Sách Giáo Lý HTCG : Phần I Tuyên Xưng Đức Tin - Đoạn 2 Kinh Tin Kính - Chương 3 (tiếp) - Tôi tin Hội Thánh Công Giáo

Thứ tư - 19/09/2018 23:11 20 0
  "Ánh sáng muôn dân chính là Chúa Ki-tô, nên Thánh Công Đồng đang nhóm họp trong Chúa Thánh Thần hết lòng mong ước chiếu giãi trên mọi người ánh sáng của Chúa Ki-tô phản chiếu trên dung nhan Hội Thánh, bằng việc rao truyền Tin Mừng cho mọi thụ tạo"
Sách Giáo Lý HTCG : Phần I Tuyên Xưng Đức Tin - Đoạn 2 Kinh Tin Kính - Chương 3 (tiếp) - Tôi tin Hội Thánh Công Giáo

Mục 9
"TÔI TIN CÓ HỘI THÁNH CÔNG GIÁO"

748.     "Ánh sáng muôn dân chính là Chúa Ki-tô, nên Thánh Công Đồng đang nhóm họp trong Chúa Thánh Thần hết lòng mong ước chiếu giãi trên mọi người ánh sáng của Chúa Ki-tô phản chiếu trên dung nhan Hội Thánh, bằng việc rao truyền Tin Mừng cho mọi thụ tạo". Những lời trên đây mở đầu "Hiến Chế Tín Lý về Hội Thánh" của Công Đồng Va-ti-ca-nô II. Qua đó, Công Đồng cho thấy tín điều về Hội Thánh hoàn toàn tùy thuộc những tín điều về Đức Giê-su Ki-tô. Hội Thánh không có ánh sáng nào khác ngoài ánh sáng của Đức Ki-tô. Các giáo phụ thường ví Hội Thánh như mặt trăng phản chiếu ánh sáng mặt trời.

749.     Tín điều về Hội Thánh còn tùy thuộc tín điều về Chúa Thánh Thần. "Quả thế, sau khi cho thấy Chúa Thánh Thần là nguồn mạch và là Đấng ban phát mọi sự thánh thiện, bây giờ chúng tôi tuyên xưng rằng chính Người đã ban phát cho Hội Thánh sự thánh thiện (x. Giáo lý Rôma 1,10,1)". Theo cách nói của các Giáo Phụ", Hội Thánh là môi trường hoạt động của Chúa Thánh Thần (T. Hipôlitô, truyền thống các tông đồ).

750 811 169.   Tin có Hội Thánh Công Giáo, Thánh Thiện, (kinh Tin Kính Ni-xê-a Con-tan-ti-nô-pô-li còn thêm), Duy Nhất và Tông Truyền không tách rời khỏi đức tin vào Thiên Chúa Ngôi Cha, Ngôi Con và Ngôi Thánh Thần. Trong kinh Tin Kính các tông đồ, chúng ta tuyên xưng "tôi tin có Hội Thánh", chứ không phải "tôi tin kính Hội Thánh", vì Hội Thánh là công trình của Thiên Chúa, không thể lẫn lộn với chính Thiên Chúa. Hội Thánh còn dùng cách tuyên xưng này để nhấn mạnh tất cả những hồng ân mà Người dành cho Hội Thánh đều do lòng nhân từ của Người (Giáo lý Rô-ma 1, 10,22).

Tiết 1: HỘI THÁNH TRONG Ý ĐỊNH CỦA THIÊN CHÚA

I. DANH XƯNG VÀ HÌNH ẢNH VỀ HỘI THÁNH

751.     Chúng ta dùng từ "Hội Thánh" để dịch chữ Ekklèsia của Hy Lạp ( Ek-kalein có nghĩa là tập họp). Thuật ngữ này chỉ những cuộc tập họp dân chúng ( x. Cv 19,39), thường có tính tôn giáo. Trong bản Cựu Ước bằng tiếng Hy lạp, thuật ngữ này thường được sử dụng để chỉ cuộc tập họp của "Dân được tuyển chọn" trước mặt Thiên Chúa, nhất là cuộc tập họp ở núi Xi-nai khi Ít-ra-en lãnh nhận Lề Luật và được Thiên Chúa thiết lập làm Dân Thánh ( x. Xh 19) của Người. Khi tự xưng là Hội Thánh, cộng đoàn tín hữu tiên khởi nhìn nhận mình là thừa kế của cộng đoàn Dân Chúa trong Cựu Ước. Trong cộng đoàn mới này, Thiên Chúa "tập họp" Dân của Người từ khắp mặt đất. Trong tiếng Anh, Hội Thánh được gọi là Church; trong tiếng Đức, Hội Thánh được gọi là Kirche, cả hai từ này phát xuất từ thuật ngữ "Kyriakê" của Hy lạp có nghĩa là "cộng đoàn của Chúa".

752 1140,832 830.
Trong ngôn ngữ Ki-tô giáo, thuật ngữ "Hội Thánh" chỉ cộng đoàn phụng vụ ( x. 1Cr 11,18; 14,19.28.34.35), nhưng cũng chỉ cộng đoàn địa phương ( x. 1Cr 1,2; 16,1) hay cộng đoàn tín hữu trên toàn thế giới ( x. 1Cr 15,9; Gl 1,13; Plm 3,6). Thực ra, ba nghĩa này không thể tách rời nhau. Hội Thánh là dân được Thiên Chúa quy tụ từ khắp cả hoàn cầu. Hội Thánh hiện diện trong những cộng đoàn địa phương và thể hiện như một cộng đoàn phụng vụ, đặc biệt là cộng đoàn Thánh Lễ. Hội Thánh sống nhờ Lời và Mình Thánh Chúa Ki-tô và nhờ đó, Hội Thánh trở thành Thân Thể Chúa Ki-tô.

Các biểu tượng về Hội Thánh

753 781 789
Trong Thánh Kinh, mặc khải dùng nhiều hình ảnh có tương quan mật thiết với nhau để nói về mầu nhiệm khôn lường của Hội Thánh. Trong Cựu ước các hình ảnh này là những cách diễn tả khác nhau của một ý tưởng căn bản : "Dân Thiên Chúa". Trong Tân Ước ( x. Eph 1,22; Cl 1,18), những hình ảnh ấy có một tâm điểm mới là Chúa Ki-tô, Đấng trở thành "Đầu của Dân" ( x. LG 9) và Dân trở thành Thân Thể của Người. Chung quanh tâm điểm ấy, Hội Thánh còn được diễn tả bằng "nhiều hình ảnh khác lấy từ đời sống du mục, canh nông, kiến trúc, hoặc gia đình và hôn lễ" (LG 6).

754 857.          Thực thế, Hội thánh là "chuồng chiên" và Chúa Ki-tô là cửa vào duy nhất và cần thiết ( x. Ga 10,1-10). Hội Thánh cũng là đàn chiên mà chính Thiên Chúa đã tiên báo Người là mục tử ( x. Is 40,11; Ed 34,11-31). Tuy được các mục tử trần gian chăn dắt, những chiên ấy luôn được chính Chúa Ki-tô, mục tử nhân lành và thủ lãnh các mục tử, dẫn dắt và nuôi dưỡng ( x. Ga 10,11; 1Pr 5,4). Người đã hiến mạng sống mình cho đàn chiên (x. Ga 10,11-15).

755 795.          "Hội Thánh cũng là "thửa ruộng", hay "cánh đồng Thiên Chúa" (1 Cr 3, 9). Trong cánh đồng ấy, mọc lên cây ô-liu cổ thụ mà các Tổ Phụ là gốc rễ thánh. Nơi cây cổ thụ này, sự hòa giải giữa dân Ít-ra-en và các dân ngoại đã được và sẽ được thực hiện (x. Rm 11,13-26). Hội Thánh được chủ vườn nho thiên quốc vun trồng như một cây nho tuyển chọn (x. Mt 21,33-43 par). Chúa Ki-tô là cây nho đích thực: Người ban sức sống và hoa trái cho các nhánh là chúng ta. Nhờ Hội Thánh, chúng ta ở trong Người. Không có Người, chúng ta không thể làm gì được (Ga 15, 1-5).

756 857 1045.
Hội Thánh cũng thường được gọi là "toà nhà của Thiên Chúa ( 1Cr 3,9). Chính Chúa Ki-tô đã tự ví Người như viên đá mà các thợ xây nhà loại bỏ, nhưng đã trở nên viên đá góc tường (Mt 21,42) (x.Cv 4,11; 1Pr 2,7; Tv 118,22). Trên nền móng này, các tông đồ đã xây dựng Hội Thánh (1Cr 3, 11) và Hội Thánh được bền vững, liên kết nhờ nền móng đó. Toà nhà này còn được gọi bằng nhiều tên khác: Nhà Thiên Chúa (1Tm 3,15) nơi Gia đình Người cư ngụ, nơi Thiên Chúa cư ngụ trong Chúa Thánh Thần (Ep 2, 19-22); "Lều Tạm của Thiên Chúa giữa loài người" (Kh 21,3) và nhất là Đền Thánh, tiêu biểu bằng các đền thờ bằng đá, đã từng được các thánh Giáo phụ ca tụng, và được Phụng Vụ sánh ví rất đúng với Thành Thánh, thành Giê-ru-sa-lem mới. Thật vậy, trong Hội Thánh tại thế, chúng ta là những viên đá sống động dùng vào việc xây cất (1Pr 2,5). Thánh Gio-an đã chiêm ngưỡng Thành Thánh ấy từ trời nơi Thiên Chúa mà xuống trong ngày canh tân vũ trụ, "sẵn sàng như hôn thê trang điểm để đón tân lang mình" (Kh 21,1-2).

757 507, 796 1616.
Hội Thánh còn được gọi là "thành Giê-ru-sa-lem trên trời là "mẹ chúng ta" (Gl 4,26) ( x.Kh 12,17), được mô tả như hiền thê tinh tuyền của Con Chiên không tì ố (Kh 19 7; 21 2.9; 22, 17), được Chúa Ki-tô yêu mến "và hiến thân để thánh hóa", được Người kết hợp bằng một giao ước bất khả tiêu hủy, được Người "nuôi dưỡng và săn sóc" không ngừng" (Ep 5,29; LG 6).

II. NGUỒN GỐC, NỀN TẢNG VÀ SỨ MẠNG CỦA HỘI THÁNH

758 257.          Để tìm hiểu kỹ càng mầu nhiệm Hội Thánh, trước hết chúng ta nên suy gẫm nguồn gốc của Hội Thánh trong ý định của Thiên Chúa Ba Ngôi được thực hiện tiệm tiến trong lịch sử.

Một ý định phát xuất từ tình yêu của Chúa Cha

759 293.          "Bởi ý định khôn ngoan nhân lành, hoàn toàn tự do và mầu nhiệm, Chúa Cha hằng hữu đã tạo dựng vũ trụ; Người quyết định nâng loài người lên tham dự đời sống thần linh" trong Chúa Con : "Chúa Cha muốn qui tụ những ai tin Chúa Ki-tô họp thành Hội Thánh".1655 "Gia đình của Thiên Chúa" này được thành lập và hiện thực tuần tự qua các giai đoạn tiếp nối của lịch sử loài người, thể theo sự an bài của Chúa Cha. Thật vậy, "từ nguyên thủy Hội Thánh được tiên báo bằng hình bóng, được chuẩn bị kỳ diệu trong lịch sử dân Ít-ra-en và trong Giao Ước cũ; được thành lập trong thời cuối cùng; và được biểu hiện lúc Chúa Thánh Thần ngự xuống, rồi đến ngày tận thế sẽ được hoàn tất trong vinh quang" (LG 2).

Hội Thánh được tiên báo từ khi tạo dựng trời đất

760 294, 309.  "Các Ki-tô hữu thời sơ khai cho rằng ( Hermas, vis.2,4,1; x. Aristide, apol.16,6; Justide, apol.2,7):"Vũ trụ được tạo dựng vì Hội Thánh". Thiên Chúa đã sáng tạo để vũ trụ được hiệp thông vào đời sống thần linh của Người; sự hiệp thông này được thể hiện bằng cách "triệu tập" loài người trong Chúa Ki-tô; và sự "triệu tập" đó chính là Hội Thánh. Hội Thánh là cùng đích của mọi sự ( x. T. Epiphane, chống lạc giáo.1,1,5 ). Ngay cả những biến thiên đau đớn, như sự sa ngã của các thiên thần và tội lỗi của loài người, cũng là do Thiên Chúa cho phép xảy ra, như là cơ hội và phương tiện để biểu dương tất cả quyền lực, tất cả tình yêu vô biên Người muốn ban cho nhân loại.

"Cũng như ý muốn của Thiên Chúa là hành động và hành động đó có tên là thế gian, thì ý định của Người là sự cứu độ loài người, và sự cứu độ ấy có tên là Hội Thánh" ( Cờ lê men tê, Giám mục A-lê-xan-ri, Giáo huấn 1,6).

Hội Thánh được chuẩn bị trong Cựu Ước

761 55.            Việc tập họp Dân Thiên Chúa bắt đầu ngay lúc tội lỗi phá hủy sự hiệp thông giữa loài người với Thiên Chúa và giữa loài người với nhau. Việc tập họp Hội Thánh có thể nói là cách Thiên Chúa phản ứng trước cảnh hỗn độn do tội lỗi gây ra. Cuộc tái thống nhất này được âm thầm thực hiện giữa lòng tất cả các dân tộc: "Trong bất cứ quốc gia nào, hễ ai kính sợ Thiên Chúa và ăn ngay ở lành, đều được Người coi như đẹp lòng Người" (Cv 10,35) ( x. LG 9, 13; 16).
762 122, 22,60 64
Việc qui tụ Dân Thiên Chúa được "chuẩn bị xa" với ơn gọi của Áp-ra-ham. Thiên Chúa hứa là ông sẽ thành cha của một dân tộc vĩ đại ( x. Ga 12,2; 15,5-6). Cuộc chuẩn bị gần bắt đầu bằng việc tuyển chọn Ít-ra-en làm Dân Thiên Chúa ( x. Xh 19,5-6; Đnl 7,6). Được Thiên Chúa tuyển chọn, Ít-ra-en phải là dấu chỉ cho việc qui tụ tất cả các dân tộc trong tương lai ( x. Is 2,2-5; Mk 4,1-4). Nhưng các ngôn sứ tố cáo Ít-ra-en đã phản bội giao ước và cư xử như một gái điếm ( x. Hs 1; Is 1,2-4; Gr 2; v.v...). Các Ngài loan báo một giao ước mới và vĩnh viễn ( x. Gr 31,31-34; Is 55,3). "Giao ước mới này do chính Đức Ki-tô đã thiết lập" (LG 9).

Hội Thánh được Đức Ki-tô thiết lập

763 541.          Việc Chúa Con phải thực hiện chương trình cứu độ của Chúa Cha khi thời gian đến hồi viên mãn, là lý do của "sứ mạng Người" ( x. LG 3; AG 3). "Chúa Giê-su đã khai sinh Hội Thánh bằng việc rao giảng Tin Mừng, loan báo Nước Thiên Chúa đã hứa trong Kinh Thánh từ ngàn xưa nay được khai sáng" (LG 5). Để thực thi ý Chúa Cha, Đức Ki-tô khai mạc Nước Trời trên mặt đất. Hội Thánh là "triều đại của Đức Ki-tô hiện diện một cách huyền nhiệm" (LG 3).

764 543, 1691, 2558.
"Triều đại này chiếu sáng trước mặt mọi người qua lời nói, hành động và sự hiện diện của Đức Ki-tô" (LG 5). "Ai đón nhận lời của Đức Giê-su là đón nhận Nước Thiên Chúa" ( Ibid). Mầm mống và khai nguyên của Nước Trời là "đoàn chiên bé nhỏ" (Lc 12, 32). Chúa Giê-su đã tập họp quanh Người và chính Người là mục tử ( x.Mt 10,16; 26,31; Ga 10,1-21). Những người đó họp thành gia đình đích thực của Chúa Giê-su ( x.Mt 12,49). Người đã dạy cho họ một "cách sống mới" và một kinh nguyện riêng ( x.Mt 5-6).
765 860, 551.  Chúa Giê-su thiết lập một cộng đoàn có cơ cấu, và cộng đoàn này sẽ tồn tại cho đến lúc Nước Trời được hoàn thành. Trước hết, Người tuyển chọn nhóm Mười Hai với Phê-rô làm thủ lãnh ( x.Mc 3,14-15). Đại diện cho 12 chi tộc Ít-ra-en ( x.Mt 19,28; Lc 22,30), nhóm 12 là nền tảng của Giê-ru-sa-lem mới ( x.Kh 21,12-14). Nhóm Mười Hai ( x.Mc 6,7) và các môn đệ khác ( x.Lc 10,1-2) tham dự vào sứ mạng của Đức Ki-tô, vào quyền năng và cả số phận ( x.Mt 10,25; Ga 15,20) của Người. Qua những hành động trên, Đức Ki-tô chuẩn bị và xây dựng Hội Thánh của Người.

766 813, 610, 1340 617 478.
Nhưng Hội Thánh phát sinh chủ yếu từ việc Đức Ki-tô hiến thân hoàn toàn để cứu độ chúng ta; sự hiến thân được thể hiện trước trong việc thiết lập bí tích Thánh Thể và được thực hiện trên Thập Giá. "Sự khai nguyên và phát triển của Hội Thánh được biểu thị bằng máu và nước trào ra từ cạnh sườn bị đâm thâu của Đức Giê-su bị đóng đinh" ( x.LG 3). "Chính từ cạnh sườn của Đức Ki-tô chịu chết trên Thập Giá đã phát sinh bí tích kỳ diệu là toàn thể Hội Thánh" (SC 5). Cũng như E-và được tạo ra từ cạnh sườn của A-đam khi ông ngủ, thì Hội Thánh cũng đã sinh từ trái tim bị đâm thủng của Đức Giê-su chết trên Thập Giá.

Hội Thánh được bày tỏ bởi Chúa Thánh Thần

767 731 849.
"Khi Chúa Con hoàn tất công trình Chúa Cha trao phó cho Người ở trần gian, Chúa Thánh Thần được cử đến trong ngày lễ Ngũ Tuần, để thánh hoá Hội Thánh mãi mãi" (LG 4). "Bây giờ, Hội Thánh được công khai giới thiệu cho nhân loại, và Tin Mừng bắt đầu được rao giảng cho muôn dân" (AG 4). Bởi Hội Thánh là cuộc "triệu tập" tất cả mọi người để được cứu độ, nên Hội Thánh tự bản chất là thừa sai, được Chúa Ki-tô cử đến với muôn dân, để làm cho họ trở thành môn đệ của Người ( x.Mt 28,l9-20; AG 2,5-6).

768 541.          Để giúp Hội Thánh thi hành sứ mạng, Chúa Thánh Thần "trang bị và điều khiển Hội Thánh bằng nhiều ân huệ phẩm trật và các đặc sủng khác nhau" (LG 4). "Vì thế được trang bị với các hồng ân của Đấng Sáng Lập và chăm chú trung thành tuân giữ các giới răn về bác ái, khiêm nhường và từ bỏ, Hội Thánh lãnh nhận sứ mạng rao truyền và thiết lập Nước của Đức Ki-tô và của Thiên Chúa nơi mọi dân tộc; Hội Thánh là mầm mống và khai nguyên của Nước ấy trên trần gian" (LG 5).

Hội Thánh được hoàn tất trong vinh quang

769 67l,28l8 675 l045.
"Hội Thánh chỉ được hoàn tất trong vinh quang trên trời" ( x. LG 48), trong ngày Chúa Ki-tô quang lâm. Từ nay đến đó, "Hội Thánh vẫn tiến bước trên đường hành hương, bị thế gian bách hại và được Thiên Chúa an ủi" (Thánh Âu-tinh, Đô thị Thiên Chúa,l8-5l; LG 8). Nơi trần thế, Hội Thánh biết mình đang ở chốn lưu đày, xa cách Chúa ( x.2Cr 5,6; LG 6) và khao khát ngày Vương Quốc đăng quang trọn vẹn, "giờ mà Hội Thánh được kết hợp cùng Vua của mình trong vinh quang" (LG 5). Hội Thánh sẽ phải trải qua nhiều thử thách lớn lao trước khi đạt tới vinh quang viên mãn; và nhờ Hội Thánh, thế giới cũng được vinh quang. Chỉ khi đó "mọi người công chính từ A-đam, từ A-ben người công chính, cho đến người được tuyển chọn cuối cùng, sẽ được qui tụ trong Hội Thánh hoàn vũ bên cạnh Chúa Cha"(LG 2).




III. MẦU NHIỆM HỘI THÁNH

770 812.          Hội Thánh sống trong lịch sử, nhưng vượt trên lịch sử. Chỉ với "con mắt đức tin" ( x. Sách Giáo lý Rô-ma l,l0,20), chúng ta mới có thể thấy được thực tại thiêng liêng mang sức sống thần linh nơi thực tại hữu hình của Hội Thánh.

Hội Thánh - vừa hữu hình vừa thiêng liêng

771 827.          "Đức Ki-tô, Đấng Trung Gian duy nhất, đã thiết lập và không ngừng nâng đỡ Hội Thánh luôn thánh thiện, là một cộng đoàn sống đức tin, cậy, mến như một cơ cấu hữu hình trên trần gian. Qua Hội Thánh, Người loan truyền chân lý và ân sủng cho mọi người". Hội Thánh đồng thời là :
1880
 - "xã hội có tổ chức theo phẩm trật và là Nhiệm Thể Chúa Ki-tô;
 - tập họp hữu hình và cộng đoàn thiêng liêng;
954
 - Hội Thánh dưới đất và Hội Thánh được trang bị những ân sủng trên trời".

Những chiều kích trên cấu thành một thực thể phức tạp, duy nhất, được tạo nên do hai yếu tố nhân loại và thần linh kết thành" (LG 8). "Hội Thánh có đặc tính vừa nhân loại vừa thần linh, vừa hữu hình vừa hàm chứa những thực tại vô hình, vừa nhiệt tình hoạt động vừa chiêm niệm, vừa hiện diện trên trần gian nhưng đồng thời cũng là lữ khách. Tuy nhiên, trong Hội Thánh, yếu tố nhân loại quy hướng và lệ thuộc vào yếu tố thần linh; những thực tại hữu hình quy hướng về những thực tại vô hình; hoạt động hướng về chiêm niệm; và những gì hiện tại phải hướng về thành đô tương lai là nơi chúng ta đang tìm kiếm" (SC 2).

"Ôi khiêm tốn ! Ôi cao cả ! Lều tạm Xê-đa và Thánh Điện của Thiên Chúa, nơi cư trú trần gian và là cung điện trên trời; ngôi nhà bằng đất sét và là cung điện của Vua; thân xác hư nát và là đền thờ ánh sáng; đối tượng của sự khinh khi của bọn kiêu căng và là hiền thê của Đức Ki-tô ! Nàng đen mà đẹp, nữ tử Giê-ru-sa-lem, nàng xanh xao nhợt nhạt vì mệt mỏi, đau khổ qua cuộc lưu đày dài đằng đẵng, song nàng đã được trang sức bằng nữ trang thượng giới (T. Bernard Cant 27,14).

Hội Thánh - Mầu Nhiệm hiệp nhất giữa loài người với Thiên Chúa

772 518, 796.
Chính trong Hội Thánh, Đức Ki-tô hoàn tất và mặc khải Mầu nhiệm sâu thẳm của Người như cùng đích của ý định Thiên Chúa : "thâu tóm mọi sự trong Đức Ki-tô" (Ep l,l0). Sự kết hiệp của Đức Ki-tô với Hội Thánh là Hiền Thê của Người, được thánh Phao-lô gọi là "mầu nhiệm cao cả" (Ep 5-32). Vì được kết hiệp với Đức Ki-tô như Phu Quân của mình (x. Ep 5,25-27), Hội Thánh đến lượt mình cũng trở thành Mầu Nhiệm (x. Ep 3,9-l4). Chiêm ngắm mầu nhiệm này, thánh Phao-lô nói : "Đức Ki-tô đang ở giữa anh em, Đấng ban cho chúng ta niềm hy vọng đạt tới vinh quang" (Cl 1, 27).

773 671 972.
Mục đích của Hội Thánh là giúp con người hiệp thông với Thiên Chúa nhờ "đức ái không bao giờ tàn tạ" (x. 1Cr l3,8); mục đích ấy chi phối tất cả những gì là phương tiện mang tính bí tích, gắn liền với thế giới đang qua đi (x LG 48). "Phẩm trật Hội Thánh, hoàn toàn nhằm vào việc thánh hoá các chi thể của Chúa Ki-tô. Sự thánh thiện của Hội Thánh tùy thuộc vào "mầu nhiệm cao cả", là mầu nhiệm Hội Thánh đón nhận và đáp lại tình yêu của Đức Ki-tô" (x. MD 27). Đức Ma-ri-a đã trổi vượt trên tất cả chúng ta về sự thánh thiện. Sự thánh thiện này là mầu nhiệm Hội Thánh xét như "Hiền Thê không tỳ ố, không vết nhăn" (x Ep 5,27). Vì vậy "trong Hội Thánh, mẫu mực Thánh Mẫu trổi vượt hơn mẫu mựcTông Đồ" ( Ibid) .

Hội Thánh - Bí Tích phổ quát của ơn cứu độ

774 1075 515 2014 1116.
Tiếng La tinh dùng hai từ Mysterium (mầu nhiệm) và Sacramemtum (bí tích) để dịch từ Mysterion của Hy lạp. Về sau, người ta phân biệt thuật ngữ Sacramentum (bí tích) để diễn tả dấu chỉ hữu hình của ơn cứu độ; thuật ngữ Mysterium (mầu nhiệm) diễn tả ơn cứu độ ẩn giấu dưới dấu chỉ hữu hình đó. Theo nghĩa này, chính Đức Ki-tô là mầu nhiệm cứu độ : mầu nhiệm Thiên Chúa không có gì khác hơn là chính Đức Ki-tô (T. Âu-tinh thư l87,ll,34). Công trình cứu độ của nhân tính thánh thiên và có sức thánh hóa của Đức Ki-tô là bí tích cứu độ được tỏ lộ và tác động trong các bí tích của Hội Thánh (mà các Giáo Hội Đông Phương gọi là các "mầu nhiệm thánh"). Bảy bí tích là những dấu chỉ và những khí cụ Chúa Thánh Thần dùng để ban tràn đầy ân sủng của Đức Ki-tô là Đầu, cho Hội Thánh là Thân Thể. Như thế, Hội Thánh chứa đựng và thông ban ân sủng vô hình mà Hội Thánh là dấu chỉ. Chính trong nghĩa loại suy này mà Hội Thánh được gọi là "bí tích".



775 360.          "Trong Đức Ki-tô, Hội Thánh là bí tích, nghĩa là dấu chỉ và khí cụ của sự kết hiệp mật thiết giữa con người với Thiên Chúa và của sự hiệp nhất toàn thể nhân loại" (LG 8). Mục đích đầu tiên của Hội Thánh là trở thành bí tích của sự kết hiệp mật thiết con người với Thiên Chúa. Vì sự hiệp thông giữa con người với nhau bắt nguồn từ sự kết hiệp với Thiên Chúa, nên Hội Thánh cũng là bí tích hiệp nhất của nhân loại. Trong Hội Thánh, sự hiệp nhất đó đã bắt đầu, vì Hội Thánh qui tụ những người "thuộc mọi quốc gia, mọi chủng tộc, mọi dân tộc, mọi ngôn ngữ" (Kh 7,9); đồng thời, Hội Thánh là "dấu chỉ và khí cụ" thực hiện trọn vẹn sự hiệp nhất còn phải đạt đến.

776 1088.        Vì là bí tích, Hội Thánh cũng là khí cụ của Đức Ki-tô. "Chúa Ki-tô dùng Hội Thánh như khí cụ để cứu chuộc mọi người" (x. LG 9), như "bí tích phổ quát của ơn cứu độ" (x. LG 48), nhờ đó Đức Ki-tô "bày tỏ và thực hiện mầu nhiệm Thiên Chúa yêu thương con người" (x. GS 45,l). Hội Thánh là "dự phóng hữu hình của tình yêu Thiên Chúa đối với nhân loại" (Phao-lô VI-diễn từ 22-6-1973). Thiên Chúa muốn cho "tất cả loài người họp thành một Dân duy nhất của Thiên Chúa, quy tụ trong Thân Thể duy nhất của Đức Ki-tô, xây dựng thành một đền thờ duy nhất của Thánh Thần" (AG 7; LG 17).

TÓM LƯỢC

777.     Từ "Hội Thánh" nghĩa là "tập họp". Thuật ngữ này chỉ cuộc hội họp của những người được Lời Chúa tập họp thành Dân Thiên Chúa, và nhờ bí tích Thánh Thể nuôi dưỡng, họ trở thành Thân Thể Đức Ki-tô.

778.     Hội Thánh vừa là con đường, vừa là cùng đích của ý định Thiên Chúa. Được tiên báo từ khi Thiên Chúa sáng tạo trời đất, được chuẩn bị trong Cựu Ước, được thành lập do Lời và hành động của Đức Giê-su Ki-tô, được thực hiện nhờ Thập Giá cứu chuộc và sự Phục Sinh của Người, cuối cùng Hội Thánh được giới thiệu với nhân loại như mầu nhiệm cứu độ qua việc Thánh Thần được ban tràn đầy. Hội Thánh sẽ được hoàn tất trong vinh quang trên trời như cuộc tập họp tất cả những ai được chuộc về từ dưới đất (x.Kh 14,4).

779.     Hội Thánh vừa hữu hình vừa thiêng liêng, vừa là một xã hội có phẩm trật vừa là Nhiệm Thể Đức Ki-tô. Hội Thánh duy nhất họp thành bởi hai yếu tố: nhân loại và thần linh. Vì thế, chỉ có đức tin mới thấu hiểu được mầu nhiệm Hội Thánh.

780.     Ở đời này, Hội Thánh là bí tích cứu độ, dấu chỉ và khí cụ của sự hiệp thông giữa Thiên Chúa với con người.


Tiết 2: HỘI THÁNH – DÂN THIÊN CHÚA, THÂN THỂ
CHÚA KITÔ, ĐỀN THỜ CHÚA THÁNH THẦN

I. HỘI THÁNH LÀ DÂN THIÊN CHÚA

781.     "Chắc chắn trong mọi thời đại và mọi dân tộc, bất cứ người nào kính sợ Thiên Chúa và ăn ở ngay lành đều được Người đoái thương (x.Cv 10, 35). Tuy nhiên, Thiên Chúa không muốn thánh hoá và cứu độ con người cách riêng rẽ, thiếu liên kết, nhưng Ngài muốn qui tụ họ thành một dân tộc, để họ nhận biết Người trong chân lý, và phụng sự Người trong thánh thiện. Vì thế, Người chọn dân Ít-ra-en làm dân Người, thiết lập với họ một giao ước, giáo huấn họ dần dần... Tuy nhiên, tất cả những điều ấy chỉ là chuẩn bị và hình bóng của Giao Ước mới hoàn hảo sẽ được ký kết trong Đức Ki-tô ... Đó là Giao Ước mới trong máu Người, Người triệu tập một dân đến từ dân Ít-ra-en và từ các dân ngoại, họp thành một khối duy nhất trong Thánh Thần" (LG 9).

Những đặc tính của dân Thiên Chúa

782 871.          Dân Thiên Chúa có những đặc tính rõ ràng, phân biệt họ với tất cả những tập thể tôn giáo, chủng tộc, chính trị hoặc văn hóa trong lịch sử.

2787.
 -Họ là dân của Thiên Chúa : Thiên Chúa không là của riêng một dân tộc nào. Nhưng Người tạo cho mình một dân tộc từ những người trước kia không phải là một dân tộc : "một giống nòi được tuyển chọn, một hoàng tộc chuyên lo tế tự, một dân thánh" (1 Pr 2,9).
1267.
 -Người ta trở nên thành viên của Dân này, không phải do huyết thống nhưng "được sinh ra từ trên", "bởi nước và Thánh Thần" (Ga 3,3-5), nghĩa là nhờ tin vào Đức Ki-tô và nhờ Phép Rửa.
695.
 -Dân này có vị Thủ Lãnh (Đầu) là Đức Ki-tô (Đấng đựơc xức dầu, Mê-si-a), vì cùng được xức dầu bởi một Chúa Thánh Thần, chảy từ đầu xuống thân, nên dân này là dân Mê-si-a.
1741.
 -"Thân phận dân này là phẩm giá của những người con tự do của Thiên Chúa : Chúa Thánh Thần ngự trong tâm hồn họ như trong một đền thờ."

 -"Luật của họ là giới răn mới : phải yêu thương nhau như chính Chúa Ki-tô đã yêu thương chúng ta" (x. Ga l3,34). Đó là luật "mới" của Chúa Thánh Thần ( Rm 8, 2; Gl 5,25).

849.
-Sứ mạng của dân này là làm muối đất và ánh sáng thế gian (x. Mt 5,l3-l6). "Dân này là hạt giống tốt nhất giúp toàn nhân loại hiệp nhất, hy vọng và được cứu độ."
769.
-Cuối cùng, cứu cánh của Dân là "Nước Thiên Chúa được khai nguyên trên trần gian và ngày càng lan rộng, cho đến khi được chính Người hoàn tất trong ngày thế mạt ".

Một dân tư tế, ngôn sứ và vương giả

783 436, 873
Thiên Chúa đã dùng Thánh Thần xức dầu và tấn phong Đức Giêsu Ki-tô làm "Tư tế, Ngôn sứ và Vua". Toàn thể Dân Thiên Chúa tham dự ba chức năng đó của Đức Ki-tô và lãnh trách nhiệm thực hiện sứ mạng phục vụ, xuất phát từ ba chức năng đó (RH 18,21).

784 1268 1546.
Khi gia nhập Dân Thiên Chúa, bằng đức tin và phép rửa, chúng ta dự phần vào ơn gọi vô song của Dân ấy : ơn gọi tư tế . "Đức Giê-su Ki-tô được cất nhắc làm thượng tế giữa loài người, đã làm cho Dân mới "thành một vương quốc, thành những tư tế cho Thiên Chúa, Cha Người". Thực vậy, những người đã lãnh phép rửa, nhờ sự tái sinh và xức dầu của Thánh Thần, được thánh hiến để trở thành đền thờ thiêng liêng và nhận chức tư tế thánh" (LG 10).

785 92.
"Dân thánh của Thiên Chúa tham dự chức năng ngôn sứ của Đức Ki-tô" : nhờ cảm thức siêu nhiên của đức tin của toàn thể Dân Chúa, của giáo dân cũng như của hàng giáo phẩm, khi "gắn bó hoàn toàn với đức tin đã được truyền lại cho Dân thánh chỉ một lần là đủ" (LG l2), khi tìm hiểu, đào sâu nội dung đức tin ấy, và khi trở nên chứng nhân của Đức Ki-tô giữa đời.

786 2449 2443.
Dân Thiên Chúa còn tham dự vương giả của Đức Ki-tô. Đức Ki-tô thi hành vương quyền bằng cách nhờ cuộc khổ nạn và phục sinh mà thu hút mọi người đến với mình (x. Ga12,32). Dù là Vua và Chúa muôn loài, Đức Ki-tô đã tự hạ làm tôi tớ mọi người, vì "Người không đến để được hầu hạ mà để hầu hạ và hiến dâng mạng sống làm giá cứu chuộc muôn người" (Mt 20,28). Đối với Ki-tô hữu, "muốn làm Vua với Đức Ki-tô phải phục vụ Người" (LG 36), cách riêng "trong những người nghèo khó và đau khổ, vì nơi họ, Hội Thánh nhận ra hình ảnh của Đấng Sáng Lập nghèo khó và đau khổ của mình" (LG 8). Dân Thiên Chúa thực hiện "phẩm giá vương giả" của mình bằng cách sống phù hợp ơn gọi phục vụ với Đức Ki-tô.

Dấu Thánh Giá làm cho tất cả những người được tái sinh trong Đức Ki-tô trở thành Vua. Việc Thánh Thần xức dầu, thánh hiến họ làm tư tế. Không kể đến thừa tác vụ tư tế của hàng giáo sĩ, mọi Ki-tô hữu, nhờ đặc sủng của Thánh Thần và nhờ sử dụng lý trí, nhận ra mình thuộc dòng dõi vương giả và chia sẻ chức năng tư tế. Thật vậy, ai vương giả hơn người bắt thân xác mình qui phục Thiên Chúa? Và ai xứng đáng làm tư tế cho bằng kẻ hiến cho Chúa một lương tâm trong sạch và dâng trên bàn thờ tâm hồn mình, những lễ vật tinh tuyền của một đời phụng sự Chúa ( T.Lê-ô cả, bài giảng.1,1).

II. HỘI THÁNH LÀ THÂN THỂ CHÚA KI-TÔ

Hội Thánh là hiệp thông với Đức Giê-su
787 755.
Ngay từ đầu, Chúa Giê-su đã cho các môn đệ dự phần vào đời sống của mình ( x. Mc 1,16-20; 3,13-19). Người mặc khải cho họ mầu nhiệm Nước Trời ( x. Mt 13,10-17) và cho họ tham gia vào sứ mạng, chia sẻ niềm vui ( x. Lc 10,17-20) và khổ đau của Người ( x. Lc 22,28-30). Đức Giê-su nói đến một sự hiệp thông mật thiết hơn giữa Người với những ai sau này sẽ theo Người : "Hãy lưu lại trong Thầy ... như Thầy trong anh em... Thầy là cây nho, anh em là ngành" (Ga 15,4-5). Người loan báo một sự hiệp thông thật sự và mầu nhiệm giữa thân thể Người và thân thể chúng ta: "Ai ăn thịt Ta và uống máu Ta thì kết hợp với Ta và Ta với người ấy" (Ga 6,56).

788 690.
Khi không còn hiện diện hữu hình với các môn đệ, Chúa Giê-su không để các môn đệ phải mồ côi ( x. Ga 14,18). Người hứa ở với họ cho đến tận thế ( x. Mt 28,20), Người cử Thánh Thần đến với họ ( x. Ga 20,22; Cv 2,33). Nhờ đó sự hiệp thông với Người, trở nên mật thiết hơn : "Khi thông truyền Thánh Thần cho những anh em được Người qui tụ từ muôn dân, Đức Ki-tô tạo lập họ thành Thân Thể Người cách mầu nhiệm" (LG 7).

789 521.
Khi so sánh Hội Thánh với thân thể con người, chúng ta thấy rõ mối liên hệ mật thiết giữa Hội Thánh với Đức Ki-tô. Hội Thánh không chỉ được quy tụ quanh Đức Ki-tô, nhưng được thống nhất trong Người, trong Thân Thể Người. Trong Hội Thánh là Thân Thể Đức Ki-tô, chúng ta cần lưu ý đặc biệt ba khía cạnh sau : Các chi thể hợp nhất với nhau nhờ kết hợp với Đức Ki-tô; Đức Ki-tô là Đầu của Thân Thể; Hội Thánh là Hiền Thê của Đức Ki-tô.

"Một Thân Thể duy nhất"

790 9471227 1329.
Khi đáp lại Lời Thiên Chúa và trở nên chi thể Đức Ki-tô, các tín hữu được kết hợp mật thiết với Người: "Trong thân thể ấy, sự sống Chúa Ki-tô tràn lan trên các tín hữu. Nhờ các bí tích, các tín hữu được kết hợp thật sự và cách mầu nhiệm với Chúa Ki-tô đau khổ và hiển vinh" (LG 7). Thật vậy, nhờ bí tích Thánh Tẩy, chúng ta được kết hợp với Đức Ki-tô trong cuộc khổ nạn và phục sinh của Người ( x Rm 6,4-5;1Cr 12,13) ; và nhờ bí tích Thánh Thể, chúng ta "được thông dự thực sự vào Thân Thể của Đức Ki-tô", "nên chúng ta được nâng lên để hiệp thông với Người và với nhau" (LG 7).

791 814, 1937.
Sự hiệp nhất trong Thân Thể không làm mất tính đa dạng của các chi thể : "Trong việc xây dựng Thân Thể của Chúa Ki-tô, cần có nhiều chi thể với những phận vụ khác nhau. Chỉ có một Chúa Thánh Thần ban những ân sủng khác nhau, để làm ích cho Hội Thánh theo sự sung mãn của Người và tùy nhu cầu của các công việc". Sự hiệp nhất của Nhiệm Thể làm phát sinh và thúc đẩy lòng bác ái giữa các tín hữu. "Nếu một chi thể nào đau đớn, thì tất cả các chi thể khác đều bị đau đớn; và nếu một chi thể nào được vinh dự, thì tất cả các chi thể khác cùng chung vui" (LG 7). Sau cùng, sự hiệp nhất của Nhiệm Thể vượt qua mọi chia rẽ của loài người : "Quả thế, được dìm vào nước Thánh Tẩy để nên một với Đức Ki-tô, tất cả anh em được mặc lấy Đức Ki-tô; không còn chuyện phân biệt Do thái hay Hy lạp, nô lệ hay tự do, đàn ông hay đàn bà; vì tất cả anh em chỉ là một nhờ được kết hợp với Đức Ki-tô Giê-su" (Gl 3,27-28).


Đức Ki-tô là Đầu của Thân Thể "

792 669 1119.
Đức Ki-tô là "Đầu của Thân Thể, nghĩa là đầu của Hội Thánh" (Cl 1,18). Người là nguyên lý của công trình sáng tạo và cứu chuộc. Được cất nhắc vào trong vinh quang của Chúa Cha, "trong mọi sự Người đứng hàng đầu" (Cl 1,18), nhất là trong Hội Thánh, nhờ Hội Thánh Người mở rộng vương triều của Người trên mọi sự.

793 661 519.
Người kết hiệp chúng ta vào cuộc Vượt Qua của Người : Mọi chi thể phải trở nên giống Đức Ki-tô "cho đến khi Đức Ki-tô được hình thành nơi anh em" (Gl 4,l9). "Chính vì thế chúng ta được kết nạp vào mầu nhiệm sự sống của Người ..., thông hiệp với những đau khổ của Người như thân thể kết hiệp với đầu, kết hiệp với sự thương khó của Người để được cùng Người vinh hiển" (LG 7).

794 872.
Người giúp chúng ta tăng trửơng (x. Cl 2,l9). Để chúng ta lớn lên vươn tới Người là Đầu, Đức Ki-tô phân phối những ân huệ và những thừa tác vụ trong Thân Thể Người là Hội Thánh, nhờ đó chúng ta giúp nhau trên đường cứu độ.

795 695.
Chúa Ki-tô hợp với Hội Thánh làm thành "Đức Ki-tô toàn diện". Hội Thánh là một với Đức Ki-tô. Các thánh ý thức sâu xa về sự hiệp nhất này :

"Chúng ta hãy vui mừng và cảm tạ, vì chúng ta không những trở thành Ki-tô hữu, mà trở thành chính Đức Ki-tô. Anh em có hiểu ơn trọng đại Thiên Chúa ban, khi Người cho Đức Ki-tô làm Đầu chúng ta không ? Anh em hãy cảm phục và vui mừng, chúng ta đã trở nên Đức Ki-tô. Quả thế, nếu Người là Đầu và chúng ta là chi thể, thì con người đầy đủ chính là Đức Ki-tô cộng với chúng ta .... Sự viên mãn của Đức Ki-tô chính là Đầu cùng với chi thể. Đầu nào? Chi thể nào? Đó là Đức Ki-tô và Hội Thánh" (x.T. Augustinô chú giải Tin Mừng thánh Gioan 21,8).

"Đấng Cứu Chuộc chúng ta đã xuất hiện như một người duy nhất với Hội Thánh mà Người đã đảm nhận làm thân thể Người" (x.T. Ghê-gô-ri-ô, cả bài giảng luân lý trong sách Gióp l,6,4).

l474
"Đầu và các chi thể làm nên một ngôi vị thần bí" (x.T. Tô-ma Aquinô, tổng luận thần học 3,48,2,ad l-7).

Một câu nói của Thánh Giăn-Đắc trước toà án tóm tắt niềm tin của các thánh tiến sĩ và cũng diễn tả lương tri của người tín hữu "Đức Ki-tô và Hội Thánh chỉ là một, đừng thắc mắc chi hết" (x.T. Gian-Đa, hồ sơ toà án).

Hội Thánh là Hiền Thê của Đức Ki-tô

796 757 219 772 1602 1616.
Sự hiệp nhất giữa Đức Ki-tô và Hội Thánh, giữa Đầu và các chi thể của Thân Thể, cũng bao trùm có sự phân biệt giữa hai bên trong một tương quan cá vị. Khía cạnh này thường được diễn tả qua hình ảnh Phu Quân và Hiền Thê. Đề tài Đức Ki-tô Phu Quân của Hội Thánh đã dược các ngôn sứ chuẩn bị và Gio-an Tẩy Giả báo trước (x. Ga 3,29). Chính Chúa Giê-su cũng tự xưng là "hôn phu" (Mc 2, 19) (x. Mt 22,1-14; 25,1-13). Thánh Phao-lô giới thiệu Hội Thánh và mỗi tín hữu, chi thể của Thân Thể, như Hiền Thê "được đính hôn" với Đức Ki-tô để nên cùng một Tinh Thần với Người (x. 1Cr 6,15-17; 2Cr 11,2). Hội Thánh là Hiền Thê không tì vết của Con Chiên tinh tuyền (x. Kh 22,17; Ep 1,4; 5,27), Hiền Thê mà Đức Ki-tô yêu mến và hiến mạng sống để "thánh hoá" (Ep 5,26). Người liên kết với Hội Thánh bằng một giao ước vĩnh cửu, và không ngừng chăm sóc Hội Thánh như chính Thân Thể mình (x. Ep 5,29).

"Đây là Đức Ki-tô toàn diện, Đầu và thân thể, "nhiều" thành "một" ....Đầu nói, hay các chi thể nói, cũng là Đức Ki-tô nói :Người nói với tư cách là Đầu hay với tư cách là Thân Thể. Sách Thánh nói thế nào? "Cả hai sẽ thành một xương một thịt. Mầu nhiệm này thật là cao cả. Tôi muốn nói về Đức Ki-tô và Hội Thánh" (Ep 5, 3l-32). Và chính Chúa Giê-su cũng nói trong Tin Mừng: "Không còn là hai, nhưng chỉ là một xương một thịt" (Mt l9,6). Như anh em đã thấy, thật sự thì có hai người khác nhau, nhưng cả hai đã nên một khi thành vợ thành chồng .... Với tư cách là Đầu, Người tự xưng là "Phu quân"; với tư cách là Thân Thể, Người tự xưng là "Hiền thê" (x.T.Augustinô, chú giải thánh vịnh 74,4).

III. HỘI THÁNH là ĐỀN THỜ của CHÚA THÁNH THẦN

797 813 586.
"Tinh thần hay linh hồn tương quan với chi thể thế nào thì Chúa Thánh Thần cũng như thế đối với các chi thể của Đức Ki-tô, với Thân thể Người, là Hội Thánh" (T.Âu-tinh, bài giảng 267,4). "Chính nhờ Thánh Thần của Đức Ki-tô, như một nguyên lý tiềm ẩn, mà tất cả các phần của Thân Thể được nối kết với nhau cũng như với Đầu, vì Người hiện diện trọn vẹn nơi Đầu, trọn vẹn nơi Thân thể, trọn vẹn nơi mỗi một chi thể" (x. Pi-ô XII, Thông diêp Thánh Thể; DS 3808). Chúa Thánh Thần làm cho Hội Thánh trở nên "Đền Thờ của Thiên Chúa hằng sống" (2 Cr 6,16) (x. 1Cr 3,16-17; Ep 2,21).

Hồng ân Thiên Chúa được uỷ thác cho Hội Thánh. Nơi Hội Thánh, Thiên Chúa cho chúng ta hiệp thông với Đức Ki-tô, nghĩa là được nhận lãnh Chúa Thánh Thần, Đấng bảo đảm chúng ta sẽ được sống đời đời, củng cố đức tin và làm thang đưa chúng ta lên tới Thiên Chúa ... Vì ở đâu có Hội Thánh,thì ở đó có Thánh Thần của Thiên Chúa; và ở đâu có Thánh Thần của Thiên Chúa, ở đó có Hội Thánh và mọi thứ ân sủng (T.I-rê-nê, chống lạc giáo, 3,24,l).

798 737 1091-1109 791.
Chúa Thánh Thần là "nguyên lý của mọi hành động tác sinh và thật sự cứu độ trong từng thành phần của Thân Thể" (Pi-ô XII, "Thông điệp Thánh Thể : DS 3808"). Bằng nhiều cách, Người xây dựng toàn thân trong bác ái (x. Ep 4,l6), bằng Lời Thiên Chúa, "Lời có khả năng xây dựng" (Cv 20,32); bằng bí tích Thánh Tẩy, tạo nên Thân Thể Đức Ki-tô (x. 1Cr l2,l3-9); bằng các bí tích giúp các chi thể lớn lên và được chữa lành; bằng "ân sủng được trao ban cho các tông đồ, ân sủng vượt trên các ân sủng khác" (LG 7); bằng các nhân đức, giúp các tín hữu hành động theo sự lành, và cuối cùng bằng những "đặc sủng" giúp các tín hữu "có đủ khả năng, sẵn lòng đảm nhận các công việc và nhiệm vụ khác nhau, để mưu ích cho việc canh tân, xây dựng và phát triển Hội Thánh" (LG 12-AA 3).


Các đặc sủng

799 951, 2003.
Dù là phi thường, hay đơn giản và khiêm tốn , các đặc sủng là những ân huệ của Chúa Thánh Thần, trực tiếp hay gián tiếp đều nhằm lợi ích cho Hội Thánh, để xây dựng Hội Thánh, mưu ích cho loài người và đáp ứng những nhu cầu của thế giới.

800.
Người thụ lãnh cũng như tất cả các chi thể của Hội Thánh, phải đón nhận các đặc sủng với lòng tri ân. Đó là nguồn ân sủng phong phú kỳ diệu cho sức sống tông đồ và cho sự thánh thiện của tất cả Thân Thể Đức Ki-tô, với điều kiện những ân sủng đó phải thực sự xuất phát từ Chúa Thánh Thần, và được sử dụng hoàn toàn phù hợp với những thúc đẩy của Người, nghĩa là theo đức ái, khuôn vàng, thước ngọc cho tất cả các đặc sủng (x. 1Cr 13).

801 894 l905.
Theo chiều hướng này, Hội Thánh luôn cần nhận định các đặc sủng. Không đặc sủng nào cho phép tín hữu khỏi phải tôn trọng và tuân phục các Mục Tử của Hội Thánh. "Các ngài có nhiệm vụ đặc biệt phải thử thách tất cả, không phải để dập tắt Thánh Thần, nhưng để giữ lại những điều thiện hảo", nhằm phối hợp tất cả các đặc sủng trong sự khác biệt và bổ sung lẫn nhau, "vì lợi ích chung" ( 1Cr 12,7; LG 30; CL 24).

TÓM LƯỢC

802.     "Đức Giê-su Ki-tô đã tự hiến vì chúng ta, để cứu chuộc chúng ta thoát khỏi mọi điều bất chính, và để thanh luyện chúng ta thành Dân riêng của Người" (Tt 2,l4).
803.     "Anh em là giống nòi được tuyển chọn, là hoàng tộc chuyên lo tế tự, là dân thánh, dân riêng của Thiên Chúa" (1Pr 2,9).

804.     Chúng ta gia nhập Dân Thiên Chúa bằng đức tin và phép rửa. "Tất cả mọi người đều được gọi gia nhập dân Thiên Chúa" (LG 13), hầu trong Đức Ki-tô "loài người họp thành một gia đình duy nhất và một Dân duy nhất của Thiên Chúa" (AG 1).

805.     Hội Thánh là Thân Thể của Đức Ki-tô. Đức Ki-tô chết và phục sinh làm cho cộng đoàn tín hữu thành Thân Thể của mình, nhờ Chúa Thánh Thần và tác động của Người trong các Bí tích, nhất là bí tích Thánh Thể.

806.     Trong sự hiệp nhất của Thân Thể này, có nhiều chi thể và chức vụ khác nhau. Tất cả các chi thể đều được liên kết với nhau, nhất là với những người đau khổ, những người nghèo và những người bị bách hại.

807.     Hội Thánh là Thân Thể mà Đức Ki-tô là Đầu. Hội Thánh sống nhờ Người, trong Người, và cho Người; Người sống với Hội Thánh và trong Hội Thánh.

808.     Hội Thánh là Hiền Thê của Đức Ki-tô: Người yêu mến Hội Thánh và đã hiến mình vì Hội Thánh. Người đã thanh luyện Hội Thánh bằng Máu Người. Người làm cho Hội Thánh trở nên Mẹ, sinh ra tất cả con cái của Thiên Chúa.

809.     Hội Thánh là Đền Thờ của Chúa Thánh Thần. Chúa Thánh Thần là linh hồn của Nhiệm Thể, là nguyên lý của sự sống, của hiệp nhất trong khác biệt, của các ân huệ và đặc sủng phong phú trong Hội Thánh.

810.     "Như thế Hội Thánh phổ quát xuất hiện như một Dân được hiệp nhất nhờ sự hiệp nhất giữa Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần" (LG 4; trích dẫn T. Síp-ri-a-nô).


Tiết 3: GIÁO HỘI DUY NHẤT, THÁNH THIỆN,
CÔNG GIÁO VÀ TÔNG TRUYỀN

811 750 832, 865.
"Trong kinh Tin Kính, chúng ta tuyên xưng Hội Thánh là duy nhất, thánh thiện, công giáo và tông truyền" (LG 8). Bốn thuộc tính bất khả phân ly này (DS 2888) cho thấy những nét cốt yếu và sứ mạng của Hội Thánh. Hội Thánh không tự mình có được các thuộc tính ấy; chính Chúa Ki-tô, nhờ Thánh Thần, cho Hội Thánh được duy nhất, thánh thiện công giáo và tông truyền. Cũng chính Người mời gọi Hội Thánh thể hiện các thuộc tính ấy.

812 156,770.
Chỉ có đức tin mới nhận thấy các thuộc tính của Hội Thánh xuất phát từ nguồn mạch thần linh. Nhưng những biểu hiện lịch sử của các thuộc tính ấy là những dấu chỉ rõ ràng đối với lý trí loài người. Công Đồng Va-ti-ca-nô I nhắc rằng : "Căn cứ vào sự thánh thiện, sự duy nhất mang tính công giáo và sự tồn tại vững bền của Hội Thánh, Hội Thánh tự mình cũng đã là lý do mạnh mẽ và thường xuyên để đáng được tin, là bằng chứng không thể phi bác được về sứ mạng thần linh của mình" (DS 3013).

I. GIÁO HỘI DUY NHẤT

"Mầu nhiệm thánh thiêng về tính duy nhất của Hội Thánh" (x. UR 2)

813 172 797 766.
Căn cứ vào nguồn gốc, Hội Thánh phải duy nhất : "Mẫu mực tối cao và nguyên lý của mầu nhiệm này là sự hiệp nhất trong Ba Ngôi của một Thiên Chúa duy nhất : Chúa Cha và Chúa Con trong Chúa Thánh Thần" (x. UR 2). Căn cứ vào Đấng Sáng Lập, Hội Thánh phải duy nhất : "Vì chính Chúa Con nhập thể đã dùng thập giá để hòa giải mọi người với Thiên Chúa, tái lập sự hiệp nhất mọi người thành một dân tộc và một thân thể" (x. GS 78,3). Căn cứ vào Thánh Thần, Hội Thánh phải duy nhất : "Chúa Thánh Thần ngự trong lòng các tín hữu, hiện diện và chi phối trong toàn Hội Thánh, thực hiện sự thông hiệp kỳ diệu ấy nơi các tín hữu và liên kết tất cả trong Chúa Ki-tô cách mật thiết đến nỗi Người là nguyên lý hiệp nhất của Hội Thánh" (x. UR 2). Vì vậy, theo bản chất, Hội Thánh là duy nhất :

"Mầu nhiệm lạ lùng thay! Vũ trụ có một Cha duy nhất; một Ngôi Lời duy nhất và một Thánh Thần duy nhất, đâu cũng thế; chỉ có một người mẹ đồng trinh duy nhất mà tôi thích gọi là Hội Thánh" ( T.Cờ-lê-men-tê A-lê-xan-ri-a, giáo huấn 1,6).

814 791, 873 1202 832.
Ngay từ khởi đầu, Hội Thánh duy nhất này cũng rất đa dạng. Tính đa dạng này phát xuất từ những ân huệ khác nhau của Thiên Chúa cũng như từ số đông người lãnh nhận các ân huệ ấy. Dân Thiên Chúa duy nhất quy tụ nhiều dân tộc và nhiều văn hóa khác nhau. Giữa các thành phần của Hội Thánh vẫn có những ân huệ, những chức vụ, những hoàn cảnh và những lối sống khác nhau; "ngay trong sự hiệp thông của Hội Thánh, cũng có sự hiện diện chính đáng của những Hội Thánh địa phương, thừa hưởng những truyền thống riêng" (LG 13). Sự đa dạng làm cho Hội Thánh thêm phong phú và không nghịch lại sự hiệp nhất. Tuy nhiên tội lỗi và hệ quả nặng nề của nó không ngừng đe dọa ơn hiệp nhất. Vì thế thánh Phao-lô đã khuyên : "Anh em hãy thiết tha duy trì sự hiệp nhất mà Thánh Thần đem lại, bằng cách ăn ở thuận hòa gắn bó với nhau" (Ep 4,3).

815 1827 830 , 837.
Đâu là những mối dây liên kết tạo sự hiệp nhất trong Hội Thánh? "Trên hết là đức ái: mối dây liên kết tuyệt hảo" (Cl 3,14). Sự hiệp nhất của Hội Thánh lữ hành còn được bảo đảm bằng những dây liên kết hữu hình :
173
 -Tuyên xưng một đức tin duy nhất nhận được từ các tông đồ;
 -Cử hành chung việc phụng tự dâng lên Thiên Chúa, nhất là các bí tích;
 -Kế nhiệm tông đồ qua bí tích Truyền Chức Thánh để giữ gìn sự hòa hợp huynh đệ của gia đình Thiên Chúa (x.UR 2; LG 14, CIC can 205)

816.     "Hội Thánh duy nhất của Đức Ki-tô... là Hội Thánh mà Đấng Cứu Chuộc chúng ta, sau khi phục sinh, đã trao phó cho Phê-rô chăn dắt. Người phó thác cho Phê-rô cũng như cho các tông đồ khác truyền bá, cai quản ... Như là một xã hội được thiết lập qui củ trên thế gian, Hội Thánh ấy được thể hiện nơi Hội Thánh Công Giáo do vị kế nhiệm Phê-rô và các giám mục hiệp thông với Ngài điều khiển" (LG 8).

830.     Sắc lệnh về Hiệp Nhất của Công Đồng Va-ti-ca-nô II nói rõ : "Chỉ nhờ Hội Thánh Công Giáo của Chúa Ki-tô" là "phương thế cứu độ chung", mới có thể đạt được đầy đủ các phương tiện cứu độ. Vì chúng tôi tin, Chúa đã ủy thác tất cả sản nghiệp Tân Ước cho cộng đoàn tông đồ do Phê-rô lãnh đạo, để tạo thành một Thân Thể duy nhất của Chúa Ki-tô ở trần gian. Tất cả những ai đã thuộc về Dân Chúa một cách nào đó, đều phải tháp nhập vào Thân Thể ấy" (UR 3).

Những viết thương của sự hiệp nhất

817 2089.
Thực ra "ngay từ buổi sơ khai, trong Hội Thánh độc nhất và duy nhất của Thiên Chúa, đã xuất hiện ít nhiều rạn nứt mà thánh Phao-lô đã nặng lời quở trách như là đáng lên án. Trong các thời đại kế tiếp, phát sinh nhiều phân rẽ trầm trọng hơn và nhiều công đoàn đáng kể đã hoàn toàn ly khai khỏi sự hiệp thông với Hội Thánh Công Giáo, đôi khi tại lỗi của những người ở cả hai bên" ( x. UR 3). Những đoạn tuyệt làm tổn thương sự hiệp nhất của Nhiệm Thể Chúa Ki-tô (lạc giáo, bội giáo và ly giáo) ( x. CIC can 75l) đã do tội lỗi con người gây ra :

"Ở đâu có tội lỗi, ở đó có chia rẽ, ly giáo, lạc giáo, có tranh chấp. Trái lại, ở đâu có nhân đức, ở đó có hiệp nhất, có hoà hợp làm cho tất cả các tín hữu chỉ còn là một thân thể và một linh hồn" ( O-ri-gê-nê, chú giải đoạn Êdêkien 9,1).

818 1271.
"Ngày nay những người sinh trưởng trong các cộng đoàn ly khai ấy, và thấm nhuần đức tin nơi Chúa Ki-tô, không thể bị kết tội chia rẽ. Hội Thánh Công Giáo kính trọng, yêu thương họ như anh em .... Một khi đã được công chính hóa nhờ đức tin khi chịu Phép Rửa tội, họ đã được tháp nhập vào Chúa Ki-tô, và vì thế có quyền mang danh Ki-tô hữu, xứng đáng được con cái của Hội Thánh Công giáo nhìn nhận là anh em trong Chúa" (UR 3).


819.     Hơn nữa có "nhiều yếu tố thánh hóa và chân lý"(x. LG 8) không nằm trong giới hạn hữu hình của Hội Thánh Công Giáo như : "Lời Chúa ghi chép trong Thánh Kinh, đời sống trong ơn thánh, đức tin, cậy, mến, và các ơn nội tâm do Thánh Thần ban, cùng những yếu tố hữu hình khác" (x. UR 3; LG 15). Thánh Thần của Đức Ki-tô dùng những Giáo Hội và cộng đoàn ấy như những phương tiện cứu độ có sức mạnh xuất phát từ sự sung mãn của ân sủng và của sự thật mà Đức Ki-tô đã giao phó cho Hội Thánh Công Giáo. Tất cả những điều thiện hảo đó đều xuất phát từ Đức Ki-tô và dẫn đến Đức Ki-tô (x. UR 3), nên chúng đòi hỏi mọi Ki-tô hữu phải tiến đến "sự hiệp nhất Công Giáo" (LG 8).

Tiến đến hiệp nhất

820 2748.
"Đức Ki-tô từ ban đầu đã rộng ban cho Hội Thánh ơn hiệp nhất. Chúng tôi tin rằng sự hiệp nhất ấy tồn tại mãi trong Hội Thánh Công Giáo và chúng tôi hy vọng sự hiệp nhất ngày càng phát triển cho đến ngày tận thế" (x. UR 4). Đức Ki-tô vẫn luôn luôn ban cho Hội Thánh ơn hiệp nhất, nhưng Hội Thánh phải luôn luôn cầu nguyện và hành động để duy trì, tăng cường và hoàn chỉnh sự hiệp nhất như Đức Ki-tô muốn. Vì thế, chính Chúa Giê-su cầu nguyện trong giờ khổ nạn và không ngừng cầu xin Chúa Cha cho các môn đệ được hiệp nhất : "Xin cho tất cả nên một! Lạy Cha, như Cha ở trong Con và Con ở trong Cha, xin cho họ cũng được ở trong chúng ta, để thế gian tin rằng Cha đã sai Con" (Ga 17,21). Ước mong tìm lại sự hiệp nhất của tất cả các Ki-tô hữu là ơn của Đức Ki-tô và lời mời gọi của Chúa Thánh Thần (UR l).

821.     Để đáp lại lời mời gọi hiệp nhất của Chúa Thánh Thần, Hội Thánh cần :
 - canh tân thường xuyên để ngày càng trung thành hơn với ơn gọi của mình. Sự canh tân này là động lực của phong trào hiệp nhất (x. UR 6).
827. - hoán cải nội tâm "để sống phù hợp hơn với Tin Mừng" (UR 7), vì chính sự bất trung với hồng ân của Đức Ki-tô sẽ gây chia rẽ giữa các chi thể;
279. - cầu nguyện chung, vì "sự hoán cải tâm hồn và đời sống thánh thiện cùng với những lời kinh chung hoặc riêng cầu cho sự hiệp nhất các Ki-tô hữu, phải được coi như là linh hồn của mọi phong trào đại kết và xứng đáng mệnh danh là" đại kết thiêng liêng" (UR 8);
 - hiểu biết nhau trong tình huynh đệ (x. UR 9);
 - đào tạo các tín hữu, nhất là các linh mục theo hướng đại kết (x. UR l0);
- đối thoại giữa các nhà thần học, gặp gỡ giữa các Ki-tô hữu của các Hội Thánh và các cộng đoàn khác nhau (x. UR 4; 9; 11).
 - Hợp tác giữa các Ki-tô hữu trong các lãnh vực khác nhau để phục vụ con người (x. UR 12).

822.     Mối bận tâm tái lập hiệp nhất "liên hệ đến toàn thể Hội Thánh, tín hữu cũng như mục tử" (UR 5). Nhưng cũng cần ý thức rằng "ý nguyện thánh thiện muốn giao hòa toàn thể Ki-tô hữu trong sự hiệp nhất của Hội Thánh duy nhất và độc nhất của Chúa Ki-tô, vượt quá sức lực và khả năng loài người". Vì thế, chúng ta đặt hết hy vọng "vào lời Chúa Ki-tô nguyện cầu cho Hội Thánh, vào tình thương của Chúa Cha đối với chúng ta và vào quyền lực của Chúa Thánh Thần" (UR 24).

II. GIÁO HỘI  THÁNH THIỆN



823 459 796 946.       
"Chúng tôi tin Hội Thánh ... mãi mãi thánh thiện. Thật vậy, Chúa Ki-tô, Con Thiên Chúa, Đấng cùng với Chúa Cha và Chúa Thánh Thần, được ca tụng là "Đấng Thánh duy nhất", đã yêu dấu Hội Thánh như Hiền Thê của mình và đã hiến thân để thánh hóa Hội Thánh. Người kết hiệp với Hội Thánh như Thân Thể mình, và ban cho dư đầy ơn Thánh Thần để làm vinh danh Thiên Chúa" (x. LG 39). Vì thế Hội Thánh là "Dân Thánh của Thiên Chúa" (x. LG 12) và các thành viên của Hội Thánh được gọi là "thánh" (x Cv 9,13; 1Cr 6,1;16,1).

824 816.         
Nhờ kết hiệp với Đức Ki-tô, Hội Thánh được Người thánh hóa. Nhờ Người và trong Người, Hội Thánh cũng thánh hóa. "Tất cả các công việc của Hội Thánh đều hướng về cứu cánh là thánh hóa loài người trong Đức Ki-tô và tôn vinh Thiên Chúa" (x. SC 10). Hội Thánh được ủy thác "đầy đủ các phương tiện cứu độ" (x. UR 3). Chính trong Hội Thánh, "chúng ta đạt đến sự thánh thiện nhờ ơn Thiên Chúa" (LG 48).

825 670 2013.
"Dưới thế, Hội Thánh được trang điểm bằng một sự thánh thiện đích thật, tuy chưa hoàn hảo" (x. LG 48). Nhưng các chi thể của Hội Thánh còn phải phấn đấu để đạt tới sự thánh thiện hoàn hảo : "Được ban cho những phương tiện cứu rỗi dồi dào và cao cả như thế, mọi Ki-tô hữu, dù ở địa vị nào, bậc sống nào, đều được Chúa kêu gọi đạt tới sự thánh thiện trọn hảo như sự trọn hảo của Chúa Cha, mỗi người trong con đường của mình" (LG 11).



826 1827, 2658.
Đức ái là linh hồn của sự thánh thiện mà Thiên Chúa mời gọi tất cả chúng ta đạt đến : "Đức ái chi phối mọi phương thế nên thánh, là linh hồn của chúng và đưa chúng đến cùng đích" (LG 42).

864.     "Tôi hiểu rằng nếu Hội Thánh có một thân thể gồm nhiều bộ phận, thì trái tim là bộ phận cần thiết nhất, bộ phận cao quý nhất không thể thiếu được. Tôi hiểu rằng Hội Thánh có một trái tim và trái tim ấy cháy lửa yêu mến. Tôi hiểu rằng chỉ có tình thương khiến cho các chi thể Hội Thánh hoạt động, và nếu thiếu Tình thương, các tông đồ sẽ không loan báo Tin Mừng nữa, các vị Tử đạo sẽ không chịu đổ máu mình nữa. Tôi hiểu rằng TÌNH THƯƠNG CƯU MANG TẤT CẢ CÁC ƠN GỌI, TÌNH THƯƠNG LÀ TẤT CẢ, TÌNH THƯƠNG BAO TRÙM MỌI THỜI ĐẠI VÀ MỌI NƠI CHỐN(...) TÓM LẠI, TÌNH THƯƠNG LÀ VĨNH CỬU (T.Tê-rê-sa Hài Đồng Giê-su, Tự thuật B 3v).

827 1425- 1429 821.
"Chúa Ki-tô "thánh thiện, vô tội, tinh tuyền" ( x. Dt 7,26) không hề phạm tội ( x. 2Cr 5,21 ), chỉ đến để đền tội cho dân ( x. Dt 2,17); còn Hội Thánh, vì ôm ấp trong lòng những kẻ tội lỗi, nên vừa thánh thiện vừa phải luôn thanh luyện mình. Do đó, Hội Thánh luôn nỗ lực sám hối và canh tân" ( x. LG 8;UR 3;6). Tất cả các chi thể của Hội Thánh, kể cả các thừa tác viên, phải tự nhận là người tội lỗi ( x. 1Ga 1,8-10). Trong tất cả mọi người, cỏ lùng tội lỗi còn lẫn lộn với lúa tốt của Tin Mừng cho đến tận thế ( x Mt 13,24-30). Do đó, Hội Thánh quy tụ những người tội lỗi đã được lãnh nhận ơn cứu độ của Chúa Ki-tô, nhưng còn đang trên đường thánh hóa :
"Dù còn mang trong mình những người tội lỗi, Hội Thánh vẫn thánh thiện, vì Hội Thánh không có sự sống nào khác ngoài sự sống ân sủng : chính khi sống đời sống của Hội Thánh, các thành viên của Hội Thánh được thánh hóa; tách khỏi sự sống này, họ rơi vào tội lỗi và hỗn loạn, ngăn cản Hội Thánh chiếu tỏa sự thánh thiện cho thế giới. Dù có quyền giải thoát con cái mình khỏi tội nhờ Máu Đức Ki-tô và hồng ân của Thánh Thần, Hội Thánh vẫn phải chịu đau khổ và đền bù những lỗi phạm ấy (x. SPF 19).

828 1173 2045.
Khi phong thánh cho một số tín hữu, nghĩa là khi long trọng tuyên bố họ đã thực hành một cách anh dũng các nhân đức và đã sống trung thành với ân sủng Chúa, Hội Thánh nhìn nhận quyền năng của Thần Linh thánh thiện ngự trị trong Hội Thánh và nâng đỡ niềm hy vọng của các tín hữu, bằng cách giới thiệu cho họ những gương mẫu và người chuyển cầu (x. LG 4O;48-5l). "Các thánh nam nữ luôn là nguồn mạch và là khởi điểm của sự canh tân trong những thời điểm khó khăn nhất của lịch sư Hội Thánh" (x. CL 16,3). Quả thế, "sự thánh thiện là nguồn mạch bí ẩn và là khuôn vàng thước ngọc cho hoạt động tông đồ và sự nhiệt tình truyền giáo của Hội Thánh" (CL 17,3).

829 1172 972.
"Nơi Đức Trinh Nữ Ma-ri-a, Hội Thánh đã đạt tới sự toàn thiện, trở nên không vết nhăn, không tì ố, nhưng các Ki-tô hữu còn phải cố gắng chiến thắng tội lỗi, để tiến trên con đường thánh thiện; vì thế, họ ngước nhìn lên Đức Ma-ri-a" (x. LG 65): nơi Đức Mẹ, Hội Thánh thực sự thánh thiện rồi.



III. HỘI THÁNH CÔNG GIÁO

Công Giáo là gì?

830.     "Công Giáo" là "phổ quát" theo nghĩa "toàn diện" hay "toàn vẹn". Hội Thánh là Công Giáo theo hai nghĩa:

795 815- 816
Hội Thánh là công giáo vì Đức Ki-tô hiện diện trong Hội Thánh "Ở đâu có Đức Ki-tô, ở đó có Hội Thánh Công Giáo" ( x. T I-nha-xi-ô An-ti-ô-ki-a 8,2). Nơi Hội Thánh hiện hữu Thân Thể Đức Ki-tô trọn vẹn, kết hợp với Đầu ( x. Ep 1,22-23) , vì tiếp nhận từ Người "trọn vẹn các phương tiện cứu độ" ( x. AG.6) theo ý Người muốn : tuyên xưng đức tin chân thật và đầy đủ, đời sống bí tích toàn vẹn và thừa tác viên được thụ phong để liên tục kế nhiệm các tông đồ. Theo ý nghĩa căn bản này, Hội Thánh là công giáo trong ngày lễ Ngũ Tuần và mãi mãi là công giáo cho đến ngày Chúa quang lâm.

831 849.
Hội Thánh là công giáo vì được Đức Ki-tô sai đến với toàn thể nhân loại ( x. Mt 28,19):

360 518.
"Mọi người được mời gọi gia nhập Dân của Thiên Chúa. Vì thế, Dân mới này, một Dân hiệp nhất và duy nhất, có bổn phận phải lan rộng khắp thế giới trải qua mọi thế hệ, hầu hoàn tất kế hoạch của thánh ý Thiên Chúa, Đấng từ nguyên thủy đã tạo dựng một bản tính nhân loại duy nhất, và quyết định sau này tập họp về một mối tất cả con cái tản mác của Người... Đặc tính "phổ quát" này, rực sáng trên Dân Thiên Chúa, là một ân huệ do chính Thiên Chúa ban, nhờ đó Hội Thánh Công Giáo luôn nỗ lực cách hữu hiệu qui tụ toàn thể nhân loại cùng những gì tốt lành nơi họ dưới quyền một thủ lãnh là Chúa Ki-tô, trong sự hiệp nhất của Chúa Thánh Thần (LG 13).

Mỗi Giáo Hội địa phương cũng là "Công Giáo"

832 814 811.
"Hội Thánh Chúa Ki-tô thực sự hiện diện trong mọi tập thể tín hữu địa phương hợp pháp. Những tập thể này, vì hiệp nhất với các mục tử nên trong Tân Ước cũng được gọi là Hội Thánh. Nơi các tập thể đó, tín hữu được tụ họp lại nhờ sự rao giảng Tin Mừng Chúa Ki-tô và mầu nhiệm Tiệc Thánh Chúa được cử hành. Chúa Ki-tô vẫn hiện diện trong các cộng đoàn ấy, dù nhỏ bé nghèo hèn hay tản mác khắp nơi. Và nhờ thần lực Người, Hội Thánh được duy nhất, thánh thiện, công giáo và tông truyền" (LG 26).

833 886.
Giáo hội địa phương - trước hết là giáo phận hay giáo khu - là một cộng đoàn Ki-tô hữu hiệp thông trong đức tin và các bí tích với Giám Mục của họ đã được thụ phong do những vị kế nhiệm các tông đồ (x. CD.11; CIC, can 368-369). Các Giáo Hội địa phương "được thành lập theo hình ảnh Hội Thánh phổ quát; chính nhờ và trong các Giáo Hội ấy, mà có Hội Thánh công giáo duy nhất " (LG 23).

834 882, 1369.
Các Giáo Hội địa phương là công giáo trọn vẹn khi hiệp thông với Hội Thánh Rô-ma "giữ vai trò chủ tọa trong đức ái" (x.T. I-nha-xi-ô An-ti-ô-ki-a thơ Rm 1,1). "Vì nguồn gốc rất cao quý của Giáo Hội ấy, mọi Giáo Hội, nghĩa là mọi tín hữu ở khắp mọi nơi (x.T.I-rê-nê, chống lạc giáo 3,3,2; cđ Vatican I:DS 3057) đều phải hòa hợp với Giáo Hội ấy". "Quả thế, ngay từ khi Ngôi Lời nhập thể xuống với chúng ta, tất cả các Giáo Hội Ki-tô giáo ở khắp mọi nơi luôn coi Giáo Hội vĩ đại ở Rô-ma như nền tảng và cơ sở duy nhất, vì theo chính lời hứa của Đấng Cứu Độ, cửa địa ngục không bao giờ thắng được Giáo Hội ấy" (x.T.Mác-xi-mô, tiểu phẩm thần học và luận chứng).

835 1202.
"Hội Thánh phổ quát không được xem đơn giản là một tổng hợp hay một liên minh các Hội Thánh địa phương. Nhưng Hội Thánh phổ quát do ơn gọi và sứ mạng, vì đâm rễ trong những mảnh đất văn hóa, xã hội, dân tộc khác nhau, trong mỗi miền của trái đất, nên có những bộ mặt và những cách diễn tả khác nhau" (x. EN 62). Sự đa dạng rất phong phú về kỷ luật nghi thức phụng vụ, di sản thần học và thiêng liêng riêng của các Giáo Hội địa phương, "khi hướng về sự hiệp nhất, càng minh chứng đặc tính công giáo của một Hội Thánh không thể phân chia" (LG 23).

Ai thuộc về Hội Thánh Công Giáo

836 831.
"Mọi người đều được mời gọi vào sự hiệp nhất công giáo của Dân Thiên Chúa... Họ thuộc về hoặc hướng về sự hiệp nhất đó, dưới nhiều thể cách khác nhau : hoặc là các tín hữu công giáo hoặc là những người tin vào Đức Ki-tô, cuối cùng là tất cả mọi người không trừ một ai được Thiên Chúa kêu mời lãnh nhận ơn cứu độ " (LG 13).

837 771 815 882.
"Được kể là gia nhập hoàn toàn vào cộng đoàn Hội Thánh những ai nhận lãnh Thánh Thần Chúa Ki-tô, chấp nhận trọn vẹn tổ chức và các phương tiện cứu rỗi được thiết lập trong Hội Thánh; nhờ các mối liên lạc do việc tuyên xưng đức tin, các bí tích, việc cai trị Hội Thánh và sự hiệp thông, họ liên kết với Chúa Ki-tô trong tổ chức hữu hình mà Người điều khiển nhờ Đức Giáo Hoàng và các giám mục. Dù được tháp nhập vào Hội Thánh, nhưng nếu không kiên trì sống trong đức ái, thì vẫn không được cứu độ, vì tuy "thể xác" họ thuộc về Hội Thánh, nhưng "tâm hồn" họ không ở trong Hội Thánh" (LG 14).

838 818 l271 1399.
"Với những kẻ đã lãnh nhận Phép Rửa, mang danh hiệu Ki-tô hữu, nhưng không tuyên xưng đức tin trọn vẹn hoặc không hiệp thông với Đấng kế nhiệm thánh Phê-rô, Hội Thánh vẫn biết mình kết hiệp với họ vì nhiều lý do" (x. LG 15). "Những ai tin Chúa Ki-tô và đã lãnh nhận bí tích Thánh Tẩy thành sự thì cũng hiệp thông cách nào đó với Hội Thánh công giáo, tuy không hoàn toàn" (x. UR.3). Với các Hội Thánh chính thống, sự hiệp thông này sâu đậm đến nỗi "chỉ còn thiếu một chút nữa thôi, thì hai bên có quyền cử hành chung Thánh Lễ" (x. Paul VI, bài giảng 14-12 1975; x.UR 13-18).

Hội Thánh và những người ngoài Ki-tô giáo

839 856.
"Còn những ai chưa lãnh nhận Tin Mừng, cũng được an bài bằng nhiều cách để thuộc về Dân Thiên Chúa"(LG 16) :
63 147.
Tương quan giữa Hội Thánh và Dân Do Thái. Khi tìm hiểu kỹ càng mầu nhiệm của chính mình, Hội Thánh, Dân Thiên Chúa trong Giao Ước mới, khám phá ra mối liên hệ giữa mình với dân Do thái (x. NA 4) là dân đầu tiên được Thiên Chúa ngỏ lời (x. Sách lễ Rô-ma, thứ sáu tuần Thánh, lời nguyện chung số 6). Không như các tôn giáo khác ngoài Ki-tô giáo, đức tin Do Thái đã là lời đáp ứng mặc khải của Thiên Chúa trong Cựu Ước. "Chính dân Do Thái được Thiên Chúa nhận làm con, cho thấy vinh quang, ban tặng giao ước, lề luật, một nền phụng tự và các lời hứa. Họ là con cháu các tổ phụ; và sau hết chính Đức Ki-tô, xét theo huyết thống, cũng cùng một nòi giống với họ" (x. Rm 9,4-5), vì "khi Thiên Chúa đã ban ơn và kêu gọi, thì Người không hề đổi ý " (Rm 11,29).

840 674 597.
Mặt khác, khi nhìn về tương lai, Dân Thiên Chúa của Cựu Ước và Dân Mới của Thiên Chúa đều mong chờ Đấng Mê-si-a (đến hoặc trở lại). Nhưng Hội Thánh mong chờ sự trở lại của Đấng Mê-si-a đã chết và phục sinh, được nhìn nhận là Đức Chúa và là Con Thiên Chúa; còn dân Do Thái mong chờ một Đấng Mê-si-a không rõ nét, sẽ đến vào ngày tận thế, một sự mong chờ đầy bi thảm vì không biết và không nhận Đức Giê-su là Đấng Ki-tô.

841.     Tương quan giữa Hội Thánh và người Hồi Giáo. "Ý định cứu độ cũng còn bao gồm những ai nhận biết Đấng Sáng Tạo : trước tiên phải kể người Hồi Giáo, những người tự nhận là giữ đức tin của Áp-ra-ham; cùng với chúng ta, họ thờ phượng Thiên Chúa duy nhất, nhân từ, Đấng sẽ phán xét loài người trong ngày sau hết" (LG 16; NA.3).

842 360.
Liên hệ giữa Hội Thánh và các tôn giáo ngoài Ki-tô giáo trước hết căn cứ trên liên hệ giữa loài người với nhau, có cùng một nguồn gốc và một cứu cánh :

"Thật vậy, mọi dân tộc đều họp thành một cộng đoàn duy nhất, cùng chung một nguồn gốc, vì Thiên Chúa đã cho toàn thể nhân loại sinh sống trên khắp mặt địa cầu. Họ lại có cùng một mục đích tối hậu là Thiên Chúa, Đấng vẫn hằng trải rộng sự quan phòng, chứng tích lòng nhân hậu và ý định cứu độ cho hết mọi người, cho đến khi những người được chọn hiệp nhất với nhau trong Thành Thánh" (NA 1)

843 28 856.
Hội Thánh nhìn nhận các tôn giáo khác cũng đang tìm kiếm, "trong bóng tối và qua các hình tượng", Thiên Chúa mà họ không biết nhưng gần gũi, vì chính Người ban cho họ sự sống, hơi thở và tất cả mọi sự và vì Người muốn mọi người đều được cứu độ. Thành thử, Hội Thánh xem tất cả những gì tốt và thật trong các tôn giáo "như để chuẩn bị họ lãnh nhận Tin Mừng và như một hồng ân mà Đấng soi sáng mọi người ban cho, để cuối cùng họ được sống" (LG 16; x.NA 2; EN 53).

844 29.
Nhưng trong nếp sống tôn giáo, con người có những giới hạn và những sai lầm làm méo mó hình ảnh Thiên Chúa :
"Bị ma quỷ gạt gẫm con người thường phán đoán sai lạc, đánh đổi chân lý của Thiên Chúa lấy giả dối khi phụng sự loài thụ tạo hơn là Đấng Sáng Tạo hoặc liều mình rơi vào sự thất vọng tột độ, khi sống chết như không có Thiên Chúa trên đời này" (LG 16).

845 30 953 1219.
Để qui tụ lại tất cả con cái đã bị tội lỗi làm tản mác và lạc lối, Chúa Cha muốn tập họp toàn thể loài người trong Hội Thánh của Chúa Con. Hội Thánh là nơi loài người tìm lại sự hiệp nhất và ơn cứu độ. Hội Thánh là "thế giới đã được hòa giải" (x.T. Âu-tinh, bài giảng 96,7,9). Hội Thánh là "con tàu vượt biển trần gian, theo chiều gió của Chúa Thánh Thần, dưới cánh buồm lộng gió là Thánh Giá của Đức Chúa" (x.T.Am-bô-rô-si-ô, bàn về đức trinh khiết 18,118). Theo một hình ảnh khác quen thuộc với các giáo phụ, Hội Thánh còn được tượng trưng bằng con tàu của Nô-e, con tàu duy nhất cứu loài người thoát nạn Hồng Thủy (x.1Pr 3,20-21).

"Ngoài Hội Thánh không có ơn cứu độ"

846.     Lời khẳng định này đã được các giáo phụ nhắc đi nhắc lại, chúng ta phải hiểu thế nào? Lời khẳng định có nghĩa tích cực là mọi ơn cứu độ đều phát xuất từ Đức Ki-tô là Đầu, chảy tràn qua Hội Thánh là Thân Thể của Người :
161 1257.
"Dựa trên Thánh Kinh và Thánh Truyền, Công Đồng dạy rằng : Hội Thánh lữ hành này cần thiết cho ơn cứu độ. Quả thế, chỉ một mình Đức Ki-tô là trung gian và là đường cứu độ; và Người hiện diện giữa chúng ta trong Thân Thể Người là Hội Thánh; chính Người đã minh nhiên công bố sự cần thiết của đức tin và phép rửa nên đồng thời Người đã xác nhận sự cần thiết của Hội Thánh mà mọi người phải bước vào qua cửa phép rửa. Vì thế, những ai biết rằng Hội Thánh Công Giáo được Thiên Chúa thiết lập nhờ Đức Giê-su Ki-tô, như phương tiện cứu rỗi cần thiết mà vẫn không muốn gia nhập hoặc không muốn kiên trì sống trong Hội Thánh này thì không thể được cứu độ" (LG l4).

847.     Lời khẳng định này không nhắm tới những người, không vì lỗi mình mà không biết Đức Ki-tô và Hội Thánh của Người.

"Thực thế, những kẻ vô tình không nhận biết Tin Mừng của Chúa Ki-tô và Hội Thánh Người, nhưng nếu thành tâm tìm kiếm Thiên Chúa, và dưới tác động của ơn thánh, họ cố gắng chu toàn Thánh Ý Thiên Chúa trong công việc mình theo sự hướng dẫn của lương tâm thì họ có thể đạt tới ơn cứu độ muôn đời (LG 16; x.DS 3866-3872).

848 1260.
Dù Thiên Chúa có thể dùng những đường lối chỉ mình Người biết, để đưa những kẻ không vì lỗi mình mà chưa biết Tin Mừng đến với đức tin, "vì không có đức tin thì không thể làm vui lòng Người" (x. Dt 11,6), nhưng Hội Thánh có bổn phận và đồng thời có quyền thiêng thánh rao giảng Tin Mừng" (x. AG 7) cho tất cả mọi người.

Truyền giáo - Một đòi hỏi của tính công giáo của Giáo Hội

849 738, 767.
Lệnh truyền giáo. "Được Thiên Chúa sai đến muôn dân để nên "bí tích cứu độ phổ quát", Hội Thánh, do những đòi hỏi căn bản của tính công giáo, và vì mệnh lệnh của Đấng Sáng Lập, nhất quyết loan báo Tin Mừng cho hết mọi người" (x. AG 7). "Vậy anh em hãy đi đến với muôn dân, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ những điều Thầy đã truyền cho anh em để muôn dân trở nên môn đệ của Thầy. Và đây Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế" (Mt 28,19-20).

850 257 730.
Nguồn gốc và mục đích của truyền giáo. Lệnh truyền giáo của Chúa bắt nguồn từ tình yêu vĩnh cửu của Ba Ngôi Chí Thánh : "Tự bản chất, Hội Thánh lữ hành phải truyền giáo, vì chính Hội Thánh bắt nguồn từ sứ mạng của Chúa Con và Chúa Thánh Thần, theo ý định của Chúa Cha" (x. AG.2). Mục đích tối hậu của việc truyền giáo là làm cho loài người hiệp thông với Chúa Cha và Chúa Con trong Thánh Thần tình yêu (x. Gio-an Phao-lô II, RM.23) .

851 221,429 74,217 890.
Lý do của truyền giáo. Hội Thánh luôn nhận lấy bổn phận và nhiệt tình truyền giáo từ chính tình yêu Thiên Chúa đối với tất cả mọi người : "Vì tình yêu Đức Ki-tô thôi thúc chúng tôi" (2 Cr 5,l4) (x. AA 6; RM 11). Quả thế, "Thiên Chúa muốn cho mọi người được cứu độ và đạt tới sự nhận biết chân lý" (1 Tm 2,4). Thiên Chúa muốn tất cả mọi người được cứu độ nhờ nhận biết chân lý. Trong chân lý có ơn cứu độ. Những ai để cho Thần Chân Lý thúc đẩy thì đã ở trên đường cứu độ. Vì đã được ủy thác chân lý, Hội Thánh phải nắm bắt khát vọng của con người để mang chân lý đến cho họ. Vì tin vào ý định cứu độ phổ quát của Thiên Chúa, nên Hội Thánh phải truyền giáo.

852 2040 2473.
Những con đường truyền giáo. "Chúa Thánh Thần là người chủ xướng mọi công cuộc truyền giáo của Hội Thánh" (x. RM.21), chính Người dìu dắt Hội Thánh trên các nẻo đường truyền giáo. "Hội Thánh tiếp tục và triển khai qua dòng lịch sử sứ mạng của chính Chúa Ki-tô, Đấng được cử đến rao giảng Tin Mừng cho người nghèo khó. Được Thánh Thần Chúa Ki-tô thúc đẩy, Hội Thánh cũng phải tiến bước trên chính con đường Chúa Ki-tô đã đi là nghèo khó, vâng lời, phục vụ và tự hiến cho đến chết, để rồi toàn thắng nhờ sự sống lại của Người" (x. AG 5). Chính như thế mà "máu các thánh tử đạo là hạt giống trổ sinh Ki-tô hữu" (Te-tu-li-a-nô, Hộ Giáo 50).


853 1428 2443.
Nhưng trên đường lữ hành, Hội Thánh cũng kinh nghiệm rằng "có một khoảng cách giữa sứ điệp Hội Thánh phải rao giảng và sự yếu hèn của những con người được ủy thác Tin Mừng" (x. GS.43,6). Chỉ trên con đường "sám hối và canh tân" (x. LG.8; x.15) và "qua cửa hẹp Thập Giá" (x. AG.1), Dân Thiên Chúa mới có thể mở rộng Nước Chúa Ki-tô (x. RM.12-20). "Cũng như Chúa Ki-tô chỉ thực hiện công trình cứu chuộc trong nghèo khó và bị bách hại, Hội Thánh cũng được mời gọi dấn bước trên con đường ấy, để thông ban cho loài người những thành quả của ơn cứu độ" (LG 8).

854 2105 204.
Do chính sứ mạng, "Hội Thánh đồng hành với toàn thể nhân loại và cùng chia sẻ số phận với thế giới. Hội Thánh như men và hồn của xã hội loài người. Xã hội này được mời gọi đổi mới trong Đức Ki-tô và trở thành gia đình của Thiên Chúa" (x. GS.40,2). Nỗ lực truyền giáo đòi hỏi sự kiên nhẫn. Nỗ lực đó bắt đầu bằng việc rao giảng Tin Mừng cho các dân tộc và các nhóm người chưa tin vào Chúa Ki-tô (x. RM.42-47); tiếp đến là thiết lập những cộng đoàn Ki-tô hữu thật sự "là dấu chỉ sự hiện diện của Thiên Chúa trên trần gian" (x. AG.l5) ; và thành lập những Giáo Hội địa phương (x. RM.48-49). Nỗ lực ấy phải dẫn đến một tiến trình hội nhập văn hóa, nhằm mục đích làm cho Tin Mừng nhập thể trong nền văn hóa các dân tộc (x. RM.52-54); công cuộc này cũng thường gặp thất bại. "Đối với con người các đoàn thể hay dân tộc, Hội Thánh chỉ tiếp xúc và thâm nhập dần dần và như thế đảm nhận họ vào hưởng sự sung mãn công giáo" (AG 6).

855 821.
Sứ mạng của Hội Thánh mời gọi các Ki-tô hữu cố gắng tiến đến sự hiệp nhất (x. RM.50). "Sự chia rẽ giữa các Ki-tô hữu ngăn trở Hội Thánh thực hiện đầy đủ tính công giáo đặc thù của mình nơi những con cái đã chịu phép Thánh Tẩy, nhưng còn xa cách, chưa hoàn toàn thông hiệp với Hội Thánh. Hơn nữa, chính Hội Thánh cũng khó diễn tả đầy đủ tính công giáo của mình trong đời sống thực tế" (UR 4).

856 839 843.
Nhiệm vụ truyền giáo bao hàm một sự đối thoại trân trọng với những ai chưa chấp nhận Tin Mừng (x. RM.55). Các tín hữu có thể tiếp nhận nhiều điều bổ ích cho mình từ cuộc đối thoại này nhờ học biết thêm "tất cả những gì là chân lý và ân sủng đã có nơi các dân tộc như một sự hiện diện thầm kín của Thiên Chúa" (x. AG.9). Các tín hữu rao giảng Tin Mừng cho những ai chưa biết, là để củng cố, bổ túc, nâng cao sự thật và sự thiện mà Thiên Chúa đã loan truyền giữa loài người, giữa các dân tộc, cũng là để thanh luyện họ khỏi sự lầm lạc và sự dữ "để Thiên Chúa được vinh danh, quỷ dữ phải hổ thẹn,và loài người được hạnh phúc" (AG 9).

IV. HỘI THÁNH TÔNG TRUYỀN

857 75.            Hội Thánh tông truyền vì được xây trên nền tảng các tông đồ, theo 3 nghĩa:

 - Hội Thánh đã và đang được xây dựng trên "nền móng các tông đồ" (x. Ep.2,20; Kh.21,14), là những chứng nhân đã được chính Đức Ki-tô tuyển chọn và sai đi (x. Mt 28,16-20; Cv 1,8; ICr 9,1; 15,7-8; Gl 1,1 etc...);
171.
 - Hội Thánh với sự trợ giúp của Chúa Thánh Thần ở trong Hội Thánh, gìn giữ và lưu truyền giáo huấn (x. Cv 2,42), kho tàng quí báu, những lời lành mạnh do các tông đồ giảng dạy (x.2 Tim 1, 23-14);


880, 1575.
 - Hội Thánh tiếp tục được các tông đồ giảng dạy, thánh hóa và hướng dẫn cho đến khi Đức Ki-tô trở lại - nhờ những vị kế nhiệm các ngài trong nhiệm vụ mục tử : giám mục đoàn , "với sự trợ giúp của các linh mục, hiệp nhất với Đấng kế nhiệm thánh Phê-rô là mục tử tối cao của Hội Thánh" (AG.5).

"Lạy Cha hằng hữu, Cha không bỏ rơi đoàn chiên của Cha, nhưng nhờ các tông đồ, Cha vẫn luôn giữ gìn che chở. Cha còn hướng dẫn đoàn chiên đó nhờ các ngài là những vị lãnh đạo Cha đã đặt làm mục tử thay thế Con Cha" (x. MR lời tiền tụng các tông đồ I).

Sứ mạng của các tông đồ

858 551 425 1086.
Đức Giê-su là Đấng Chúa Cha cử đến với nhân loại. Ngay từ đầu sứ vụ, Người "kêu gọi những kẻ Người muốn chọn, và thành lập nhóm Mười Hai để các ngài ở với Người và để Người sai đi rao giảng" (x. Mc 3,13-14). Từ đó, các ngài là "những người được sai đi" (đó là ý nghĩa của từ Hy Lạp Apostoloi). Qua các ngài, Đức Ki-tô tiếp tục sứ mạng của Người : "Như Chúa Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai anh em" (Ga 20,21) (x. 13,20; 17-18). Như vậy, thừa tác vụ của các ngài "nối tiếp sứ mạng của Đức Ki-tô". Chúa phán với nhóm Mười Hai : "Ai đón tiếp anh em, là đón tiếp Thầy" (Mt 10,40) (x. Lc 10,16).

859 876.
Đức Giê-su liên kết các tông đồ với sứ mạng Người nhận từ Chúa Cha : cũng như "Chúa Con không thể tự mình làm gì" ( x. Ga 5,19.30), nhưng đón nhận tất cả từ Chúa Cha, Đấng đã cử Người đến, thì những người Đức Giê-su sai đi cũng không thể làm gì được nếu không có Người ( x. Ga 15,5), Đấng đã truyền lệnh và ban cho họ quyền năng để thực hiện sứ mạng. Vì thế, các tông đồ của Đức Ki-tô biết rằng họ đã được Thiên Chúa "ban cho làm thừa tác viên Giao Ước mới" ( x. 2Cr 3,6), "thừa tác viên của Thiên Chúa" ( x. 2Cr 6,4), "là sứ giả thay mặt Đức Ki-tô" ( x. 2Cr 5,20) " là tôi tớ của Đức Ki-tô, là người ban phát các mầu nhiệm của Thiên Chúa" (1Cr 4,1).

860 642 765 1536.
Trong nhiệm vụ các tông đồ, có một điều không thể truyền lại được : các ngài là chứng nhân được tuyển chọn cho cuộc Phục Sinh của Đức Giê-su và là nền móng của Hội Thánh. Nhưng cũng có một điều trường tồn: Đức Ki-tô đã hứa ở với các ngài cho đến tận thế ( x. Mt 28,20). "Sứ mạng của Thiên Chúa được Đức Ki-tô trao phó cho các tông đồ sẽ tồn tại cho đến tận thế, bởi vì Tin Mừng các ngài có nhiệm vụ rao truyền phải là lẽ sống của Hội Thánh cho đến trọn đời, cho đến tận cùng thời gian. Vì thế các tông đồ đã lo lắng đặt những người kế nhiệm mình" (LG 20).


Các giám mục kế nhiệm các tông đồ

861 77 1087.
"Để sứ mạng đã được ủy thác cho các ngài vẫn được tiếp tục sau khi các ngài qua đời, các tông đồ ủy thác, như một di chúc, cho các cộng sự viên trực tiếp của mình, phải hoàn tất nhiệm vụ và củng cố công trình các ngài đã khởi sự, khi khuyên nhủ họ coi sóc đoàn chiên, trong đó Chúa Thánh Thần đã đặt họ chăn dắt Hội Thánh Thiên Chúa. Bởi vậy, các ngài đặt những người như thế rồi ban quyền cho họ, hầu khi họ qua đời, đã có những người xứng đáng tiếp nhận thừa tác vụ của họ" (LG 20; x. T. Cơ-lê-men-tê I, Giáo hoàng, chú giải thư Cô-rin-tô 42;44).

862 880 1556.
"Cũng như nhiệm vụ mà Chúa đã đích thân trao phó cho Phê-rô, thủ lãnh các tông đồ và tiên liệu để truyền lại cho các vị kế nhiệm ông, nhiệm vụ đó phải thường tồn; thì cũng thế, nhiệm vụ trao cho các tông đồ chăn dắt Hội Thánh cũng phải thường tồn và được thi hành liên tục do thánh chức giám mục". Vì thế, Hội Thánh dạy rằng : "Chính Chúa đã lập các Giám mục kế nhiệm các tông đồ làm mục tử Hội Thánh. Bởi vậy ai nghe các ngài là nghe Chúa Ki-tô, còn ai khinh dễ các ngài là khinh dễ Chúa Ki-tô và Đấng đã cử Chúa Ki-tô đến" (LG 20).

Việc tông đồ

863 900 2472.
Toàn thể Hội Thánh có tính tông truyền vì hiệp thông trong đức tin và sự sống với nguồn cội của mình nhờ các vị kế nhiệm thánh Phê-rô và các tông đồ. Hội Thánh còn mang tính tông truyền vì "được sai đi" khắp thế gian; tất cả các phần tử của Hội Thánh mỗi người một cách đều được sai đi. "Ơn gọi Ki-tô hữu tự bản chất cũng là ơn gọi làm tông đồ". Mọi hoạt động của Nhiệm Thể nhằm "làm cho Nước Đức Ki-tô rộng mở trên khắp hoàn cầu" được gọi là "việc tông đồ" (AA 2).

864 828 824 1324.
"Vì Chúa Ki-tô, Đấng được Chúa Cha cử đến, là nguồn mạch và là nguyên ủy của mọi việc tông đồ trong Hội Thánh", nên kết quả phong phú của việc tông đồ, do các thừa tác viên có chức thánh cũng như của giáo dân, tùy thuộc vào sự kết hợp sống động của chính họ với Chúa Ki-tô ( x. Ga 15,5; AA.4). Việc tông đồ thật đa dạng tuỳ theo các ơn gọi, các nhu cầu thời đại, các ân huệ khác nhau của Chúa Thánh Thần. Nhưng đức ái được nuôi dưỡng đặt biệt nhờ bí tích Thánh Thể, luôn được xem là "linh hồn của mọi việc tông đồ" ( x. AA 3).

865 811, 541.
Hội Thánh duy nhất, thánh thiện, công giáo và tông truyền trong căn tính sâu xa và tối hậu của mình, vì nơi Hội Thánh, Nước Trời đã hiện hữu và sẽ hoàn tất trong ngày tận thế. "Nước Trời" chính là "Triều Đại của Thiên Chúa" ( x. Kh 19,6), đã xuất hiện trong bản thân của Đức Ki-tô và đang lớn lên cách mầu nhiệm trong lòng của những ai được tháp nhập vào Người, cho đến khi Người được hiển linh trọn vẹn trong ngày sau hết. Lúc đó, tất cả mọi người đã được Người cứu chuộc, đã được "thánh hóa và trở nên tinh tuyền trước tôn nhan Thiên Chúa trong tình yêu" ( x. Ep l,4), sẽ được quy tụ thành Dân duy nhất của Thiên Chúa, "Hiền Thê của Con Chiên" ( x. Kh 2l,9), "Thành Thánh tự trời, từ nơi Thiên Chúa mà xuống, chói lọi vinh quang Thiên Chúa" ( x. Kh 2l,l0-ll); và "tường thành xây trên mười hai nền móng, trên đó có tên mười hai tông đồ của Con Chiên" (Kh 21, 14).

TÓM LƯỢC

866.     Hội Thánh duy nhất : Hội Thánh chỉ có một Chúa, tuyên xưng một đức tin, sinh bởi một Phép Rửa, họp thành một Thân Thể được Thánh Thần duy nhất làm sinh động, nhắm đến một niềm hy vọng duy nhất (x.Ep 4,3-5) sẽ kết thúc trong sự chấm dứt mọi chia rẽ.

867.     Hội Thánh thánh thiện : Thiên Chúa chí thánh là Đấng sáng lập Hội Thánh; Đức Ki-tô, Phu Quân của Hội Thánh đã hiến mình để thánh hóa Hội Thánh; Thánh Thần ban cho Hội Thánh sự sống thánh thiện. Dù bao gồm những người tội lỗi, Hội Thánh vẫn là "cộng đoàn không tội lỗi của những người tội lỗi ". Nơi chư thánh, Hội Thánh chiếu tỏa sự thánh thiện của mình. Nơi Đức Ma-ri-a, Hội Thánh đạt được "sự toàn thiện".

868.     Hội Thánh công giáo : Hội Thánh rao giảng đức tin trọn vẹn, tiếp nhận và quản lý đầy đủ các phương tiện cứu độ; Hội Thánh được sai đến với mọi dân tộc; Hội Thánh ngỏ lời với tất cả mọi người; Hội Thánh bền vững trong mọi thời đại; "tự bản chất, Hội Thánh phải truyền giáo" (x. AG.2).

869.     Hội Thánh tông truyền : Hội Thánh được xây dựng trên nền móng vững chắc là "mười hai tông đồ của Con Chiên" (Kh 21,14); Hội Thánh bất diệt; Hội Thánh được gìn giữ không sai lầm trong chân lý: (x. Mt 16,18) Đức Ki-tô điều khiển Hội Thánh nhờ thánh Phê-rô và các tông đồ khác mà những người kế nhiệm các ngài là Đức Giáo Hoàng và giám mục đoàn.

870.     "Hội Thánh duy nhất của Chúa Ki-tô mà trong kinh Tin Kính chúng ta tuyên xưng, là duy nhất, thánh thiện, công giáo và tông truyền (...) Hội Thánh này được thể hiện nơi Hội Thánh Công Giáo, do vị kế nhiệm Phê-rô và các giám mục hiệp thông với ngài điều khiển, dù bên ngoài cơ cấu Hội Thánh cũng có nhiều yếu tố thánh hóa và chân lý" (LG 8).









 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Đăng ký nhận tin
Nhập email để nhận được những tin tức mới nhất từ chúng tôi.
Thống kê truy cập
  • Đang truy cập90
  • Máy chủ tìm kiếm3
  • Khách viếng thăm87
  • Hôm nay8,605
  • Tháng hiện tại204,423
  • Tổng lượt truy cập408,052
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây