh cũng chấm dứt các kinh nguyện của mình bằng "A-men".

1062 214.
Trong tiếng Hipri, từ A-men có cùng gốc với từ "tin", biểu thị sự vững bền, sự tin cậy được, sự trung tín. Vì thế, từ "A-men" có thể nói về sự trung tín của Thiên Chúa đối với chúng ta và sự tin cậy của chúng ta đối với Người.

1063 215 156.
Trong sách ngôn sứ I-sai-a, chúng ta thấy có thuật ngữ "Thiên Chúa chân lý," dịch sát chữ là "Thiên Chúa của A-men", nghĩa là Thiên Chúa trung tín với lời hứa : "Trên trần gian, ai muốn được chúc phúc, thì cũng muốn được Thiên Chúa của A-men chúc phúc" ( Is 65,16). Chúa Giê-su thường dùng từ "A-men" (x.Mt 6,2.5.16), đôi khi lặp lại thành hai lần để nhấn mạnh (x.Ga 5,19) điều Người dạy là đáng tin, thẩm quyền của Người dựa trên sự chân thật của Thiên Chúa.


1064 179,2101.
Từ "A-men" ở cuối kinh Tin Kính lặp lại và xác nhận hai chữ đầu : "Tôi tin". Tin là thưa "A-men" đối với lời Chúa, lời hứa, giới răn của Thiên Chúa, cũng là phó thác trọn vẹn vào Đấng là "A-men" của tình yêu vô tận và của sự trung tín tuyệt hảo. Như thế, đời sống hằng ngày của Ki-tô hữu là tiếng thưa "A-men" cho câu tuyên xưng "Tôi tin" khi nhận bí tích Thánh Tẩy :

Con phải coi kinh Tin kính là gương soi. Hãy ngắm nhìn con trong đó: để xem con có thực sự tin tất cả những gì con tuyên xưng không. Hằng ngày hãy vui mừng vì con đã tin (x. T.Âu-tinh bài giảng 58,11,13).

1065.
Chính Chúa Giê-su Ki-tô là "A-men" (Kh 3,14). Người là "A-men" chung cuộc của tình yêu Chúa Cha đối với chúng ta; Người thay chúng ta và cùng chúng ta thưa "A-men" với Chúa Cha : "Quả thật, Chúa Ki-tô là "A-men" của mọi lời Thiên Chúa hứa. Vì thế cũng nhờ Người mà chúng ta hô lên "A-men" để tôn vinh Thiên Chúa (2 Cr 1, 20) :

Chính nhờ Đức Ki-tô,
cùng với Đức Ki-tô
và trong Đức Ki-tô
hiệp nhất với Chúa Thánh Thần,
mọi vinh quang và danh dự đều thuộc về Cha
là Thiên Chúa toàn năng đến muôn thuở muôn đời.


A-MEN.


 

 Tags: anh em

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Đăng ký nhận tin
Nhập email để nhận được những tin tức mới nhất từ chúng tôi.
Thống kê truy cập
  • Đang truy cập89
  • Thành viên online1
  • Máy chủ tìm kiếm12
  • Khách viếng thăm76
  • Hôm nay2,860
  • Tháng hiện tại118,500
  • Tổng lượt truy cập771,646
Đánh giá website

Quý vị đánh giá website GPLS thế nào?

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây