Sách Giáo Lý HTCG : Phần I Tuyên Xưng Đức Tin - Đoạn 2 Kinh Tin Kính - Chương 2 Tôi tin kính Đức Giêsu Kitô (tiếp)

Thứ tư - 19/09/2018 23:07 51 0
Đức Ki-tô từ cõi chết sống lại,
Người đã chết để chiến thắng tử thần Và ban sự sống cho kẻ đã chết.
Sách Giáo Lý HTCG : Phần I Tuyên Xưng Đức Tin - Đoạn 2 Kinh Tin Kính - Chương 2 Tôi tin kính Đức Giêsu Kitô (tiếp)

Mục 4

"CHÚA GIÊSU KITÔ ĐÃ CHỊU KHỔ HÌNH
DƯỚI THỜI PHONGXIÔ- PHILATÔ, NGÀI ĐÃ BỊ ĐÓNG ĐINH THẬP GIÁ, CHẾT VÀ MAI TÁMG"



571 1067.        Mầu nhiêm Vượt Qua từ Thập Giá đến Phục Sinh của Chúa Ki-tô là trọng tâm Tin Mừng mà các tông đồ và Hội Thánh tiếp nối các ngài, phải loan báo cho thế giới cái chết của Thánh Tử Giê-su Ki-tô đã hoàn tất ý định cứu độ của Thiên Chúa "một lần dứt khoát" (Dt 9,26).

572 599.          Hội Thánh vẫn trung thành với cách "giải thích toàn bộ Thánh Kinh" mà chính Đức Giê-su đã đưa ra trước cũng như sau cuộc Vượt Qua : "Nào Đấng Ki-tô lại chẳng phải chịu đau khổ như thế, rồi mới được hưởng vinh quang dành cho Người sao?" (Lc 24, 26-27, 44-45). Những khổ đau của Đức Giê-su mang dấu chứng lịch sử cụ thể vì Người đã "bị các kỳ mục, thượng tế cùng kinh sư loại bỏ" (Mc 8, 31); họ đã "nộp Người cho dân ngoại nhạo báng, đánh đòn và đóng đinh vào thập giá" (Mt 20, 19).

573 158.          Để hiểu rõ hơn ý nghĩa của việc cứu chuộc, chúng ta cố gắng tìm hiểu kỹ càng các tình tiết về cái chết của Đức Giê-su, đã được các sách Tin Mừng (x. DV 19) trung thành truyền lại và được các nguồn lịch sử khác soi sáng.


Tiết 1: ĐỨC GIÊSU VÀ ISRAEL

574 530 591.   Ngay từ đầu sứ vụ công khai của Đức Giê-su, những người Pha-ri-sêu và nhóm Hê-rô-đê, cùng với các tư tế và kinh sư đã toa rập với nhau để hại Người ( x.Mc 3,6). Vì một số hành động của Người (trừ quỉ (x.Mt 12,24); tha tội ( x.Mc 2,7); chữa bệnh ngày sa-bát (x.Mc 3,1-6); giải thích độc đáo những giới luật thanh sạch (x.Mc 7,14-23); thân thiện với những người thu thuế và kẻ tội lỗi công khai (x.Mc 2,14-17)), mà nhiều người có ý xấu nghi ngờ Người bị quỉ ám (x.Mc 3,22; Ga 8,48; 10,20). Họ buộc tội Người là kẻ phạm thượng (x.Mc 2,7; Ga 5,18; 10,33)và là ngôn sứ giả (x.Ga 7,12; 7,52); đây là những tội thuộc lãnh vực tôn giáo mà theo Luật Mô-sê, phải bị xử tử bằng cách ném đá (x.Ga 8,59; 10,31).

575 993.          Không phải đa số dân Thiên Chúa (Ga 7,48-49), nhưng chủ yếu là các nhà chức trách tôn giáo tại Giê-ru-sa-lem, những người mà Tin Mừng Thánh Gio-an thường gọi là "người Do Thái" (x.Ga 1,19; 2,18; 5,10; 7,13; 9,22; 18,12; 19,38; 20,19), đã coi nhiều hành động và lời nói của Đức Giê-su là "dấu hiệu chống đối" (Lc 2,34) (x.Ga 7,48-49). Giữa Chúa Giê-su với nhóm Pha-ri-sêu không phải chỉ có luận chiến. Chính những người Pha-ri-sêu đã báo trước cho Người mối nguy đang đe dọa Người (x.Lc 13,31). Đức Giê-su ca tụng một số Pha-ri-sêu như kinh sư trong Mc 12,34, và Người cũng nhiều lần dùng bữa tại nhà họ. Đức Giê-su chuẩn nhận những giáo huấn thịnh hành nơi nhóm ưu tú tôn giáo này của dân Chúa: việc kẻ chết sống lại, những hình thức đạo đức (bố thí, giữ chay và cầu nguyện), và thói quen gọi Thiên Chúa là cha, tính cách trọng tâm của giới răn mến Chúa yêu người.


576.     Đối với nhiều người Ít-ra-en, Đức Giê-su xem ra hành động nghịch với những định chế cơ bản của Dân Chúa như :

-Việc tuân phục Lề Luật, gồm tất cả những giới luật thành văn không trừ luật nào, và theo nhóm Pha-ri- sêu, gồm cả những lời giải thích truyền khẩu nữa;

-Vị trí trung tâm của Đền Thờ Giê-ru-sa-lem như nơi thánh, nơi Thiên Chúa ngự cách đặc biệt;

-Đức tin vào Thiên Chúa duy nhất mà không ai có thể chia sẻ vinh quang với Người.

I. ĐỨC GIÊ-SU VÀ LỀ LUẬT

577 1965.        Trong Bài Giảng Trên Núi, Đức Giê-su bày tỏ lập trường của mình đối với Luật Cũ dưới ánh sáng ân sủng của Luật Mới. Người cảnh giác :

1967.   "Anh em đừng tưởng Thầy đến để bãi bỏ Luật Mô-sê hoặc giáo huấn của các ngôn sứ. Thầy đến không phải để bãi bỏ, nhưng là để kiện toàn. Vì, Thầy bảo thật anh em, trước khi trời đất qua đi, và cho đến khi mọi sự được hoàn thành, thì một chấm một phết trong sách Luật cũng không thể bỏ đi được. Vậy ai vi phạm dù chỉ là một trong những điều luật nhỏ nhất này, và dạy kẻ khác làm như thế, thì sẽ được coi là người nhỏ nhất trong Nước Trời. Còn ai tuân giữ, và dạy kẻ khác làm như thế, thì sẽ được coi là người lớn nhất trong Nước Trời" (Mt 5,17-19).

578 1953.        Theo Đức Giê-su, Đấng Mê-si-a của Ít-ra-en, người lớn nhất trong Nước Trời phải chu toàn Lề Luật bằng cách thi hành trọn vẹn, ngay cả trong các điều luật nhỏ nhất. Thật ra, Người là Đấng duy nhất có thể làm điều này một cách trọn hảo. Chính Người Do Thái thú nhận không thể chu toàn được Lề Luật mà không vi phạm điều luật nhỏ nào. Vì thế trong lễ Xá Tội hằng năm, con cái Ít-ra-en xin lỗi Thiên Chúa về những vi phạm Lề Luật. Lề Luật họp thành một khối thống nhất; thánh Gia-cô-bê nhắc nhở, "ai tuân giữ tất cả Lề Luật, mà chỉ sa ngã về một điểm thôi, thì cũng thành người có tội về hết mọi điểm" (Gcb 2,10).

579.     Nhóm Pha-ri-sêu tha thiết với nguyên tắc tuân giữ toàn bộ Lề Luật này, không những sát mặt chữ mà cả trong tinh thần nữa. Khi nêu nguyên tắc đó cho Ít-ra-en, họ đã đưa nhiều người Do Thái thời Đức Giê-su, đến một lòng đạo cực đoan. Lòng đạo này, nếu không biến thành một thứ luân lý biện luận (Casuistique) "giả hình", thì có thể chuẩn bị Dân Chúa đón nhận sự can thiệp lạ lùng của Thiên Chúa: Đấng Công Chính duy nhất sẽ thực hiện Lề Luật cách trọn hảo thay cho mọi kẻ tội lỗi.

580 527.          Chỉ có Con Thiên Chúa, Đấng ban hành Lề Luật, sinh làm người sống dưới Lề Luật mới có thể chu toàn lề luật cách trọn hảo ( x. Gl 4,4). Nơi Đức Giê-su, Lề Luật không còn được ghi trên bia đá, nhưng "trong đáy lòng" (Gr 31, 33) của Người Tôi Tớ được đặt làm "giao ước với dân" (Is 42,6), vì Người đã "trung thành làm sáng tỏ công lý" (Is 42,3). Đức Giê-su chu toàn Lề Luật đến nổi gánh lấy "lời nguyền rủa của Lề Luật" (Gl 3,13) mà những ai "không thi hành tất cả những gì chép trong sách Luật" (Gl 3,10) đã chuốc lấy. "Người lấy cái chết của mình mà chuộc tội lỗi người ta đã phạm trong thời giao ước cũ" (Dt 9,15).

581 2054.        Trước mắt người Do Thái cũng như các nhà lãnh đạo tinh thần của họ, Đức Giê-su xuất hiện như một vị "Ráp-bi" (x. Ga 11,28; 3,2; Mt 22,23-24; 34-36). Người thường lý luận trong khuôn khổ cách giải thích Luật của các Ráp-bi. Nhưng đồng thời, Đức Giê-su cũng va chạm đến những luật sĩ vì Người không chỉ đưa ra cách giải thích luật của Người, nhưng "còn giảng dạy như một Đấng có thẩm quyền chớ không như các luật sĩ" (Mt 7,28-29). Nơi Người, chính Lời của Thiên Chúa đã từng vang dội trên núi Xi-nai để ban hành Lề Luật cho Mô-sê, nay lại vang dội trên Núi Bát Phúc (x. Mt 5,1). Lời Thiên Chúa ấy không bãi bỏ, nhưng kiện toàn Lề Luật bằng cách đưa ra lời giải thích tối hậu của Thiên Chúa : "Anh em nghe Luật dạy người xưa rằng ... còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết" (Mt 5,33-34). Với cùng một thẩm quyền ấy của Thiên Chúa, Người phủ nhận một số "truyền thống của người phàm" (Mc 7,8) nghĩa là của những người Pha-ri-sêu "hủy bỏ Lời Thiên Chúa" (Mc 7,13).

582 368 548 2173.      Đi xa hơn nữa, Đức Giê-su còn kiện toàn Luật thanh khiết về các thức ăn, điều mà người Do Thái coi là rất quan trọng trong cuộc sống hằng ngày (x. Gl 3,24), bằng cách giúp ta hiểu : "Bất cứ cái gì từ bên ngoài vào trong con người, thì không thể làm cho con người ra ô uế ... như vậy là Người tuyên bố mọi thức ăn đều thanh khiết. Cái gì từ trong con người xuất ra, cái đó mới làm cho con người ra ô uế. Vì từ bên trong, từ lòng người phát xuất những ý định xấu" (Mc 7,18-21). Khi lấy thẩm quyền của Thiên Chúa đưa ra lời giải thích tối hậu về Lề Luật, Đức Giê-su phải đương đầu với một số luật sĩ không chịu đón nhận cách giải thích của Người, dù lời giải thích này được bảo đảm bằng những dấu lạ kèm theo (x. Ga 5,36; 10,25-37-38; 12,37). Mâu thuẫn lại càng gay gắt hơn trong vấn đề ngày sa-bát. Đức Giê-su thường dựa theo lập luận của các Ráb-bi (x. Mc 2,25-27; Ga 7,22-24) , nhắc nhở rằng luật nghỉ ngơi của ngày sa-bát không bị vi phạm khi phục vụ Thiên Chúa (x. Mt 12,5; Nb 28,9) và anh em (x. Lc 13,15-16; 14,3-4) qua các việc chữa bệnh của Người .

II. ĐỨC GIÊ-SU VÀ ĐỀN THỜ

583 529 534.   Cũng như các ngôn sứ, Đức Giê-su, tỏ ra hết lòng tôn kính Đền Thờ Giê-ru-sa-lem. Bốn mươi ngày sau khi sinh (x. Lc 2,22-39), Người được thánh Giu-se và Mẹ Ma-ri-a đem dâng trong Đền Thờ. Năm mười hai tuổi, Người quyết định ở lại trong Đền Thờ để nhắc cha mẹ nhớ rằng Người phải ở nhà Cha Người ( x. Lc 2,46-49). Trong thời ẩn dật, Người lên Đền Thờ hằng năm ít nhất là trong lễ Vượt Qua (x. Lc 2,41). Sứ vụ công khai của Người cũng nhịp theo những cuộc hành hương của Người lên Giê- ru-sa-lem vào những ngày lễ lớn của đạo Do Thái (x Ga 2,13-14; 5,1,14; 7,1,10,14; 8,2; 10,22-23).

584 2599.        Đức Giê-su lên Đền Thờ, nơi ưu biệt để gặp gỡ Thiên Chúa. Đối với Người, Đền Thờ là nhà của Cha Người, nhà cầu nguyện. Người phẫn nộ vì tiền đường Đền Thờ đã trở thành nơi buôn bán ( x. Mt 21,13). Vì yêu Cha tha thiết, Người xua đuổi con buôn khỏi Đền Thờ : "Đừng biến nhà Cha tôi thành chợ búa". Các môn đệ của Người nhớ lại lời đã chép trong Thánh Kinh: "Lòng nhiệt thành lo việc nhà Chúa, sẽ thiêu đốt tôi (Tv 69,10)" (Ga 2,16-17). Sau khi Người phục sinh, các tông đồ vẫn một lòng tôn kính Đền Thờ
(x. Cv 2,46; 3,1; 5,20,21:vv...).

585.     Trước khi chịu nạn, Đức Giê-su đã loan báo Đền Thờ sẽ bị tàn phá và không còn hòn đá nào nằm trên hòn đá nào (x. Mt 24,1-2). Đây là dấu chỉ tiên báo thời cánh chung sẽ khởi đầu với cuộc Vượt Qua của Người ( x. Mt 24,3, Lc 13,35). Những lời tiên báo đó đã bị những kẻ chứng gian bóp méo, khi vị Thượng Tế thẩm vấn Đức Giê-su, và sau đó, người ta lại dùng để nhục mạ Người khi Người bị đóng đinh trên cây thập giá (x.Mt 27,39-40).

586 797 1179. Đức Giê-su không chống đối Đền Thờ (x.Mt 8,4; 23,21; Lc,17,14; Ga 4,22) nơi mà Người đã trình bày một phần lớn giáo thuyết (x. Ga 18,20). Người còn muốn nộp thuế Đền Thờ cho phần mình và phần Phê-rô (x.Mt 17,24-27) mà Người vừa mới đặt làm nền tảng Hội Thánh tương lai (x. Mt 16,18). Hơn nữa, Người tự đồng hóa với Đền Thờ khi coi mình là nơi Thiên Chúa cư ngụ vĩnh viễn giữa loài người ( x.Ga 2,21; Mt 12,6). Vì vậy, việc Người bị giết chết về thể xác, loan báo việc phá hủy Đền Thờ. Sự phá hủy này cho thấy lịch sử cứu độ bước vào thời đại mới : "Đã đến giờ các người sẽ thờ phượng Chúa Cha, không phải trên núi này hay tại Giê-ru-sa-lem nữa" (Ga 4,21) (x.Ga 4,23-24; Mt 27,51; Dt 9,11; Kh 21,22).

III. ĐỨC GIÊ-SU VÀ ĐỨC TIN CỦA ÍT-RA-EN VÀO THIÊN CHÚA CỨU ĐỘ DUY NHẤT

587.     Nếu Lề Luật và Đền thờ Giê-ru-sa-lem là cơ hội để các nhà chức trách "chống báng Chúa Giê-su" (x.Lc 2,34), thì thật ra vai trò cứu chuộc khỏi tội lỗi của Người, công trình tuyệt hảo của Thiên Chúa, mới chính là hòn đá vấp ngã cho họ (x.Lc 20,17-18; Tv.118,22).

588 545.          Đức Giê-su làm cho nhóm Pha-ri-sêu bất bình, khi thân mật dùng bữa với người thu thuế và tội lỗi (x.Lc 5,30), y như đã thân mật dùng bữa với họ (x.Lc 7,36; 11,37; 14,1). Với những người "tự đắc cho mình là công chính mà khinh chê người khác" (Lc 18,9) (x.Ga 7,49; 9,34), Đức Giê-su khẳng định : "Tôi đến không phải để kêu gọi người công chính, nhưng để kêu gọi người tội lỗi sám hối ăn năn" (Lc 5,32). Người còn đi xa hơn nữa, khi tuyên bố trước mặt nhóm Pha-ri-sêu rằng, mọi người đều có tội (x.Ga 8,33-36), cho nên ai tự cho mình không cần được cứu độ thật là đui mù về chính bản thân (x.Ga 9,40-41).

589 431,1441 432.      Đức Giê-su làm cho người Do Thái bất bình nhất là vì đã đồng hóa cách xử sự nhân từ của Người với kẻ tội lỗi là thái độ của chính Thiên Chúa (x.Mt 9,13; Hs.6,6). Thậm chí Người còn muốn cho họ thấy rằng khi đồng bàn với kẻ tội lỗi (x.Lc 15,1-2), Người đón nhận những người ấy vào bàn tiệc thời Mê-si-a ( x.Lc 15,23-32). Đặc biệt khi tha tội, Đức Giê-su dồn các nhà chức trách của Ít-ra-en vào thế tiến thoái lưỡng nan. Trong cơn hoảng hốt, họ có lý khi nêu vấn nạn : "Ngoài một mình Thiên Chúa ra, ai có quyền tha tội" (Mc 2,7)? Hoặc là Đức Giê-su phạm thượng khi tha tội vì là người mà dám coi mình ngang hàng với Thiên Chúa ( x.Ga 5,18; 10,33), hoặc là Người nói đúng, và như vậy, chính nơi Người, Thiên Chúa hiện diện và mặc khải danh Thiên Chúa ra (x.Ga 17,6,26).

590 253.          Chỉ với căn tính là Thiên Chúa, Đức Giê-su mới có quyền đưa ra đòi hỏi tuyệt đối : "Ai không theo tôi, là chống lại tôi" (Mt 12,30); hay tuyên bố : "ở đây có người còn hơn ông Giô-na nữa,... còn hơn vua Xa-lô-mon nữa" (Mt 12,41-42), "hơn cả Đền Thờ nữa" (Mt 12,6); cũng như khi nhắc lại lời Đa-vít đã gọi Đấng Mê-si-a là Chúa của ông (x.Mt 12,36-37); Người khẳng định : "Trước khi có tổ phụ Áp-ra-ham, vẫn có tôi " (Ga 8,58); thậm chí Người còn nói : "Tôi và Chúa Cha là một" (Ga 10,30).

591 526 574.   Đức Giê-su đòi buộc các nhà chức trách tôn giáo của Giê-ru-sa-lem phải tin vào Người vì Người đã chu toàn những công việc của Chúa Cha (x.Ga 10,36-38). Muốn tin như vậy, phải chết đối với bản thân, để được "sinh ra từ trời cao" (Ga 3,7) dưới tác động của ơn thánh (x.Ga 6,44). Một đòi hỏi hoán cải quá gay gắt như vậy đối diện với việc thực hiện các lời hứa cách lạ lùng (x.Is 53,1) giúp chúng ta có thể hiểu được sự sai lầm bi đát của Công Nghị Do Thái (Sanhédrim) khi phán quyết Chúa Giê-su đáng chết vì phạm thượng ( x.Mc 3,6; Mt 26,64-66). Họ hành động như vậy vì "không biết việc họ làm" (x.Lc 23,34; Cv 3,17-18)và vì "lòng chai đá" (Mc 3,5; Rm 11,25) mà "cứng tin" (Rm 11,20).

TÓM LƯỢC

592.     Đức Giê-su không hủy bỏ Lề Luật núi Xi-nai, nhưng đã kiện toàn (x.Mt 5,17-19) cách tuyệt hảo ( x.Ga 8,46): Người mặc khải ý nghĩa tối hậu (x.Mt 5,33) của Lề Luật và chuộc tội lỗi người ta đã phạm đối với Lề Luật (x.Dt 9,15).

593.     Đức Giê-su tôn kính Đền Thờ : Người lên Đền Thờ vào những dịp lễ hành hương của Do Thái và Người yêu nơi Thiên Chúa cư ngụ giữa loài người này với một tình yêu tha thiết. Đền Thờ báo trước mầu nhiệm của Người. Người loan báo Đền Thờ bị phá hủy là để tỏ cho biết chính Người sẽ bị giết và lịch sử cứu độ bước vào thời đại mới, trong đó Thân Thể Người sẽ là Đền Thờ vĩnh viễn.

594.     Đức Giê-su có những hành vi như việc tha tội tỏ ra Người là chính Thiên Chúa Cứu Độ (x.Ga 5,16-18). Một số người Do Thái không nhìn nhận Người là Thiên Chúa Làm Người, chỉ thấy Người "là một phàm nhân mà lại tự cho mình là Thiên Chúa" (Ga 10,33), nên đã kết tội Người là phạm thượng.






Tiết 2 : ĐỨC GIÊSU CHỊU ĐÓNG ĐINH CHẾT TRÊN THẬP GIÁ

I. VỤ ÁN ĐỨC GIÊ-SU

Chia rẽ giữa các nhà chức trách Do Thái về Đức Giê-su

595.     Đức Giê-su luôn là cớ gây chia rẽ giữa các nhà chức trách tôn giáo ở Giê-ru-sa-lem. Thế nhưng vẫn có những người âm thầm theo làm môn đệ Chúa Giê-su như : ông Ni-cô-đê-mô (x. Ga 7,50) thuộc nhóm Pha-ri-sêu và Gio-sép thành A-ri-ma-tha (x. Ga 19,38-39); cho nên trước ngày Người chịu khổ nạn, thánh Gio-an có thể nói về họ rằng : "Ngay cả trong giới lãnh đạo Do Thái, cũng có nhiều người đã tin vào Đức Giê-su, nhưng họ không dám xưng ra, kẻo bị khai trừ khỏi Hội Đường" (Ga 12,42). Điều này không có gì lạ, vì sau lễ Hiện Xuống "có nhiều tư tế đón nhận đức tin" (Cv 6,7) và "có những người nhóm Pha-ri-sêu đã trở thành tín hữu" (Cv 15,5), đến nỗi thánh Gia-cô-bê có thể nói với thánh Phao-lô rằng : "Có hàng vạn người Do Thái đã tin theo và tất cả đều nhiệt thành đối với luật Mô-sê" (Cv 21,20).

596 1753.        Các nhà chức trách tôn giáo ở Giê-ru-sa-lem đã không nhất trí với nhau trong cách xử sự đối với Đức Giê-su (x.Ga 9,16; 10,19). Nhóm Pha- ri-sêu dọa tuyệt thông những ai theo Người (x.Ga 9,22). Với những người sợ rằng "mọi người sẽ tin vào Đức Giê-su, rồi người Rô-ma sẽ đến phá hủy cả nơi thánh của ta lẫn dân tộc ta" (Ga 11,48), Thượng Tế Cai-pha đã nói tiên tri khi đề nghị : "Điều có lợi cho các ông là : thà một người chết thay cho dân, còn hơn là toàn dân bị tiêu diệt" (Ga 11,49-50). Thượng Hội Đồng tuyên bố Đức Giê-su "đáng chết" (Mt 26,66) vì tội phạm thượng, nhưng vì đã mất quyền xử tử (x.Ga 18,31), Thượng Hội Đồng đã nộp Đức Giê-su cho người Rô-ma, tố cáo Người về tội xách động chính trị, và liệt Người đồng hàng với Ba-ra-ba và bị tố cáo là "phiến loạn"(Lc 23,19). Các thượng tế cũng đưa ra những lời đe dọa chính trị như vậy để buộc Phi-la-tô kết án tử hình Đức Giê-su (x. Ga 19,12.15,21).

Người Do Thái không phải chịu trách nhiệm tập thể về cái chết của Đức Giê-su

597 1735.        Vì tính cách phức tạp về lịch sử trong vụ án Chúa Giê-su được các Tin Mừng thuật lại, cũng như lỗi lầm cá nhân của những người tra tay vào vụ án (Giu-đa, Thượng Hội Đồng, Phi-la-tô). Chỉ mình Thiên Chúa biết, nên chúng ta không thể qui trách nhiệm của tội đó cho toàn thể người Do Thái ở Giê-ru-sa-lem, mặc dù đám đông có bị xúi giục la ó (x. Mc 15,11), và trong những bài giảng kêu gọi hoán cải sau lễ Hiện Xuống (x.Cv 2,23.36; 3,13-14; 4,10; 5,30; 7,52; 10,39; 13,27 28; 1Tx 2,14-15), các tông đồ có trách móc cả tập thể người Do Thái đi nữa. Chính Đức Giê-su trên thập giá đã tha thứ cho họ rồi (x. Lc 23,34), sau đó thánh Phê-rô cũng coi những người Do Thái ở Giê- ru-sa-lem và cả các thủ lãnh của họ đã hành động vì "không biết" (Cv 3,17). Chúng ta lại càng không thể dựa trên tiếng hò hét của dân chúng : "Máu hắn cứ đổ xuống đầu chúng tôi và con cháu chúng tôi" (Mt 27,25), chỉ có nghĩa như một công thức thừa nhận bản án (x. Cv 5,28; 18,6), mà nới rộng trách nhiệm cho những người Do thái khác mọi thời và mọi nơi :

839.     Hội Thánh tuyên bố tại Công đồng Va-ti-ca-nô II : "Không thể qui trách nhiệm một cách hàm hồ những tội ác đã phạm trong khi Đức Giê-su bị khổ nạn cho hết mọi người Do Thái thời đó, cũng như cho người Do Thái thời nay .... Từ Thánh Kinh ( x. NA 4), không thể rút ra kết luận : "Thiên Chúa đã loại bỏ người Do Thái hoặc đã chúc dữ họ."

Mọi kẻ tội lỗi là thủ phạm gây ra cuộc khổ nạn của Đức Ki-tô

598.     Qua huấn quyền của mình và chứng từ của các thánh, Hội Thánh không bao giờ quên rằng chính những "kẻ phạm tội là thủ phạm và như là dụng cụ thực hiện những cực hình mà Chúa Cứu Thế phải chịu" ( Giáolý Rô-ma 1,5.11; x. Dt 12,3). Vì tội lỗi chúng ta xúc phạm đến chính Đức Ki-tô (x.Mt 25,45; Cv 9,4-5), nên Hội Thánh không ngần ngại qui cho các Ki-tô hữu trách nhiệm nặng nhất về cực hình Đức Giê-su phải chịu, trách nhiệm mà họ thường trút đổ trên người Do Thái mà thôi :

1851.   Chúng ta phải coi những kẻ sa đi ngã lại trong tội lỗi là những người đã phạm lỗi tầy trời ấy. Bởi lẽ, chính tội ác của chúng ta đã làm Đức Giê-su Ki-tô phải chịu khổ hình thập giá, thì chắc chắn rằng những ai chìm đắm trong gian tà cũng "tự tay đóng đinh Con Thiên Chúa vào thập giá một lần nữa, và đã công khai sĩ nhục Người" (Dt 6,6). Và phải nhìn nhận rằng, tội ác của chúng ta trong trường hợp này nặng hơn tội của người Do Thái. Vì theo thánh Phao-lô, "nếu họ đã được biết Vua vinh hiển, họ đã chẳng đóng đinh Người vào thập giá" (1Cr 2,8). Trái lại, chúng ta tuyên xưng rằng chúng ta biết Người, nên khi chúng ta chối bỏ Người bằng những hành động, có thể nói được rằng chúng ta đã tra tay giết Người ( Giáo lý Rô-ma 1,5,11).


Không phải quỉ dữ đã đóng đinh Người trên thập giá; chính bạn cùng với chúng đã đóng đinh Người vào thập giá; và còn đang đóng đinh Người nữa, khi bạn thích thú trong thói xấu và tội lỗi (T.Phan-xi-cô Át-xi-di, khuyến dụ 5,3).

II. CÁI CHẾT CỨU CHUỘC CỦA ĐỨC KI-TÔ TRONG Ý ĐỊNH CỨU ĐỘ CỦA THIÊN CHÚA

"Đức Giê-su đã bị nộp theo ý định của Thiên Chúa"

599 517.          Cái chết đau thương của Đức Giê-su không phải là hậu quả của ngẫu nhiên do các hoàn cảnh bất ngờ hợp lại. Điều này thuộc về mầu nhiệm của ý định Thiên Chúa, như thánh Phê-rô giải thích cho người Do Thái ở Giê-ru-sa-lem ngay từ bài giảng đầu tiên trong ngày lễ Hiện Xuống : "Người đã bị nộp theo ý Thiên Chúa đã định và biết trước" (Cv 2,23). Kinh Thánh nói như vậy không có nghĩa là những kẻ đã "nộp Đức Giê-su " (Cv 3,13) chỉ thụ động nhập vai trong một kịch bản do Thiên Chúa đã viết trước.

600 312.          Đối với Thiên Chúa mọi thời điểm đều là hiện tại. Khi tiền định một điều gì đó trong kế hoạch vĩnh cửu, Người cũng "tiền định" tùy theo quyền của mỗi người tự do đáp trả ân sủng của Người : "Đúng vậy, Hê-rô-đê, Phong-xi-ô Phi-la-tô, cùng với các dân ngoại và dân chúng Ít-ra-en đã toa rập trong thành này, chống lại tôi tớ thánh của Người là Đức Giê-su, Đấng Người đã xức dầu. (x.Tv 2,1-2) Như thế họ đã thực hiện tất cả những gì quyền năng và sự khôn ngoan của Người đã định trước" (Cv 4,27-28). Thiên Chúa cho phép xảy ra những hành vi do sự mù quáng của họ (x. Mt 26,54; Ga 18,36;19,11), để thực hiện ý định cứu độ của Người (x. Cv 3,17-18).

 "Chết vì tội lỗi chúng ta đúng như lời Thánh Kinh"

601 652 713.   Ý định cứu độ của Thiên Chúa là giải thoát con người khỏi nô lệ tội lỗi nhờ cái chết của "Người Tôi Tớ, Đấng Công Chính" (Is 53,11) ( x.Cv 3,14), ý định này đã được báo trước trong Kinh Thánh như là mầu nhiệm cứu chuộc phổ quát ( x.Is 53,11-12; Ga 8,34-36). Thánh Phao-lô tuyên xưng đức tin mà Người đã "lãnh nhận "(1Cr 15,3): "Đức Ki-tô đã chết vì tội lỗi chúng ta,

"Vì chúng ta, Thiên Chúa đã coi Người như hiện thân của tội lỗi"

602 400 519.   Vì thế, thánh Phê-rô có thể trình bày đức tin tông truyền về ý định cứu độ của Thiên Chúa như sau : "Anh em đã được giải thoát khỏi lối sống phù phiếm do cha ông anh em truyền lại. Anh em đã được cứu chuộc nhờ bửu huyết của Con Chiên vẹn toàn, vô tì tích, là Đức Ki-tô. Người là Đấng Thiên Chúa đã biết từ trước khi chưa có vũ trụ, và đã xuất hiện vì anh em trong thời cuối cùng này" (1 Pr 1,18-20). Con người phải chết vì những tội lỗi xuất phát từ nguyên tội (x.Rm 5,12; 1Cr 15, 56). Khi cử chính Con Một Người đến trong thân phận tôi đòi (x.Pl 2,7), thân phận loài người sa đoạ và phải chết vì tội lỗi (x.Rm 8,3), "Thiên Chúa vì chúng ta, đã coi Đức Ki-tô, Đấng không hề biết tội là gì, như hiện thân của tội lỗi, để trong Người, chúng ta được trở nên công chính trước mặt Thiên Chúa" (2Cr 5,21).

603.     Vì không hề phạm tội, Đức Giê-su không bao giờ bị Thiên Chúa ruồng bỏ (x.Ga 8,46). Đức Giê-su đã đón nhận chúng ta trong tình yêu cứu chuộc hằng liên kết Người với Chúa Cha (x.Ga 8,29), cho đến độ Người xem như bị tách lìa Thiên Chúa vì tội chúng ta, nên Người thay chúng ta mà thốt lên trên thập giá : "Lạy Thiên Chúa, Thiên Chúa của con, sao Chúa nỡ bỏ con!" ( Mc 15, 34;Tv 22,1). Vì đã muốn liên kết Đức Ki-tô với chúng ta là những kẻ tội lỗi, nên Thiên Chúa "đã chẳng dung tha, nhưng đã trao nộp chính Con Một của Người vì hết thảy chúng ta"(Rm 8,32), để chúng ta "được hoà giải với Người nhờ cái chết của Con Một Người" (Rm 5,10).

Vì yêu thương, Thiên Chúa đi bước trước để cứu chuộc mọi người

604 211,2009 1825.    Khi trao nộp Con của Người vì tội lỗi chúng ta, Thiên Chúa cho thấy ý định yêu thương của Người đi trước mọi công trạng của chúng ta : "Tình yêu cốt ở điều này: không phải chúng ta đã yêu mến Thiên Chúa, nhưng chính Thiên Chúa đã yêu thương chúng ta, và đã cử Con của Người đến hy sinh làm của lễ đền tội cho chúng ta" (1Ga 4,10) (x. 4,19). "Bằng chứng Thiên Chúa yêu thương chúng ta, là Đức Ki-tô đã chết vì chúng ta, ngay khi chúng ta còn là tội nhân" (Rm 5,8).

605 402 634, 2793.     Tình thương này không loại trừ một ai, Đức Giê-su nhắc lại điều này để kết luận dụ ngôn về con chiên lạc: "Cũng vậy, Cha của anh em, Đấng ngự trên trời, không muốn cho một ai trong những kẻ bé mọn này phải hư mất" (Mt 18,14). Người khẳng định "sẽ hiến dâng mạng sống làm giá chuộc muôn người" (Mt 20,28). Thuật ngữ này không có ý thu hẹp số người được cứu độ, nhưng chỉ muốn đối chiếu toàn thể nhân loại đông đảo với một mình Đấng Cứu Độ, tự hiến để cứu chuộc muôn người ( x. Rm 5, 18-19). Hội Thánh nối gót các tông đồ dạy rằng : (x.2 Cr 5,15; 1Ga 2,2) Đức Ki-tô đã chết cho hết thảy mọi người không trừ một ai. "Trước kia, hiện nay cũng như sau này, không có một ai mà Đức Giê-su không chịu chết cho họ" (x. Cđ.Quierey năm 853: DS 624).
III. ĐỨC KI-TÔ ĐÃ HIẾN DÂNG CHÍNH MÌNH CHO CHÚA CHA VÌ TỘI LỖI CHÚNG TA

Tất cả cuộc sống của Đức Ki-tô là của lễ dâng hiến Chúa Cha

606 517 536.   Con Thiên Chúa, Đấng "từ trời xuống, không phải để làm theo ý Người, nhưng để làm theo ý Đấng đã cử Người" (Ga 6,38),"khi vào trần gian, Người nói:... Lạy Thiên Chúa, này con đây, con đến để thực thi ý Ngài... Chính theo ý đó của Thiên Chúa, mà chúng ta được thánh hóa nhờ Đức Giê-su Ki-tô đã hiến dâng thân mình làm lễ tế, chỉ một lần là đủ" (Dt 10,5-10). Ngay từ phút đầu tiên khi nhập thể, Chúa Con sống chết với ý định cứu độ của Thiên Chúa trong sứ vụ cứu thế của mình : "Lương thực nuôi sống Thầy là thi hành ý muốn của Đấng đã sai Thầy, và hoàn tất tốt đẹp công trình của Người" (Ga 4,34). Lễ hy sinh của Đức Giê-su "đền bù tội lỗi cả thế gian" (1Ga 2,2) là cách diễn tả sự thông hiệp tình yêu với Chúa Cha : "Sở dĩ Chúa Cha yêu mến tôi, chính vì tôi hy sinh mạng sống mình" (Ga 10,17). "Thế gian phải biết rằng tôi yêu mến Chúa Cha và làm đúng như Chúa Cha đã truyền cho tôi" (Ga 14,31).

607 457.          Ước muốn sống chết với ý định yêu thương cứu chuộc của Chúa Cha là động lực cho cả cuộc đời Đức Giê-su (x.Lc 12,50; 22,15; Mt 16,21-23), vì cuộc khổ nạn cứu thế là lý do khiến Người nhập thể : "Lạy Cha, xin cứu con khỏi giờ này ! Nhưng chính vì giờ này mà con đã đến" (Ga 12,27). "Chén đắng Chúa Cha đã trao cho Thầy, lẽ nào Thầy chẳng uống ?" (Ga 18,11). Và trên Thập Giá, trước khi "mọi sự đã hoàn tất" (Ga19,30), Người còn nói : "Tôi khát!" (Ga 19,28).


"Chiên con xóa bỏ tội trần gian"

608 523 517.   Sau khi chấp nhận ban phép rửa cho Đức Giê-su giữa những kẻ tội lỗi (x. Lc 3,21; Mt 3,14-15), Gio-an Tẩy Giả đã thấy và giới thiệu Người : "Đây là Chiên Thiên Chúa, Đấng xóa bỏ tội trần gian" (Ga 1,29) ( x. Ga 1,36). Như vậy ông cho thấy rằng Đức Giê-su vừa là Người Tôi Tớ đau khổ, im lặng chịu dẫn đến lò sát sinh (Is 53,7) (x. Gr 11,19) và gánh tội lỗi muôn dân (x. Is 53,12), vừa là Chiên Vượt Qua biểu tượng cho việc Ít-ra-en được cứu chuộc trong cuộc Vượt Qua lần đầu (Xh 12,3-14) ( x. Ga 19,36; 1Cr 5,7). Toàn bộ cuộc đời của Đức Ki-tô diễn tả sứ mạng của Người là "hầu hạ và hiến dâng mạng sống làm giá chuộc muôn người" (Mc 10,45).

Đức Giê-su tự nguyện sống chết theo tình thương cứu chuộc của Chúa Cha

609 478 515 272,539. Khi sống chết với tình thương của Chúa Cha dành cho con người bằng trọn trái tim nhân loại của mình, Đức Giê-su "đã thương yêu họ đến cùng" (Ga 13,1) "vì không có tình thương nào lớn hơn tình thương của người hy sinh mạng sống mình cho bạn hữu" (Ga 15,13). Như vậy, trong đau khổ và cái chết, nhân tính của Người đã trở thành dụng cụ tự do và hoàn hảo cho tình yêu Thiên Chúa luôn ước muốn cứu chuộc loài người ( x. Dt 2,10,17-18; 4,15; 5,7-9). Quả thật, Người đã tự do chấp nhận chịu nạn và chịu chết vì yêu mến Chúa Cha và yêu mến loài người mà Chúa Cha muốn cứu độ : "Mạng sống của tôi, không ai lấy đi được, nhưng chính tôi tự ý hy sinh mạng sống mình" (Ga 10,18). Do đó, Chúa Con đã tự do tột bực khi hiến thân chịu chết (x. Ga 18,4-6; Mt 26,53).


Trong bữa Tiệc Ly, Đức Giê-su đã tự do hiến dâng mạng sống của mình trước

610 766 1337. Vào "đêm bị nộp" (1Cr 11,23) Đức Giê-su diễn tả tột độ việc tự hiến bản thân Người trong bữa tiệc với mười hai tông đồ ( x.Mt 26,20) . Hôm trước ngày chịu nạn, khi còn hoàn toàn tự do, Đức Giê-su đã biến buổi Tiệc Ly với các tông đồ thành lễ tưởng niệm việc Người tự nguyện hiến dâng cho Chúa Cha (x.1Cr 5,7) để cứu độ nhân loại : "Đây là Mình Thầy hiến tế vì anh em" (Lc 22,19). "Đây là Máu Thầy, Máu để lập Giao ước sẽ đổ ra cho muôn người được tha tội" (Mt 26,28).

611 1364 1341,1566.  Bí tích Thánh Thể Chúa Giê-su thiết lập sẽ là "lễ tưởng niệm" (1Cr 11,25) hy tế của Người. Người hội nhập các tông đồ vào lễ hiến dâng của Người và yêu cầu họ lưu truyền hy lễ này mãi mãi ( x.Lc 22,19). Như thế, Đức Giê-su đặt các tông đồ làm tư tế Giao Ước mới : "Vì họ, con xin thánh hiến chính mình con, để trong chân lý, họ cũng được thánh hiến" (Ga 17,19) (x.Cđ.Trente: DS 1752;1764).

Đức Giê-su hấp hối trong vườn Giết-sê-ma-ni

612 533,2600 1009.    Chén Giao Ước mới mà Đức Giê-su đã dâng trước trong bữa Tiệc Ly, giờ đây, Người lãnh nhận từ tay Cha trong cơn hấp hối tại Giết-sê-ma-ni (x.Mt 26,42), khi Người "vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết" (Pl 2,8; Dt 5,7-8). Đức Giê-su cầu nguyện : "Lạy Cha, nếu được, xin cho con khỏi uống chén đắng này..." (Mt 26,39). Người diễn tả nỗi khiếp sợ mà nhân tính của Người cảm nghiệm trước cái chết. Thật vậy, nhân tính của Đức Giê-su cũng như của chúng ta được Thiên Chúa dựng nên để sống đời đời, nhưng khác với chúng ta, nhân tính này hoàn toàn không có tội (x.Dt 4,15), mà tội mới gây nên sự chết (x.Rm 5,12); nhất là nhân tính này đã được Ngôi Vị Thiên Chúa của "Đấng khơi nguồn sự sống" (Cv 3,15), "Đấng hằng sống" (Kh 1,17) (x Ga 1,4;5,26) đảm nhận. Với ý chí nhân loại, Đức Giê-su chấp nhận thánh ý Chúa Cha ( x.Mt 26,42), đón nhận cái chết để cứu độ con người, nhờ đó "tội lỗi chúng ta, chính Người mang vào thân thể mà đưa lên cây thập giá" (1Pr 2,24).

Đức Giê-su chịu chết làm hy lễ duy nhất và chung cuộc

613 1366 2009.           Đức Ki-tô chịu chết vừa là hy tế Vượt Qua hoàn tất việc cứu độ chung cuộc loài người (x.1Cr 5,7; Ga 8,34-36)vì "Chiên Thiên Chúa, Đấng xóa bỏ tội trần gian" (Ga 1,29) (x.1Pr 1,19), vừa là hy tế của Giao Ước Mới (x.1Cr 11,25) cho con người hiệp thông lại với Thiên Chúa ( x.Xh 24,8), bằng cách giao hòa con người với Thiên Chúa nhờ "máu được đổ ra cho muôn người được tha tội" (Mt 26,28) (x.Lv 16,15-16).

614 529,1330 2100.    Hy tế của Đức Ki-tô là duy nhất, hoàn tất và vượt trên mọi hy tế (x.Dt 10,10). Trước hết hy tế này là một hồng ân của chính Chúa Cha : Chúa Cha phó nộp Con Mình để giao hòa chúng ta với Người (x.1 Ga 4,10). Kế đến, đây cũng là việc Chúa Con làm người, với ý chí tự do và vì mến yêu (x.Ga 15,13), hiến dâng mạng sống mình (x.Ga 10,17-18) cho Chúa Cha trong Chúa Thánh Thần (x.Dt 9,14), để đền bù sự bất tuân của chúng ta.

Đức Giê-su thay thế sự bất tuân của chúng ta bằng sự vâng phục của Người

615 1850 433 411.      "Cũng như vì một người duy nhất đã không vâng lời Thiên Chúa, mà muôn người bị liệt vào hàng tội nhân, thì nhờ một người duy nhất đã vâng lời Thiên Chúa, muôn người cũng sẽ được kể là công chính" (Rm 5,19). Nhờ vâng phục cho đến chết, Đức Giê-su đảm nhận hoàn toàn vai trò Người Tôi Tớ đau khổ, "hiến mạng sống mình làm Của lễ đền tội muôn dân","khi làm cho họ nên công chính bằng cách chính Người gánh lấy tội lỗi của họ" (Is 53,10-12). Đức Giê-su đã đền bù và đền tạ thỏa đáng cho Chúa Cha vì tội lỗi của chúng ta (Cđ Tren-tô:DS 1529).

Đức Giê-su hoàn thành hy lễ của Người trên thập giá

616 478 468 519.        Vì Đức Giê-su đã "yêu thương đến cùng" (Ga 13,1) nên hy tế của Người có giá trị cứu chuộc và đền bù, xá tội và đền tạ. Người biết và thương yêu hết thảy chúng ta trong việc hiến dâng mạng sống của Người (x.Ga 2,20; Ep. 5,2.25). "Tình yêu Đức Ki-tô thôi thúc chúng tôi, khi chúng tôi nghĩ rằng : nếu một người đã chết thay cho mọi người, thì mọi người đều chết" (2 Cr 5,14). Không ai, dù thánh thiện nhất, có thể gánh hết tội lỗi mọi người và hiến mình làm hy lễ cho mọi người. Vì là Con Thiên Chúa, Đức Ki-tô vừa vượt trổi vừa đồng thời bao gồm mọi người và là đầu toàn thể nhân loại, nên Người mới có thể dâng hy tế cứu chuộc mọi người.

617 1992 1235.           Nhấn mạnh đến hy lễ duy nhất của Đức Ki-tô như "nguồn ơn cứu độ vĩnh cửu" (Dt 5,9), Công Đồng Tren-tô dạy (DS 1529) : "Nhờ cuộc khổ nạn trên cây thập giá, Đức Ki-tô công chính hoá chúng ta". Và khi tôn kính Thánh Giá, Hội Thánh ca ngợi : "Ôi Thánh Giá, nguồn cậy trông duy nhất của chúng con !"

Đức Ki-tô cho chúng ta tham dự vào hy tế của Người

618 1368,1460 307,2100 964.            Thánh Giá là hy tế duy nhất của Đức Ki-tô, "Đấng trung gian duy nhất giữa Thiên Chúa và loài người" (1Tm 2,5). Nhưng, vì khi nhập thể, Con Thiên Chúa "đã kết hợp với tất cả mọi người" (GS 22,2), nên đã "ban cho mọi người khả năng được thông phần vào mầu nhiệm Vượt Qua cách nào đó chỉ có Chúa biết thôi" (GS 22,5). Người mời gọi môn đệ "vác thập giá mình mà theo Người" (Mt 16,24), vì "Người đã chịu đau khổ vì chúng ta, đã để lại một gương mẫu cho chúng ta dõi bước theo Người" (1 Pr 2,21). Thật vậy, Người muốn cho những kẻ đầu tiên được hưởng nhờ hy tế đó, cùng thông phần vào hy tế cứu độ của Người ( x. Mc 10,39; Ga 21,18-19; Cl 1,24). Điều ấy được thể hiện tột bực nơi Thân Mẫu của Người, Đấng đã thông phần vào mầu nhiệm đau thương cứu độ của Người mật thiết hơn ai khác (x. Lc 2,35):

Ngoài thập giá, không có chiếc thang nào khác để lên trời" (T. Rô-sa thành Li-ma,).

TÓM LƯỢC

619.     Đức Ki-tô đã chết vì tội lỗi chúng ta đúng như lời Thánh Kinh " (1Cr 15,3)

620.     Vì yêu mến, Thiên Chúa đã đi bước trước để cứu độ chúng ta. "Người đã yêu thương chúng ta, và cử Con của Người đến hy sinh làm của lễ đền tội cho chúng ta" (1Ga 4,10). "Trong Đức Ki-tô, Thiên Chúa đã cho thế gian được hoà giải với Người" (2Cr 5,19).

621.     Đức Giê-su tự hiến để cứu độ chúng ta. Người cho thấy ý nghĩa và thể hiện trước sự tự hiến này trong bữa Tiệc Thánh : "Đây là mình Thầy, hiến tế vì anh em" (Lc 22,19).

622.     Đức Ki-tô cứu chuộc nhân loại bằng cách "hiến dâng mạng sống làm giá chuộc muôn người" (Mt 20,28), nghĩa là "thương yêu những kẻ thuộc về mình đến cùng" (Ga 13,1), để "giải thoát họ khỏi lối sống phù phiếm do cha ông họ truyền lại" (1Pr 1,18).

623.     Nhờ yêu thương vâng phục Chúa Cha "đến nỗi chết trên cây thập giá" (Pl 2,8), Đức Giê-su hoàn tất sứ mạng đền tội của Người Tôi Tớ đau khổ, "làm cho muôn người nên công chính bằng cách gánh lấy tội lỗi của họ" (Is 53,11; x.Rm 5,19).


Tiết 3:  ĐỨC GIÊSU KITÔ ĐƯỢC MAI TÁNG

624 1005, 362 349.     "Đức Giê-su đã phải nếm sự chết, là để cho mọi người được cứu độ, nhờ ơn Thiên Chúa" (Dt 2,9). Trong ý định cứu độ, Thiên Chúa đã an bài cho Chúa Con không những "chết vì tội lỗi chúng ta" (1Cr 15,3), nhưng còn phải "nếm sự chết", nghĩa là trải qua cái chết, trạng thái hồn và xác tách rời nhau, từ lúc Người tắt thở trên thập giá cho đến khi sống lại. "Đức Ki-tô trải qua cái chết" là mầu nhiệm trong việc Người được mai táng và xuống ngục tổ tông. Đó là mầu nhiệm được tưởng nhớ vào ngày Thứ Bảy Tuần Thánh : Đức Ki-tô nghỉ yên trong mồ (x.Ga 19,42) nói lên sự yên nghỉ ngày sa-bát vĩ đại của Thiên Chúa (x.Dt 4,4-9), sau khi hoàn tất việc cứu độ loài người (x.Ga 19,30) và đem lại bình an cho toàn thể vũ trụ (x.Cl 1,18-20).

Thân xác Đức Ki-tô được mai táng

625.     Thời gian Đức Ki-tô nghỉ yên trong mồ thật sự nối kết tình trạng có thể chịu đau khổ trước phục sinh với tình trạng vinh hiển hiện tại của Đấng Phục Sinh. Chính Đấng "hằng sống" có thể nói : "Ta đã chết, và nay Ta sống đến muôn thuở muôn đời" (Kh 1,18) :

Chúa Con đã để cho cái chết tách rời hồn khỏi xác, theo bản tính tự nhiên, nhưng Người đã kết hợp hồn với xác lại nhờ sự phục sinh, để bản thân Người trở thành giao điểm của sự chết và sự sống bằng cách ngăn chặn sự tan rã tự nhiên của thân xác do sự chết và trở thành nguyên lý hợp nhất của các phần đã bị tách rời (T. Ghê-rô-ni-ô thành Nít-xê, sách giáo lý 16).

626 470, 650.  Vì "Đấng khơi nguồn sự sống" mà người ta đã giết chết (Cv 3,15) cũng là "Đấng hằng sống đã phục sinh" (Lc 24,5-6), nên Ngôi Vị Thần Linh của Con Thiên Chúa vẫn tiếp nhận hồn và xác của Người bị cái chết tách rời:

Khi Đức Ki-tô chết, hồn đã lìa khỏi xác, nhưng ngôi vị duy nhất của Người không bị chia ra, vì ngay từ đầu nơi Ngôi Lời Nhập thể, xác và hồn hiện hữu ngang nhau; dù trong cái chết hồn xác tách rời nhau, nhưng vẫn ở với ngôi vị duy nhất của Ngôi Lời (T. Gio-an Da-mát 3,27).

"Chúa không để Đấng Thánh của Người phải hư nát"

627 1009 1683.           Cái chết của Đức Ki-tô là cái chết thật sự, vì đã chấm dứt cuộc đời trần thế của Người. Nhưng bởi ngôi vị Chúa Con vẫn kết hợp với thân xác Người, nên thân xác ấy không trở thành một thi hài như trong những trường hợp khác, "vì lẽ cái chết không tài nào khống chế được Người mãi" (Cv 2,24). Do đó, quyền năng Thiên Chúa đã gìn giữ thân xác Người khỏi hư nát" (T. Tô-ma Aquino tổng luận thần học 3,51,3). Về Đức Ki-tô, người ta có thể nói : "Người đã bị khai trừ khỏi cõi nhân sinh" (Is 53,8), và cũng có thể nói : "Cả thân xác con nghỉ ngơi trong niềm hy vọng rằng Chúa chẳng đành bỏ mặc hồn con trong cõi âm ty; cũng không để vị thánh của Ngài phải hư nát" (Cv 2,26-27) (x.Tv 16,9-10). Việc Đức Giê-su sống lại vào "ngày thứ ba" (1 Cr 15,4; Lc 24,46) (x.Mt 12,40; Gn 2,11; Hs 6,2) minh chứng điều ấy, vì theo quan niệm của người xưa, việc hư nát thường xảy ra từ ngày thứ tư (x.Ga 11,39).

"Cùng chịu mai táng với Đức Ki-tô..."

628 537 1215. Thuở ban đầu Hội Thánh ban bí tích Thánh Tẩy bằng cách dìm thụ nhân xuống nước. Hành động này có ý nghĩa là người Ki-tô hữu chết cho tội lỗi phải chịu mai táng cùng với Đức Ki-tô để sống một đời sống mới : "Vì được dìm vào trong cái chết của Người, chúng ta cùng được mai táng với Đức Ki-tô. Bởi thế, cũng như Người đã được sống lại từ cõi chết nhờ quyền năng vinh hiển của Chúa Cha, thì chúng ta cũng được sống một đời sống mới" (Rm 6,4) (x.Cl 2,12; Ep.5,26).

TÓM LƯỢC

629.     Vì mọi người, Đức Giê-su đã nếm sự chết (x.Dt 2,9). Chính Chúa Con làm người đã chết và đã được mai táng.

630.     Trong thời gian Đức Ki-tô nghỉ yên trong mồ, Ngôi Vị Thiên Chúa của Người vẫn tiếp nhận hồn và xác bị cái chết tách rời. Đó là lý do thân xác của Đức Ki-tô đã chết mà "không phải hư nát" (Cv 13,37).

Mục 5
"ĐỨC GIÊSU KITÔ XUỐNG NGỤC TỔ TÔNG, NGÀY THỨ BA BỞI TRONG KẺ CHẾT MÀ SỐNG LẠI"


631.     "Đức Giê-su đã xuống tận các vùng sâu thẳm dưới đất. Đấng đã xuống, cũng chính là Đấng đã lên" (Ep 4,9-10). Kinh Tin Kính các tông đồ tuyên xưng, trong cùng một tín điều, việc Đức Ki-tô xuống ngục tổ tông và việc ngày thứ ba Người bởi trong kẻ chết mà sống lại. Vì trong cuộc Vượt Qua của Người, chính từ trong lòng cái chết mà Người làm vọt lên sự sống :

Đức Ki-tô, Con yêu quí của Cha,
Đấng đã từ cõi chết sống lại,
đem ánh sáng thanh bình chiếu soi muôn dân.
Người là Đấng hằng sống hiển trị muôn đời .
A-men (MR. Sách lễ: bài công bố Tin Mừng Phục Sinh-đêm vọng P.S).


Tiết 1 : ĐỨC KITÔ ĐÃ XUỐNG NGỤC TỔ TÔNG

632.     Nhiều đoạn Tân Ước khẳng định Đức Giê-su "chỗi dậy từ cõi chết" (Cv 3,15; Rm 8,11; 1Cr 15,20), tức là, trước khi sống lại, Người đã ở nơi kẻ chết (x.Dt 13,20). Khi rao giảng việc Đức Giê-su xuống ngục tổ tông, các tông đồ muốn nói là : Đức Giê-su đã chết như mọi người, và linh hồn Người xuống cõi âm, nhưng xuống với tư cách là Đấng Cứu Độ, để loan báo Tin Mừng cho các vong linh bị giam cầm nơi đó (x.1Pr 3,18-19).

633 1033.        Kinh Thánh gọi nơi trú ngụ của các vong linh là âm phủ (Shéol) hoặc âm ty (Hadés) (x. Pl 2,l0: Cv 2,24; Kh l,l8; Ep 4,9). Trước khi Đấng cứu chuộc đến, mọi người đã chết, dù lành haydữ ( x. Tv 89,49;Is 28,19; Ed 32,l7-32), đều phải vào chốn này. Ở đó, họ không được nhìn thấy Thiên Chúa (x. Tv 6,6;88,ll-l3) và đang chờ đợi Đấng Cứu Chuộc. Số phận của họ không giống hệt nhau, như Đức Giê-su cho thấy qua dụ ngôn La-da-rô nghèo khổ được rước vào "lòng Áp-ra-ham" (x. Lc.l6,22-26). "Khi xuống ngục tổ tông, Đức Giê-su giải thoát chính những tâm hồn lành thánh "trong lòng Áp-ra-ham" ấy đang chờ đợi Đấng giải thoát" (x .Giáo lý Rôma l.6,9). Đức Giê-su xuống ngục tổ tông không phải để giải thoát những kẻ bị án phạt đời đời hoặc để phá hủy địa ngục đọa đày (x. DS 1011;1077), nhưng để giải thoát những ngườicông chính đã chết trước khi Người đến (x. Cđ Tô-lê-đô IV năm 625: DS 485; Mt 27,52-53).

634 605.          "Tin Mừng cũng được loan báo cho cả kẻ chết..." (1Pr 4,6). Việc Đức Giê-su xuống ngục tổ tông hoàn tất cách sung mãn việc rao giảng Tin Mừng cứu độ. Đây là chặng cuối cùng trong sứ mạng Mê-si-a của Đức Giê-su, tuy diễn ra trong một thời gian ngắn ngủi, nhưng có ý nghĩa vô cùng lớn lao là công cuộc cứu độ được mở rộng cho mọi người thuộc mọi thời và mọi nơi. Như vậy, tất cả những kẻ được cứu độ đều do Đức Ki-tô.

635.     Như thế Đức Ki-tô đã xuống âm phủ (x. Mt l2,40; Rm 10,7; Ep 4,9) để "kẻ chết nghe tiếng Con Thiên Chúa và ai nghe thì được sống" (Ga 5,25). Đức Giê-su, "Đấng khơi nguồn sự sống" (Cv 3,15), đã "nhờ cái chết của Người, tiêu diệt tên lãnh chúa gây ra sự chết, tức là ma quỷ, và đã giải thoát những ai vì sợ chết mà suốt đời sống trong tình trạng nô lệ" (Dt 2,14,l5). Từ nay, Đức Ki-tô Phục Sinh "nắm giữ chìa khóa của sự chết và âm phủ" (Kh 1,18) và "khi vừa nghe Danh Thánh Giê-su, cả trên trời dưới đất và trong nơi âm phủ, muôn vật phải bái quỳ" (Pl 2,10):

Hôm nay mặt đất hoàn toàn thinh lặng, hoàn toàn thinh lặng và hoàn toàn cô quạnh. Hoàn toàn thinh lặng vì Đức Vua an giấc. Trái đất run rẩy rồi yên tĩnh lại, vì Thiên Chúa đang ngủ trong xác phàm và Người đi đánh thức những kẻ đang ngủ từ bao đời ... Người đi tìm nguyên tổ A-đam như tìm con chiên lạc. Người muốn thăm viếng tất cả những ai đang ngồi trong tối tăm và trong bóng sự chết. Vừa là Thiên Chúa, vừa là con cháu của nguyên tổ, Người đi giải thoát A-đam và E-và đang đau khổ trong gông cùm xiềng xích ... "Ta là Chúa của ngươi, nhưng vì ngươi, Ta đã trở thành con của ngươi. Hỡi người ngủ mê, hãy chổi dậy ! vì Ta dựng nên ngươi không phải để cho ngươi ở lại đây trong gông cùm âm phủ. Hãy chỗi dậy từ cõi chết, vì Ta là sự sống của những kẻ đã chết (Bài giảng cổ vào thứ bảy tuần thánh).

TÓM LƯỢC

636.     Khi nói "Đức Giê-su xuống ngục tổ tông", kinh Tin Kính tuyên xưng Đức Giê-su đã chết thực sự, và bởi Người đã chết vì chúng ta, Người thắng được sự chết và ma quỷ, "tên lãnh chúa gây ra sự chết" (Dt 2,14).

637.     Khi chết, linh hồn Đức Ki-tô vẫn hợp nhất với Ngôi Hai Thiên Chúa, đã xuống âm phủ, mở cửa trời cho những kẻ công chính chết trước Người.

Tiết 2:  NGÀY THỨ BA NGƯỜI TỪ TRONG KẺ CHẾT MÀ SỐNG LẠI

638 90 651 991.          "Chúng tôi xin loan báo cho anh em Tin Mừng này: điều Thiên Chúa hứa với cha ông chúng ta, thì Người đã thực hiện cho chúng ta là con cháu các ngài, khi làm cho Đức Giê-su sống lại" (Cv l3,32-33). Đức Giê-su Phục Sinh là chân lý tuyệt đỉnh của đức tin Ki-tô giáo, được cộng đoàn tín hữu tiên khởi tin và sống như là chân lý trung tâm, được Truyền Thống lưu truyền như chân lý căn bản, được các văn kiện Tân Ước xác lập, được rao giảng như phần chủ yếu của mầu nhiệm Vượt Qua và Thập Giá:

Đức Ki-tô từ cõi chết sống lại,
Người đã chết để chiến thắng tử thần Và ban sự sống cho kẻ đã chết.

I. BIẾN CỐ LỊCH SỬ VÀ SIÊU VIỆT

639.     Đức Ki-tô phục sinh là một biến cố có thật với những chứng từ có giá trị lịch sử, được Tân Ước xác nhận. Khoảng năm 56, thánh Phao-lô đã viết cho tín hữu thành Cô-rin-tô : "Tôi truyền lại cho anh em điều mà chính tôi đã lãnh nhận, đó là: Đức Ki-tô đã chết vì tội lỗi chúng ta đúng như lời Thánh Kinh, rồi Người được mai táng, và ngày thứ ba chỗi dậy, đúng như lời Thánh Kinh. Người đã hiện ra với ông Kê-pha, rồi nhóm Mười Hai" (1Cr l5,3-4). Thánh Phao-lô nói đến truyền thống sống động về mầu nhiệm Phục Sinh mà ngài đã học sau khi hoán cải ở cổng thành Đa-mát (x.Cv 9,3-l8).

Ngôi Mồ trống không


640 999.          "Sao các bà lại đến giữa kẻ chết mà tìm Đấng hằng sống ? Người không còn đây nữa, nhưng đã sống lại rồi" (Lc 24,5-6). Trong biến cố phục sinh, yếu tố đầu tiên mà ta gặp là ngôi mộ trống, Tự nó, sự kiện này không phải là một bằng chứng trực tiếp. Việc thân xác Đức Ki-tô không còn trong mồ có thể được giải thích cách khác (x.Ga 20,13; Mt 28,11-l5). Dầu vậy, mọi người đều coi ngôi mộ trống là dấu chỉ chủ yếu. Việc phát hiện mồ trống là bước đầu dẫn các môn đệ đến việc nhìn nhận chính sự kiện Chúa sống lại. Đó là trường hợp các phụ nữ đạo đức (x.Lc 24,3,22-23), tiếp đến là Phê-rô (x.Lc 24,l2). Khi vào trong mồ trống và thấy "những băng vải để ở đó" (Ga 20,6)", người môn đệ Đức Giê-su yêu quý" (Ga 20,2) khẳng định rằng : "Ông đã thấy và ông đã tin" (Ga 20,8). Điều này giả thiết rằng : khi thấy mộ trống ( x.Ga 20,5-7), ông nhận ra việc mất xác Chúa không phải là do loài người, và Đức Giê-su đã không đơn gian trở lại cuộc sống trần thế như trường hợp La-da-rô vậy ( x.Ga 11,44).

Những lần hiện ra của Chúa Phục sinh

641 553 448.   Những người đầu tiên được gặp Đấng Phục Sinh (x.Mc 16,1; Lc 24,1; Mt 28,9-10; Ga 20,11-18) là bà Ma-ri-a Mác-đa-la và các phụ nữ đạo đức đến để hoàn tất việc ướp xác Đức Giê-su (x. Ga 19,31.42) đã được mai táng vội vã vào chiều Thứ Sáu Tuần Thánh, vì ngày sa-bát sắp bắt đầu. Như vậy, các phụ nữ là những sứ giả đầu tiên loan báo Đức Ki-tôsống lại cho chính các tông đồ (Lc 24,9-10). Về phần các tông đồ, Đức Ki-tô hiện ra trước hết với Phê-rô, sau đó với nhóm Mười Hai (x.1Cr 15,5).Vì được mời gọi củng cố niềm tin của anh em mình (x.Lc 22,31-32), nên Phê-rô được thấy Đấng Phục Sinh trước họ. Chính dựa trên chứng từ của ông, mà cộng đoàn kêu lên : "Chúa đã sống lại thật rồi, và đã hiện ra với ông Xi-mon" (Lc 24, 34.36).
642 659 , 881 860.      Tất cả những gì đã xảy ra trong những ngày lễ Vượt Qua đó thôi thúc các tông đồ, đặc biệt là Phê-rô, ra sức xây dựng một kỷ nguyên mới đã bắt đầu từ sáng ngày Phục Sinh. Với tư cách chứng nhân của Đấng Phục Sinh, họ là những viên đá nền móng của Hội Thánh Người. Đức tin của cộng đoàn tín hữu tiên khởi được xây dựng trên lời chứng của những con người cụ thể mà các Ki-tô hữu quen biết và phần đông còn sống giữa họ. Các "chứng nhân về cuộc Phục Sinh của Đức Ki-tô" (x.Cv 1,22) trước tiên là Phê-rô và Nhóm Mười Hai, nhưng không chỉ mình họ : thánh Phao-lô nói rõ ràng Đức Giê-su "đã hiện ra với hơn năm trăm người một lượt; Người cũng hiện ra với ông Gia-cô-bê rồi với tất cả các tông đồ" (1Cr 15,4-8).

643.     Với những chứng từ này, chúng ta có thể khẳng định Đức Ki-tô đã phục sinh trên bình diện thể lý và phải nhận đó là một sự kiện lịch sử. Từ các sự kiện, chúng ta rút ra kết luận : đức tin của các môn đệ đã bị thử thách triệt để do việc Đức Giê-su chịu nạn chịu chết trên cây thập giá, sự kiện đã được Người báo trước (x. Lc 22,31-32). Cuộc khổ nạn đã làm cho các môn đệ bị chấn động mạnh đến nỗi họ (ít ra là một số ) không tin ngay việc Chúa sống lại. Các sách Tin Mừng không hề nói đến một cộng đoàn cuồng nhiệt trong hứng khởi thần bí, nhưng cho thấy "các môn đệ ủ rũ" (Lc 24,17) và sợ hãi (x. Ga 20,19). Họ không tin lời các phụ nữ đạo đức viếng mộ trở về, nhưng "cho là chuyện nhảm nhí" (Lc 24,11) (x.Mc 16,11-13). Khi tỏ mình cho Nhóm Mười Một, chiều ngày Phục Sinh, Đức Giê-su "khiển trách các ông không tin và cứng lòng, bởi lẽ các ông không chịu tin những kẻ đã được thấy Người, sau khi Người sống lại" (Mc 16,14).

644.     Dù đối diện với thực tế là Đức Giê-su phục sinh, các môn đệ vẫn còn nghi ngờ (x. Lc 24,38) vì không tin rằng điều này có thể xảy ra được, nên họ tưởng trông thấy ma (x.Lc 24,39). "Các ông vẫn chưa dám tin vì mừng quá, và còn đang ngỡ ngàng" (Lc 24,41). Ông Tô-ma cũng đã từng nghi ngờ như vậy (x.Ga 20,24-27). Và khi Đức Giê-su hiện ra lần cuối cùng tại Ga-li-lê, theo thánh Mat-thêu tường thuật "có mấy người vẫn còn hoài nghi" (Mt 28,17). Do đó, giả thuyết cho rằng Phục Sinh là "sản phẩm" của đức tin (hoặc do nhẹ dạ) của các tông đồ, không đứng vững. Trái lại, dưới tác động của ơn thánh, các ông tin vào cuộc Phục Sinh vì có kinh nghiệm trực tiếp về việc Đức Giê-su đã thực sự sống lại.

Trạng thái nhân tính của Đức Ki-tô Phục Sinh

645 999.          Đức Giê-su phục sinh có những tương quan trực tiếp với các môn đệ của Người, qua tiếp xúc (x.Lc 24,39; Ga 20,27) và việc chia sẻ bữa ăn (x.Lc 24,30.41-43; Ga 21,9.13-15). Nhờ đó, Người muốn cho họ thấy Người không phải là ma (x.Lc 24,39), và thân xác phục sinh của Người chính là thân xác đã bị hành hạ và đóng đinh thập giá, vì còn mang dấu vết cuộc khổ nạn (x.Lc 24,40; Ga 20,20,27). Tuy nhiên thân xác đúng nghĩa và có thật này có các đặc tính mới của một thân xác vinh hiển : Người không còn bị ràng buộc trong không gian và thời gian nữa, nhưng có thể đi đâu và lúc nào tùy ý, vì nhân tính của Người không còn bị giam giữ trên trần thế mà chỉ thuộc về thế giới thần linh của Chúa Cha (x.Ga 20,17). Do đó Đức Giê-su phục sinh hoàn toàn tự do để hiện ra như Người muốn : dưới hình dáng một người làm vườn (x.Ga 20,14-15) hoặc "dưới hình dạng khác" (Mc 16,12) hơn những hình dạng quen thuộc với các môn đệ, nhằm khơi dậy đức tin của họ (x. Ga 20,14.16; 21,4.7).

646 934 549.   Đức Ki-tô Phục Sinh không có nghĩa là Người trở lại với đời sống trần thế, như trường hợp của những kẻ Người đã cho sống lại trước cuộc Vượt Qua : con gái ông Giai-rô, người thanh niên thành Na-im, ông La-da-rô. Các sự kiện này là những biến cố kỳ diệu, tuy nhiên những người được hưởng phép lạ đó, nhờ quyền năng của Đức Giê-su, chỉ trở lại với cuộc sống trần thế "bình thường"; rồi một lúc nào đó, họ vẫn phải chết. Đức Ki-tô Phục Sinh thì hoàn toàn khác hẳn. Trong thân xác sống lại, Người chuyển từ trạng thái chết sang cuộc sống khác, vượt trên thời gian và không gian. Thân xác của Đức Giê-su Phục Sinh tràn đầy quyền năng Chúa Thánh Thần. Thân xác này tham dự vào đời sống thần linh vinh hiển, đến nỗi thánh Phao-lô có thể nói : Đức Ki-tô là "người thượng giới" (1Cr 15,35-50).

Phục Sinh, biến cố siêu việt

647 1000.        Trong đêm Phục Sinh, Hội Thánh hát : "Ôi đêm thật diễm phúc, đêm duy nhất biết được thời gian Đức Ki-tô từ cõi chết phục sinh". Thực vậy, không một ai chứng kiến tận mắt biến cố Phục Sinh và không một thánh sử nào mô tả nó. Không ai có thể nói Phục Sinh đã diễn biến như thế nào về mặt thể lý. Giác quan lại càng khó nhận ra được yếu tính sâu xa nhất của Phục Sinh là sự chuyển qua một cuộc sống khác. Tuy Phục Sinh là biến cố lịch sử, có thể ghi nhận được nhờ dấu chỉ mộ trống và những lần gặp gỡ thực sự giữa các tông đồ với Đức Ki-tô sống lại, nhưng Phục Sinh vẫn là trung tâm mầu nhiệm đức tin, vì nó siêu việt và vượt trên mọi chiều kích lịch sử. Do đó, Đức Ki-tô Phục Sinh không tỏ mình ra cho thế gian (x. Ga 14,22) mà chỉ cho các môn đệ của Người, "cho những kẻ từng theo Người từ Ga- li-lê lên Giê-ru-sa-lem. Giờ đây chính họ làm chứng cho Người trước mặt dân" (Cv 13,31).

II. PHỤC SINH, CÔNG TRÌNH CỦA BA NGÔI THIÊN CHÚA


648 258 989 663 445 272.      Phục Sinh của Đức Ki-tô là đối tượng của đức tin, vì đó là sự can thiệp siêu việt của chính Thiên Chúa trong công trình sáng tạo và trong lịch sử. Trong cuộc Phục Sinh này, cả Ba Ngôi Thiên Chúa vừa cùng chung hoạt động, vừa biểu lộ tính cách riêng biệt của mình. Phục Sinh được thực hiện do quyền năng của Chúa Cha, Đấng "đã làm cho Đức Ki-tô Con của Người sống lại"(Cv 2,24); nhờ đó, Chúa Cha đưa trọn nhân tính - cùng với thân xác - của Đức Ki-tô vào mầu nhiệm Ba Ngôi một cách hoàn hảo. Đức Giê-su được mặc khải chung cuộc là "Con Thiên Chúa với tất cả quyền năng theo Thánh Thần do việc Người từ cõi chết sống lại" (Rm 1,3-4). Thánh Phao-lô nhấn mạnh đến việc Thiên Chúa biểu lộ quyền năng (x.Rm 6,4; 2Cr 13,4; Pl 3,10; Ep 1,19-22; Dt 7,16) qua công trình của Thánh Thần làm cho nhân tính đã chết của Đức Giê-su được sống lại và nâng lên tình trạng vinh hiển.

649.     Về phần Chúa Con, Người tự sống lại do quyền năng Thiên Chúa của mình. Đức Giê-su loan báo : Con Người sẽ phải đau khổ, chết và sống lại (theo nghĩa chủ động của từ) (x.Mc 8,31; 9,9,31; 10,34). Nơi khác, Người khẳng định rõ ràng : "Tôi hy sinh mạng sống để rồi lấy lại ....Tôi có quyền hy sinh và có quyền lấy lại mạng sống ấy" (Ga 10,17-18) "Chúng ta tin ... rằng Đức Giê-su đã chết và đã sống lại" (1Th 4,14).

650 626 1005.   Các giáo phụ chiêm ngắm mầu nhiệm Phục Sinh từ ngôi vị Thiên Chúa của Đức Ki-tô. Ngôi vị này vẫn kết hợp với hồn và xác đã bị cái chết tách rời : "Nhờ sự duy nhất của bản tính Thiên Chúa hiện diện ở cả hai phần của con người, nên hai phần này có thể tái hợp với nhau. Như vậy, chết là tách rời hai phần của con người và phục sinh là kết hợp hai phần ấy lại" (T. Ghê-gô-ri-ô thành Nít-sê, bàn về Phục Sinh của Chúa Ki-tô; DS 325; 359; 369; 539).
III. Ý NGHĨA VÀ ẢNH HƯỞNG CỨU ĐỘ CỦA PHỤC SINH

651 129 274.   "Nếu Đức Ki-tô không chỗi dậy, thì lời rao giảng của chúng tôi trống rỗng, và đức tin của anh em cũng trống rỗng" (1Cr 15,14). Trên hết mọi sự, Phục Sinh xác nhận tất cả những gì chính Đức Ki-tô đã làm và đã dạy. Khi phục sinh, Đức Ki-tô chứng tỏ Người có thẩm quyền của một vị Thiên Chúa, nên toàn thể các chân lý kể cả những chân lý mà lý trí loài người khó chấp nhận, đều đáng tin.

652 994 601.   Đức Ki-tô Phục Sinh hoàn tất những lời hứa của Cựu Ước (x.Lc 24,26-27,44-48) và của chính Người khi còn sống tại thế (x.Mt 28,6; Mc 16,7; Lc 24,6-7). Thuật ngữ "đúng theo Kinh Thánh" (x.1Cr 15,3-4 và kinh Tin kính Ni-xê Con-tan-ti-nôpô-li) cho thấy việc Đức Ki-tô Phục Sinh hoàn tất các lời tiên báo này.

653 445 461,422.        Phục Sinh xác nhận thiên tính thật của Đức Giê-su. Người đã nói : "Khi các ông đưa Con Người lên cao, bấy giờ các ông sẽ biết là Tôi Hằng Hữu" (Ga 8,28). Phục Sinh của Đấng bị đóng đinh chứng minh rằng Người thực sự là "Đấng Hằng Hữu", là Con Thiên Chúa và là chính Thiên Chúa. Thánh Phao-lô có thể tuyên bố với người Do Thái : "Điều Thiên Chúa hứa với cha ông chúng ta, thì Người đã thực hiện ... khi làm cho Đức Giê-su sống lại, đúng như lời đã chép trong thánh vịnh 2 : "Con là Con của Cha, ngày hôm nay Cha sinh ra Con" (Cv 13,32-33). Mầu nhiệm Phục Sinh liên kết mật thiết với mầu nhiệm Con Thiên Chúa Nhập Thể. Phục sinh hoàn tất mầu nhiệm này theo ý định muôn đời của Thiên Chúa.

654 1987 1996.           Có hai khía cạnh trong mầu nhiệm Vượt Qua : Đức Ki-tô chết để giải thoát chúng ta khỏi tội lỗi, và phục sinh để mở đường vào cuộc sống mới. Cuộc sống mới này bao hàm trước tiên là sự công chính hóa, nghĩa là đặt chúng ta lại trong ân sủng của Thiên Chúa (x. Rm 4,25), để "cũng như Đức Ki-tô đã được sống lại từ cõi chết, chúng ta cũng được sống đời sống mới" (Rm 6,4). Đời sống mới này là chiến thắng sự chết do tội lỗi gây ra và được thông phần lại vào ân sủng (x.Ep 2,4-5; 1Pr 1,3). Kế đến, đời sống mới thực hiện ơn làm nghĩa tử Thiên Chúa vì con người trở thành anh em của Đức Ki-tô, như chính Người gọi các môn đệ sau khi sống lại : "Hãy đi báo tin cho các anh em của Thầy" (Mt 28,10; Ga 20,17). Chúng ta trở thành anh em của Đức Ki-tô không phải do bản tính nhưng do hiệu quả của ân sủng, vì ơn làm nghĩa tử thông hiệp chúng ta thực sự vào đời sống Con Một Thiên Chúa, như mầu nhiệm Phục Sinh đã mặc khải trọn vẹn.

655 989 1002. Cuối cùng, sự phục sinh của Đức Ki-tô, cũng như chính Đức Ki-tô Phục Sinh, là nguyên lý và nguồn mạch sự sống lại của chúng ta mai sau : "Đức Ki-tô đã chỗi dậy từ cõi chết, mở đường cho những ai đã an giấc ngàn thu ..., như mọi người vì liên đới với A-đam mà phải chết, thì mọi người, nhờ liên đới với Đức Ki-tô, cũng được Thiên Chúa cho sống lại" (1 Cr 15,20-22). Trong lúc chờ đợi sự hoàn tất đó, Đức Ki-tô Phục Sinh sống trong lòng mọi tín hữu. Nơi Người, các Ki-tô hữu "được cảm nghiệm những sức mạnh của thế giới tương lai" (Dt 6,5) và cuộc sống của họ được Đức Ki-tô lôi cuốn vào trong cung lòng đời sống của Thiên Chúa (x.Cl 3,1-3), "để những ai đang sống, không còn sống cho chính mình nữa, mà sống cho Đấng đã chết và sống lại vì mình" (2 Cr 5,15).

TÓM LƯỢC

656.     Phục Sinh vừa là một biến cố lịch sử đươc các môn đệ chứng thực vì họ đã thực sự gặp Đấng Phục Sinh, vừa là biến cố siêu việt vì nhân tính của Đức Ki-tô đi vào trong vinh quang Thiên Chúa.

657.     Ngôi mộ trống và những băng vải xếp ở đó nói lên rằng : nhờ quyền năng của Thiên Chúa, thân xác của Đức Ki-tô thoát khỏi xiềng xích sự chết và sự hư nát. Những chứng cứ trên chuẩn bị các môn đệ gặp gỡ Đấng Phục Sinh.

658.     Đức Ki-tô, "trưởng tử trong số những người từ cõi chết sống lại" (Cl 1,18), là nguyên lý sự sống lại của chúng ta: ngay trong hiện tại, Người công chính hóa linh hồn chúng ta (x.Rm 6,4), và sau này cho thân xác chúng ta được sống lại (x.Rm 8,11).


Mục 6

"CHÚA GIÊSU ĐÃ LÊN TRỜI,
NGỰ BÊN HỮU THIÊN CHÚA CHA TOÀN NĂNG”


659 645 66 697 642.   "Nói xong, Chúa Giê-su được rước lên trời và ngự bên hữu Thiên Chúa" (Mc 16,19). Thân xác Đức Ki-tô đã được vinh hiển ngay khi Người sống lại; điều này được chứng thực qua các đặc tính mới và siêu nhiên mà từ nay thân xác của Người được hưởng vĩnh viễn (x.Lc 24,31; Ga 20,19.26). Nhưng trong bốn mươi ngày, vinh quang của Người vẫn còn che giấu dưới dạng một con người bình thường ( x.Mc 16,12; Lc 24,15; Ga 20,14-15; 21,4). Người ăn uống thân mật với các môn đệ của Người (x.Cv 10,41) và dạy dỗ họ về Nước Trời (x.Cv 1,3). Lần hiện ra cuối cùng được kết thúc bằng việc nhân tính của Người đi vào vinh quang Thiên Chúa một cách vĩnh viễn; vinh quang này được tượng trưng bằng đám mây (x.Cv 1,9; Lc 9,34-35; Xh 13,22) và cõi trời (x. Lc 24,51) nơi từ nay Người ngự bên hữu Thiên Chúa (x.Mc 16,19; Cv 2,33; 7,36; Tv 110,1). Hoàn toàn ngoại lệ và độc nhất, chỉ một lần, Người tỏ mình ra cho thánh Phao-lô "chẳng khác nào cho một đứa trẻ sinh non" (1Cr15,8) trong lần cuối cùng này, Người đặt ông làm tông đồ (x.1Cr 9,1; Ga 1,16).

660.     Vinh quang còn che giấu của Đấng Phục Sinh trong thời gian này được giải thích qua lời Người nói với bà Ma-ri-a Ma-đa-lê-na: "Thầy chưa lên cùng Chúa Cha. Nhưng hãy đi gặp anh em Thầy và bảo họ : "Thầy lên cùng Cha của Thầy, cũng là Cha của anh em, lên cùng Thiên Chúa của Thầy, cũng là Thiên Chúa của anh em" (Ga 20,17). Điều này cho thấy sự khác biệt trong cách thể hiện, giữa vinh quang của Đức Ki-tô Phục Sinh và vinh quang của Đức Ki-tô được tôn vinh bên hữu Chúa Cha. Biến cố Thăng Thiên, vừa lịch sử vừa siêu việt, đánh dấu sự chuyển tiếp từ vinh quang này đến vinh quang kia.

661 792.          Giai đoạn cuối cùng này vẫn liên kết mật thiết với giai đoạn đầu, nghĩa là khi Ngôi Hai từ trời xuống nhập thể. Chỉ Đấng "từ Chúa Cha mà đến" mới có thể "trở về cùng Chúa Cha": đó là Đức Ki-tô (Ga 16, 28). "Không ai đã lên trời, ngoại trừ Con Người, Đấng từ trời xuống" (Ga 3,13) (x. Ep 4, 8-10). Với sức tự nhiên, nhân loại không thể vào được "Nhà Cha" (Ga 14,2), vào sự sống và hạnh phúc của Thiên Chúa. Chỉ Đức Ki-tô mới có thể mở lối cho con người : "Người lên trời không phải để lìa xa chúng ta là những kẻ yếu đuối, nhưng vì là Đầu và là thủ lãnh của chúng ta, nên Người đã lên trước, để chúng ta là những chi thể của Người vững niềm tin tưởng cũng sẽ được lên theo" (MR. Tiền tụng lễ Thăng thiên).

662 1545 1137.           "Phần tôi, một khi được đưa lên khỏi đất, tôi sẽ kéo mọi người đến với tôi" (Ga 12,32). Việc đưa lên thập giá mang ý nghĩa biểu hiện và báo trước việc "đưa lên" trong mầu nhiệm Thăng Thiên. Thập Giá là bước đầu của Thăng Thiên. Đức Giê-su Ki-tô, vị Thượng Tế duy nhất của Giao Ước mới và vĩnh cửu, đã chẳng "vào một cung thánh do tay người phàm làm ra, ... nhưng Người đã vào chính cõi trời, để giờ đây ra đứng trước mặt Thiên Chúa, mà chuyển cầu cho chúng ta" (Dt 9, 24). Trên trời, Đức Ki-tô liên tục thực thi chức tư tế của Người, "Người hằng sống để chuyển cầu cho những ai nhờ Người mà tiến lại gần Thiên Chúa" (Dt 7, 25). Với tư cách "Thượng Tế đem lại phúc lộc của thế giới tương lai" (Dt 9,11), Người là trung tâm và là chủ tế của Phụng Vụ tôn vinh Chúa Cha trên trời (x. Kh 4,6-11).

663 648.          Từ nay, Đức Ki-tô, ngự bên hữu Chúa Cha : "Ngự bên hữu Chúa Cha nghĩa là hưỡng vinh quang và danh dự của Thiên Chúa; Con Thiên Chúa đã hiện hữu từ muôn thuở như Thiên Chúa và đồng bản thể với Chúa Cha, nay đang ngự trong vinh quang và danh dự này cùng với thân xác được tôn vinh (T. Gioan Đa-mát 0.4.2)".

664 541.          Việc Đức Ki-tô ngự bên hữu Chúa Cha khai mạc triều đại Đấng Mê-si-a, thực hiện thị kiến của ngôn sứ Đa-ni-en về Con Người : "Người được trao cho quyền thống trị, vinh quang và vương quốc; mọi dân tộc, quốc gia và ngôn ngữ đều phụng sự Người. Vương Triều của Người vĩnh cửu, không bao giờ mai một; Vương Quốc của Người sẽ vô cùng vô tận" (Đn 7,14). Kể từ lúc ấy, các tông đồ trở thành chứng nhân cho "Triều Đại không bao giờ chấm dứt" (Kinh Tin Kính Ni-xê Con-tan-ti-nô-pô-li).

TÓM LƯỢC

665.     Đức Ki-tô lên trời nghĩa là nhân tính của Người vĩnh viễn đi vào thượng giới của Thiên Chúa. Từ nơi đó, Người sẽ trở lại (x.Cv 1,11). Giữa Thăng Thiên và Tái Lâm, loài người không trông thấy Người được (x.Cl 3,3).

666.     Đức Giê-su Ki-tô, Đầu của Hội Thánh, đi trước chúng ta vào Vương Quốc vinh hiển của Chúa Cha, để chúng ta là chi thể của Thân Thể Người, sống trong niềm hy vọng một ngày kia được ở vĩnh viễn với Người.

667.     Đức Giê-su Ki-tô đã vĩnh viển đi vào cung thánh trên trời. Người không ngừng chuyển cầu cho chúng ta như là Đấng trung gian bảo đảm sẽ luôn ban tràn đầy Thánh Thần cho chúng ta.


Mục 7

"NGAY SAU BỞI TRỜI,
NGƯỜI LẠI XUỐNG PHÁN XÉT KẺ SỐNG VÀ KẺ CHẾT”


I. NGƯỜI SẼ TRỞ LẠI TRONG VINH QUANG

Đức Ki-tô đã hiển trị qua Hội Thánh...

668 450 518.   "Đức Ki-tô đã chết và sống lại chính là để làm Chúa kẻ sống cũng như kẻ chết" (Rm 14,9). Đức Ki-tô lên trời cùng với cả nhân tính, thông phần vào quyền năng và uy quyền của chính Thiên Chúa. Đức Giê-su Ki-tô là Chúa : Người nắm mọi quyền bính trên trời dưới đất. Người "vượt trên mọi quyền lực thần thiêng, trên mọi tước vị có thể có được" vì Chúa Cha "đã đặt tất cả dưới chân Người" (Ep 1,20-22). Đức Ki-tô là Chúa vũ trụ (.x.Ep 4,10; Cr 15,24.27-28) và lịch sử. Nơi Người, lịch sử loài người cũng như toàn thể công trình sáng tạo "được thu tóm" (Ep 1,10) và hoàn tất một cách siêu việt.

669 792,1088 541.      Đức Ki-tô là Chúa và cũng là Đầu Hội Thánh, Thân Thể của Người (x.Ep 1,22). Sau khi chu toàn sứ mạng, Đức Ki-tô được đưa lên trời và được tôn vinh, nhưng vẫn lưu lại trần thế trong Hội Thánh. Công trình cứu chuộc là nguồn mạch quyền bính mà Đức Ki-tô thực thi trên Hội Thánh bằng sức mạnh Thánh Thần (x.Ep 4,11-13). "Triều Đại của Đức Ki-tô hiện diện một cách bí nhiệm trong Hội Thánh", "mầm mống và khởi điểm Nước Trời tại thế "(LG 3,5).

670 1042 825 547.      Từ khi Đức Ki-tô lên trời, ý định của Thiên Chúa bước vào giai đoạn hoàn thành. Chúng ta đang sống trong "giờ cuối cùng" (1 Ga 2,18; 1 Pr 4,7). "Như thế thời đại cuối cùng đã đến với chúng ta. Việc canh tân thế giới được thiết lập một cách bất khả thu hồi và thực sự đã bắt đầu được thực hiện ngay từ bây giờ : Hội Thánh lữ hành đã được trang điểm bằng sự thánh thiện đích thực, tuy chưa hoàn toàn" (LG 48). Các dấu lạ điềm thiêng (x. Mc 16,17-18) xác nhận lời rao giảng của Hội Thánh, minh chứng triều đại Đức Ki-tô đã hiện diện (x. Mc 16,20).

...trong khi chờ đợi muôn loài qui phục Người
671 1043 769, 773 1043, 2046 2817
Tuy đã hiện diện trong Hội Thánh, nhưng triều đại của Đức Ki-tô chưa được hoàn tất "một cách đầy quyền năng và vinh hiển" (Lc 21,27) ( x.Mt 25,31), vì Người chưa ngự giá mây trời mà đến. Triều đại này còn bị các thế lực sự dữ tấn công (x. 2 Th 2,7), cho dù cơ bản chúng đã bị chính Đức Ki-tô đánh bại. Cho đến khi muôn loài qui phục Người (x.1Cr 15,28), "cho tới khi có trời mới đất mới, nơi công lý ngự trị, Hội Thánh lữ hành mang khuôn mặt chóng qua của đời này, qua các bí tích và định chế là những điều thuộc thời đại này. Và Hội Thánh vẫn sống giữa các thụ tạo tới nay còn rên siết và quằn quại trong cơn đau đớn lúc sinh nở, và mong đợi con cái Thiên Chúa xuất hiện" (LG 48).Vì vậy, các tín hữu cầu xin Đức Ki-tô mau trở lại (2Pr,11-12)nhất là trong cử hành Thánh Thể (1Cr 11,26) : "Lạy Chúa, xin ngựđến ! " (1 Cr 16, 22; Kh 22,17.20).

672 732 2612. Trước khi lên trời, Đức Ki-tô khẳng định rằng chưa đến giờ Người thiết lập Triều Đại Mê-si-a vinh hiển mà Ít-ra-en mong đợi (x. Cv 1,6-7). Theo lời các ngôn sứ (x. Is 11,1-9), triều đại này sẽ mang lại cho mọi người đầy tràn tình thương, công lý và bình an. Theo Đức Ki-tô, thời hiện tại là thời của Thánh Thần và của chứng nhân (x. Cv 1,8), cũng là thời Hội Thánh gặp nhiều "thống khổ" (1Cr 7,26), thử thách (x.1 Pr 4,17) và chiến đấu (x.Ep 5,16)trong những ngày cuối cùng ( x.1Ga 2,18; 4,3; 1Tm 4,1). Đây là thời gian chờ đợi và canh thức (x. Mt 25,1-13; Mc 13,33-37).

Đức Ki-tô quang lâm vinh hiển, niềm hy vọng của Ít-ra-en

673 1040 1048.           Từ khi Đức Ki-tô lên trời, ngày quang lâm vinh hiển của Người luôn gần kề (x.Kh 22,20), mặc dù chúng ta "không biết thời giờ và kỳ hạn Chúa Cha đã toàn quyền sắp đặt" (Cv 1,7) (x. Mc 13,32). Cho dù ngày quang lâm và "những thử thách cuối cùng phải xảy ra trước đó" (2 Th 2,3-12) (x. Mt 24,44; 1Th 5,2) còn được Thiên Chúa "cầm giữ " lại, ngày quang lâm vẫn có thể xảy ra bất cứ lúc nào .

674 840 58.     Đấng Mê-si-a quang lâm vinh hiển ( x. Rm 11,31) đến lúc nào là tùy thuộc vào việc "toàn thể Ít-ra-en" (Rm 11,26; Mt 23,39) nhận biết Người. Nhưng hiện nay "một phần dân Ít-ra-en còn cứng lòng" (Rm 11,25)"họ không tin"(Rm 11,20) Đức Giê-su. Thánh Phê-rô nói với người Do Thái ở Giê-ru-sa-lem sau lễ Hiện Xuống : "Anh em hãy sám hối và trở lại cùng Thiên Chúa, để Người xóa bỏ tội lỗi cho anh em. Như vậy, thời kỳ thảnh thơi mà Chúa ban cho anh em sẽ đến, khi Người sai Đấng Ki-tô Người đã dành cho anh em, là Đức Giê-su đến. Đức Giê-su còn phải được giữ lại trên trời cho đến thời phục hồi vạn vật, thời mà Thiên Chúa đã dùng miệng các vị thánh ngôn sứ của Người mà loan báo tự ngàn xưa" (Cv 3,19-21). Thánh Phao-lô cũng phụ họa : "Nếu vì họ bị gạt ra một bên mà thế giới được hòa giải với Thiên Chúa, thì việc họ được thâu nhận lại sẽ là gì, nếu không phải là từ cõi chết bước vào cõi sống?" (Rm 11,15). Việc "người Do Thái trở về đông đủ" (Rm 11,12) trong ơn cứu độ của Đấng Mê-si-a, sau khi các dân ngoại gia nhập đông đủ (x. Rm 11,25; Lc 21,24 ), sẽ làm cho dân Chúa "đạt tới tầm vóc viên mãn của Đức Ki-tô " (Ep 4,13) trong đó "Thiên Chúa có toàn quyền trên muôn loài "(1 Cr 15,28).

Thử thách tối hậu của Hội Thánh

675 769.          Trước khi Đức Ki-tô quang lâm, Hội Thánh phải trải qua một cuộc thử thách cuối cùng khiến nhiều tín hữu bị lung lạc đức tin ( x. Lc 18,8; Mt 14,12). Những cuộc bách hại mà Hội Thánh phải chịu trong suốt cuộc lữ hành trên trần thế (x. Lc 21,12; Ga 15,19-20) sẽ vạch trần "mầu nhiệm sự dữ" dưới hình thức bịp bợm tôn giáo; hình thức này chỉ đem lại cho con người một giải đáp giả tạo cho các vấn đề của họ để rồi họ phải xa rời chân lý. Sự bịp bợm tôn giáo nham hiểm nhất là sự bịp bợm của tên Phản Ki-tô, nghĩa là của một thuyết Mê-si-a giả hiệu : trong đó, con người tự tôn vinh chính mình thay vì tôn vinh Thiên Chúa và Đấng Mê-si-a của Người đã đến trong xác phàm ( x. 2Th 2, 4-12; 1Th 5,2-3; 2Ga 7; 1Ga 2,18.22).

676 2425.        Sự bịp bợm phản Ki-tô đó hiện hình trong thế giới, mỗi khi người ta tự hào sẽ thực hiện được, trong lịch sử, niềm hy vọng thời Mê-si-a vốn chỉ có thể hoàn tất bên kia lịch sử qua cuộc phán xét cánh chung. Hội Thánh cũng không chấp nhận thứ Nước Trời giả mạo dù dưới hình thức hiền hòa Thuyết Ngàn Năm (DS 3839) hoặc dưới dạng chính trị của một thuyết Mê-si-a trần tục, "tai ác tự bản chất " (Pi-ô XI, Thông điệp "Thiên Chúa Đấng cứu chuộc " ; GS 20-21.).

677 1310 2853.           Hội Thánh chỉ bước vào vinh quang Nước Trời sau cuộc Vượt Qua cuối cùng, theo gót Chúa mình trong cái chết và Phục Sinh (x. Kh 19,1-9). Nước Trời sẽ không được thực hiện bằng việc Hội Thánh tiến tới và khải hoàn trong lịch sử (x. Kh 13,8), nhưng do Thiên Chúa chiến thắng cơn hoành hành cuối cùng của sự dữ (x. Kh 20, 7-10), làm cho Giê-ru-sa-lem mới từ trời xuất hiện (x. Kh 21, 2-4). Sau cơn rung chuyển cuối cùng trong toàn vũ trụ của thế giới đang qua đi này, (x. 2 Pr 3,11-12), Thiên Chúa sẽ toàn thắng cuộc nổi loạn của sự dữ dưới hình thức cuộc Phán Xét cuối cùng (x. Kh 20,12).

1038-1041.
II. ĐỨC KI-TÔ PHÁN XÉT KẺ SỐNG VÀ KẺ CHẾT

678 1470.        Tiếp nối các ngôn sứ (x. Đn 7,10; Ge 3,4; Ml 3,19) và Gio-an Tẩy giả ( x. Mt 3,7-12), Đức Giê-su cũng loan báo về cuộc phán xét trong Ngày cuối cùng. Lúc bấy giờ cách ăn nết ở (x. Mc 12,38-40) và bí ẩn trong tâm hồn mỗi người (x. Lc 12,1-3; Ga 3,20-21; Rm 2,16; 1Cr 4,5) sẽ được tỏ lộ. Tội cứng lòng tin, coi thường ân sủng của Thiên Chúa sẽ bị kết án (x. Mt 11,20-24; 12,41-42). Thái độ đối với đồng loại sẽ cho thấy người ta đón nhận hay từ chối ân sủng và tình yêu Thiên Chúa (x. Mt 5,22; 7,1-5). Đức Giê-su sẽ phán: "Mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi làm cho chính Ta vậy" (Mt 25,40).

679 1021.        Đức Ki-tô là Chúa của sự sống vĩnh cửu. Với tư cách là Đấng Cứu Thế, Người có toàn quyền xét xử chung cuộc công việc và lòng dạ con người. Người "có được" quyền này nhờ Thập Giá. Cho nên Chúa Cha "đã ban cho Con mọi quyền xét xử" (Ga 5,22) (x. Ga 5,27; Mt 25,31; Cv 10,42; 17,31; 1Tm 4,1). Nhưng Chúa Con không đến để xét xử, mà để cứu độ (x. Ga 3,17) và thông ban sự sống của Người(x. Ga 5,26). Ai chối từ ân sủng ngay ở đời này, thì đã tự xử lấy chính mình (x. Ga 3,18;12,48), tự nhận lấy hậu quả công việc của mình (x. 1Cr 3,12-15), và có thể tự chuốc lấy án phạt đời đời, vì từ chối Thánh Thần tình yêu. (x. Mt 12,32; Dt 6,4-6; 10,26-31.)

TÓM LƯỢC

680.     Chúa Ki-tô đã bắt đầu hiển trị qua Hội Thánh, nhưng muôn loài chưa qui phục Người. Cuộc toàn thắng của Vương Quốc Đức Ki-tô sẽ chỉ đến sau cuộc tấn công cuối cùng của các thế lực sự dữ.

681.     Trong ngày phán xét cuối cùng, Đức Ki-tô sẽ đến trong vinh quang để hoàn tất cuộc chiến thắng tối hậu của sự lành trên sự dữ, mặc dù trong suốt lịch sử, chúng cùng phát triển như lúa tốt và cỏ lùng.

682.     Khi đến phán xét kẻ sống và kẻ chết trong ngày tận thế, Đức Ki-tô vinh hiển sẽ phơi bày mọi tâm tư thầm kín và thưởng phạt mỗi người theo việc họ làm, tùy họ đón nhận hay từ chối ân sủng.

 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Đăng ký nhận tin
Nhập email để nhận được những tin tức mới nhất từ chúng tôi.
Thống kê truy cập
  • Đang truy cập76
  • Hôm nay4,821
  • Tháng hiện tại160,729
  • Tổng lượt truy cập813,875
Đánh giá website

Quý vị đánh giá website GPLS thế nào?

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây