Yêu Thương trong Kitô-Giáo

Chủ nhật - 22/07/2018 08:45 35 0
“Cha yêu Thầy thế nào, Thầy cũng yêu anh em như vậy. Hãy ở lại trong tình thương của Thầy”. (Gio.15.9)
Yêu Thương trong Kitô-Giáo

Thiên Chúa Cha yêu Con thế nào, hẳn là không tưởng tượng nổi. Thế mà Đức Kytô yêu chúng ta như thế đấy. Và chỉ có “người đệ tử mà Đức Giêsu thương”, tức Gioan, kẻ tựa đầu trên ngực Chúa trong bữa Tiệc Ly biệt, đã phần nào cảm nhận nổi bề sâu và bề cao của Tình Thầy, và qua đó bề sâu và bề cao của Tình Cha, nên trong một xuất thần linh hứng, đã thốt lên :-“Thiên Chúa là Tình Yêu (ho theos agapê estin) !” (1 Gio.4.9). Vâng, không phải Thiên Chúa yêu, mà Ngài là Tình Yêu. Nói cách khác, Yêu thương là bản chất (bản tính) của Ngài! Do đó, không yêu anh em thì không hiểu Ngài (1 Gio.4.8).
 
Chính vì Thiên Chúa là Tình yêu, nên mệnh lệnh hay con đường (Đạo) mà Con Ngài mang từ Trời đến là :”Hãy yêu nhau như Thầy đã yêu anh em !” (Gio.15.12). Mà Thầy đã yêu thế nào, tới mức nào? Thầy đã chết bằng cái chết đau đớn nhất và ô nhục nhất để cứu chúng ta khỏi sự tội và sự chết! Và do đó, Thập tự nói lên cái mức vượt mức của Tình yêu nói trên. Nói cách khác, Thánh giá là biểu hiện đặc thù của Tình yêu chính hiệu Kytô giáo!
 
Để hiểu rõ hơn cái Tình yêu đặc sản Kytô-giáo này, chúng ta có thể mang so sánh nó với yêu thương trong các tôn giáo khác và trong những truyền thống luân lý phi tôn giáo.
 
Yêu thương trong các tôn giáo bạn và trong những nền luân lý phi tôn giáo
 
Có hai truyền thống luân lý phi tôn gáo là Socrate bên Tây và Nho-Lão bên Đông. Còn về tôn giáo thì có hai cái nôi lớn là : (a) Cận-Trung đông với Do thái giáo, Kytô giáo, Hồi giáo; (b) Nam Á với Bà la môn giáo, Ấn độ giáo, Kỳ na giáo và Phật giáo.
 
Socratês (470-399 TCN) bên Hy lạp nghĩ rằng : Con người gồm hai thành phần : Xác thuộc đại cơ thể Vũ trụ, Hồn hay trí năng thuộc Đại trí năng tối cao. Do đó, với con người cũng có hai thứ hạnh phúc : khoái lạc thấp hèn của xác, và hạnh phúc siêu tuyệt của hồn. Hạnh phúc này nằm ở đức hạnh. Vì hồn là trí năng, nên đạo đức có trí tính. Do đó, chỉ kẻ ngu dốt mới làm bậy. Và để con người trở nên đạo hạnh, chỉ cần giúp nó trở về với nội tâm vốn sáng suốt, theo nguyên tắc “Tự biết mình” (gnôthi seauton, connais-toi toi-même). Vâng, việc của ông thầy chỉ là “đỡ đẻ”, nghĩa là giúp đệ tử tự hiểu lấy mình, để thấu triệt chân lý đạo đức, nhờ đó có hạnh phúc thiêng liêng.
 
Có điều nếu đạo đức, dù là trong ái nhân, chỉ vì hạnh phúc của riêng mình, thì chưa phải là yêu người đến quên thân!
 
Về phía Cực Đông hay Đông Á xưa kia, Khổng Tử (551-478 TCN) cho rằng Mệnh Trời đã chiếu in thành Tính nơi tâm trí con người, nên chỉ việc nhìn sâu vào mình sẽ hiểu được Đạo Trời. Thế mà Đạo hay Đức Trời đất, đó là Sụ sống : “Thiên địa chi đại đức, viết Sinh”. Nên sống theo đạo trời đất thì phải bồi bổ cho sự sống. Thế nhưng giữa các sinh vật, con người vượt hẳn lên trên, “nhân linh ư vạn vật”. Vì thế, sống theo lương tri, người  quân tử trọng chữ Nhân. Sống Nhân thì phải khắc kỷ (bỏ tư dục) mà yêu người (ái nhân). Có điều Ái nhân đến mức độ nào, thì Đức Khổng chỉ nêu lên nguyên tắc :”Sở kỷ bất dục, vật thi ư nhân (cái mình không ham, đừng làm cho người)” (Luận ngữ : Nhan Uyên XII}, nghĩa là yêu Bằng mình, chứ chưa phải quên mình, hi sinh chi cả.
 
Nếu Khổng Tử chủ trương lấy đức hóa dân, thì Lão Tử dùng cách “Vô vi”, cứ để dân sống theo Tự nhiên, như “xích tử (con đỏ)”, thì mọi cái sẽ xuôi êm, mọi người đều an lạc. Vì tự bản chất, mỗi người đã hướng về Đạo mà nên thanh thoát, thẳng ngay và thực thà.
 
Bởi thế, nguyên tắc sống của Đạo đức kinh là Phác (chất phác), nghĩa là đơn sơ theo tự nhiên, ít tư riêng nên bớt ham muốn :”thiển tư, quả dục”. Và như vậy sẽ luôn thỏa mãn về những gì mình có :”Tri túc giả phú” (thấy đủ, đó là giầu rồi).
 
Còn trong quan hệ với người khác, thì Đạo đức kinh nhấn vào Bất tranh và Từ (LXVIII). Không tranh giành giống như nước, thì chẳng thiệt hại chi cả. Còn Từ là một tình thương hướng về hết thảy, bởi Đạo Trời không thiên vị ai. Riêng đối với kẻ thù, nếu Khổng tử dạy “dĩ trực (lấy ngay thẳng mà) báo oán”, thì Lão tử gần lại với Kytô giáo hơn do chủ trương “dĩ đức báo oán”. Gần hơn thôi, khi mà Chúa Kytô đòi phải yêu kẻ thù và làm ơn cho kẻ làm hại mình (Luc.6.27vt.). Đúng là Đạo đức kinh cũng chủ trương “hậu kỳ thân” (để thân lại đằng sau), nhưng chỉ là “nhi thân tồn” (để còn thân), thế thôi.
 
*
 
Sau khi đã xem xét những truyền thống luân lý phi tôn giáo bên Đông cũng như bên Tây, nay chúng ta quay sang chủ trương yêu mến trong các tôn giáo bạn.
 
Hãy bắt đầu với Ấn Độ, từ đó xuất phát Bà la môn giáo, Ấn Độ giáo có tính đại chúng, Kỳ na giáo (Jaina) và Phật giáo với khởi phát chỉ là con đường tu hành thôi.
 
Ấn độ giáo đại chúng phân đôi, thành Shiva-giáo thờ Shiva làm Thượng thần, và Vishnu-giáo thờ Vishnu. Còn Bà la môn giáo xuất khởi từ Áo nghĩa thư, để rồi từ Áo nghĩa thư suy tư và tu luyện, làm nên những nền triết học Vedânta, để rồi quán định theo, sao đạt tới đại định, hay huyền nghiệm, nó giải thoát tu nhân đắc đạo.
 
Dù ở trong Shiva-giáo hay Vishnu giáo, một số người thuộc tập cấp (caste, varna) cao vẫn đi ẩn tu theo đúng luật. Những con đường tu luyện khác nhau được gọi là Yoga (Đạo), trong đó có Hatha-yoga (Mãnh lực-đạo), Dhyâna-yoga (Thiền-đạo),v.v… Ngoài việc chuyên tâm quán định, tu nhân còn phải tuân giữ một thứ luân lý xuất thế với những đức như trong sạch, khổ hạnh, không vấn vương được vun trồng.
 
Và như thế, người tu hành chỉ tìm giải thoát cho bản thân, nên cũng không bàn đến chuyện nhân nghĩa hay quan hệ tốt với thần thánh và người ngoài. Có điều sau công nguyên, Vishnu-giáo nghiêng theo Bhakti (sùng mộ), có lẽ do ảnh hưởng của Kytô giáo, nên cố trau dồi lòng kính mến đến phó thác (prapatti) đối với Thượng thần, trong khi Thượng thần cũng ban ân sủng (prasâda) cho những người mộ đạo ấy.
 
Xuất phát từ Ấn Độ, tỳ kheo Phật giáo coi tất cả là hư không và cố xa lìa cái ngã khi diệt bỏ tham-sân cho cõi lòng thanh thoát, hầu đạt giác ngộ (buddhatva). Có điều Phật giáo cũng chủ trương “từ bi vô lượng”. Từ bi không chỉ là Luật (Vinaya), mà  còn là Pháp (Dharma), như Đức Phật căn dặn các tỳ kheo trong chương XXI của Majjhima-nikâya (Trung bộ kinh) như sau :
 
-“…chúng ta phải sống Từ và Bi, lòng thì lân ái, bao bọc người khác trong sự yêu thương của