Dòng Tu hiện diện trong Giáo phận: Dòng Đaminh (nam)

Thứ hai - 20/08/2018 07:36 67 0
“Đấng làm cho Hội thánh không ngừng sinh thêm nhiều con cái, vì muốn cho thời hiện đại này hợp với thời tiên khởi và muốn truyền bá đức tin Công giáo, đã gợi lên cho anh em tâm tình đạo đức này là : nhờ ấp ủ đức thanh bần và khấn giữ nếp sống tu trì, anh em tận hiến cho việc công bố Lời Thiên Chúa, loan truyền danh Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, trên toàn thế giới.”1
Dòng Tu hiện diện trong Giáo phận: Dòng Đaminh (nam)

I. Giới Thiệu Tổng Quát Về Dòng

1. Đấng Sáng Lập

Cuối thế kỷ XII, một nạn đói xảy ra ở Palencia (Tây Ban Nha). Chứng kiến nhiều người nghèo chết vì thiếu lương thực, một chàng sinh viên thần học đã đem bán hết sách vở, là thứ quý giá nhất của mình, để cứu giúp cho những số phận đau thương. “Làm sao tôi có thể học trên những tấm da chết trong khi người ta chết đói ?” Chàng sinh viên tốt bụng ấy tên Domingo de Guzmán (tiếng Việt quen gọi là Đa Minh), chào đời tại làng Caleruega, Tây Ban Nha vào năm 1170.

Lên bảy tuổi, Đa Minh được gửi học với cậu của mình là một Linh mục. Hoàn tất chương trình thần học và được thụ phong Linh mục, cha Đa Minh gia nhập Kinh sĩ đoàn của nhà thờ chính toà Giáo phận Osma (Tây Ban Nha). Chính tại đây, trong đời sống chiêm niệm của cộng đoàn Kinh sĩ, cha Đa Minh nhận ra ơn gọi riêng của mình là cầu nguyện cho các tội nhân, cho những người nghèo và những người đau khổ.

Năm 1203, nhân chuyến tháp tùng Đức cha Diego, Giám mục Osma, công du đến miền Bắc Âu, cha Đa Minh gặp một chủ quán trọ theo lạc giáo Cathares. Nhóm lạc giáo này chủ trương sống triệt để tinh thần khó nghèo Tin Mừng, nhưng đi đến quá khích là coi thường thân xác và đối nghịch với Giáo Hội. Ngọn lửa nhiệt tâm với ơn cứu độ các linh hồn trong chiêm niệm giờ đây bừng cháy, cha Đa Minh thức suốt đêm tranh luận với người chủ quán và đã thuyết phục được người này trở lại với đức tin chính thống của Giáo Hội. Cuộc gặp gỡ và hoán cải có tính ngôn sứ này đã gợi hứng cho cha Đa Minh ý tưởng thành lập nhóm giảng thuyết.

2. Thành Lập Dòng

Thời gian đầu, cha Đa Minh giảng thuyết dưới quyền Đức cha Diego. Năm 1207, Đức Giám mục qua đời ; cha Đa Minh “đơn thương độc mã,” tiếp tục giảng thuyết tại Carcassonne (Pháp), nơi lạc giáo đang hoành hành. Cho đến năm 1215, có hai anh em ao ước được chia sẻ với cha Đa Minh niềm đam mê giảng thuyết vì “ơn cứu độ các linh hồn.” Cộng đoàn Anh Em Giảng Thuyết đầu tiên ra đời ở Toulouse, với sự chấp thuận của Đức cha Foulques, Giám mục Toulouse.

Tại Công đồng Laterano IV (1215), cha Đa Minh và Đức cha Foulques đệ trình Đức Thánh Cha Innocente III kế hoạch thành lập một Dòng tu mới. Ngày 22/12/1216, cộng đoàn Anh Em Giảng Thuyết do cha Đa Minh thành lập được Đức Thánh Cha Hônôriô III phê chuẩn. Kể từ đó, các anh em của cha Đa Minh được gọi là “Dòng Anh Em Giảng Thuyết” (Ordo Fratrum Praedicatorum, viết tắt O.P.), cũng quen gọi là Dòng Đa Minh.

Dòng thành lập chưa được bao lâu, cha Đa Minh tụ họp 16 anh em tiên khởi tại Prouilhe và sai từng hai người một đến các thành phố lớn ở Châu Âu để giảng thuyết, học hành và thành lập các tu viện. Cha tin tưởng ủy thác sứ vụ cho các anh em của mình với những lời lẽ khích lệ : “Hạt giống tốt sinh hoa trái khi được phát tán, bằng không sẽ thối rữa nếu chất đống với nhau.” Hôm ấy là lễ Mông Triệu, 15/08/1217, được xem như ngày lễ Ngũ Tuần của Dòng.

3. Linh Đạo

Dòng Anh Em Giảng Thuyết, như chính tên gọi của Dòng, là cộng đoàn các anh em nhận lãnh sứ vụ giảng thuyết – “công bố Lời Thiên Chúa, loan truyền danh Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, trên toàn thế giới.”2 Để chu toàn nhiệm vụ này, cha Đa Minh đã đề ra cho anh em một lối sống, một linh đạo, đó là anh em “ở đâu cũng phải sống chính trực và đạo đức như những người khao khát ơn cứu độ của mình và của những người khác, như những con người của Tin Mừng, theo chân Đấng Cứu độ, chỉ nói với Thiên Chúa hay về Thiên Chúa, với mình hoặc cho tha nhân.”3

Để làm rõ ý hướng của cha Đa Minh, Hiến pháp Dòng gọi nếp sống này là nếp sống của các Tông đồ theo thể thức thánh Đa Minh cưu mang, tức là “chung sống đồng tâm nhất trí, trung thành tuân giữ các lời khuyên Tin Mừng, sốt sắng cử hành chung phụng vụ, đặc biệt là việc cử hành Thánh Thể và kinh thần vụ cũng như việc cầu nguyện, chuyên cần học hỏi, kiên tâm tuân giữ nếp sống tu trì.”4 Những việc này một khi được chu toàn không những làm tôn vinh Thiên Chúa và thánh hóa bản thân, mà còn chuẩn bị và thúc đẩy việc giảng thuyết nhằm phục vụ ơn cứu độ con người.5 Những yếu tố này của đời sống Đa Minh được hài hoà và quân bình trong một tập thể nhờ một cách thức quản trị mang tính cộng đoàn, theo đó, các thành phần có thể hợp tác một cách hữu cơ và thích hợp trong việc theo đuổi mục đích riêng của Dòng.

Những nét đặc trưng trên đây của linh đạo Đa Minh không chỉ giới hạn trong Dòng Anh Em Giảng Thuyết, mà còn được mở rộng đến các chị em Đan sĩ, và Huynh đoàn Giáo dân Đa Minh (Dòng Ba). Chính sự góp mặt của các thành phần này làm nên sự phong phú và tính đa dạng của linh đạo Đa Minh.

4. Hoạt Động Tông Đồ

Làm thần học…

Thời kỳ đầu, hoạt động chính của anh em Đa Minh chủ yếu là ở những đại học lớn của Châu Âu với tư cách là giáo sư thần học và giảng sư ở nhiều nhà thờ chính toà. Bên cạnh những nhà thần học lỗi lạc thuộc Dòng Đa Minh như thánh Anbêtô Cả và thánh Tôma Aquinô, chúng ta cần phải kể đến cha Vincent de Beauvais, O.P. (+1264), một nhà bách khoa toàn thư của thời Trung cổ, cũng như những văn sĩ thần bí lừng danh như tôn sư Eckhart, O.P., Johannes Tauler, O.P., và Chân phước Henry Suso, O.P.. Đến nay tư tưởng của của các vị này vẫn tiếp tục được nghiên cứu. Ngoài ra, Dòng còn có một nhà thần bí đặc biệt là thánh Catarina Siena. Không chỉ bằng ngôn ngữ triết học, thánh khoa và thần bí, anh em Đa Minh còn diễn tả chân lý đức tin bằng biểu tượng của nghệ thuật tâm linh, như những bức hoạ của Chân phước Fra Angelico, Fra Bartolomeo, v.v..

…và truyền giáo

Cùng với sứ vụ thần học tại các trung tâm Châu Âu, các anh em Đa Minh còn chú trọng đến sứ mạng truyền giáo. Có thể kể đến một vài nhà truyền giáo nổi tiếng ngay sau thời thánh Đa Minh như thánh Giaxintô (+1257), vị tông đồ của Bắc Âu và Đông Âu, thánh Vinh Sơn Phêriô (+1419), được mệnh danh là “Ông trạng phép lạ.” Cuối thế kỷ XV, nhờ sự phát triển của ngành hàng hải, anh em Đa Minh đặc biệt hướng đến các hoạt động truyền giáo ở những châu lục xa xôi.

Tại Châu Á, một Tỉnh Dòng truyền giáo (Tỉnh Dòng Mân Côi, gốc Tây Ban Nha) được thành lập năm 1582 tại Philippines. Từ đây, các tu sĩ Đa Minh đem ánh sáng Tin Mừng đến các nước Trung Hoa, Việt Nam, Nhật Bản, v.v.. Công cuộc truyền giáo tại Châu Á đặc biệt gắn liền với những chứng tích của các anh hùng tử đạo. Chỉ riêng Tỉnh Dòng Mân Côi đã có 57 nhà truyền giáo tại Châu Á (phần lớn ở Việt Nam và Nhật Bản) được phong hiển thánh và chân phước, ấy là chưa kể 42 vị khác là Huynh đoàn Giáo dân Đa Minh.

II. Dòng Đa Minh Tại Việt Nam

1. Lược Sử

Dòng Đa Minh có mặt tại Việt Nam từ khi cha Gaspard Santa Cruz đặt chân lên đất Hà Tiên năm 1550. Năm 1587, Tỉnh Dòng Rất Thánh Mân Côi (Tây Ban Nha) được thành lập tại Philippines. Tỉnh Dòng đã thực hiện bốn chuyến truyền giáo theo yêu cầu của nhà cầm quyền Chân Lạp. Về sau, theo lời mời của các Giám mục tại Việt Nam, Dòng đã có mặt và phục vụ Giáo Hội địa phương liên tục từ năm 1676. Suốt ba thế kỷ, 240 thừa sai người Tây Ban Nha đã được gửi đến Việt Nam để mở rộng và củng cố nền móng Giáo Hội tại đây.

Miền truyền giáo Đa Minh là địa phận Đông Đàng Ngoài, được trao cho Dòng phụ trách từ năm 1756, nay là 5 Giáo phận : Hải Phòng, Bùi Chu, Thái Bình, Bắc Ninh và Lạng Sơn.

Trải qua các cuộc bách hại dưới thời Chúa Trịnh, các vua Minh Mạng và Tự Đức, Dòng vẫn không ngừng phát triển, và đã đóng góp cho Giáo Hội nhiều chứng nhân anh hùng. Trong số 117 thánh Tử Đạo Việt Nam, gia đình Đa Minh có 38 vị: gồm 6 Giám mục và 16 Linh mục Dòng ; 3 Linh mục, 6 Thày giảng và 7 Giáo dân thuộc Huynh đoàn Đa Minh. Ngoài ra, còn 118 Đấng đáng kính đang chờ được suy tôn chân phước, và rất nhiều vị tử đạo khác.

Thế kỷ XX đã làm thay đổi bộ dạng và xê dịch địa bàn hoạt động của Dòng Đa Minh tại Việt Nam rất nhiều. Từ năm 1676, vùng truyền giáo của Dòng Đa Minh là miền “Đông Đàng Ngoài.” Nhưng vào hậu bán thế kỷ, tiếp theo Hiệp định Genève năm 1954, lãnh thổ đã dời xuống địa phận Sài Gòn.6

  • Năm 1931, thiết lập trường Đệ tử ở Hải Dương.

  • Năm 1934, khánh thành tu viện-tập viện đầu tiên ở Quần Phương.

  • Năm 1954, đất nước chia đôi, anh em di cư vào Nam.

  • Năm 1956, thiết lập Phụ Tỉnh Việt Nam, với Bề trên Phụ Tỉnh tiên khởi là cha Giuse Nguyễn Tri Ân (1956-1964).

  • Năm 1958, Tập viện đầu tiên tại Miền Nam được thành lập ở Gò Vấp, làm nền móng cho sự phát triển mạnh mẽ của Tỉnh Dòng về sau.

  • Ngày 18/03/1967, Bề trên Tổng quyền Aniceto Fernandez đã chính thức thành lập Tỉnh Dòng Đa Minh tại Việt Nam, với tước hiệu: Nữ Vương Các Thánh Tử Đạo; Bổn mạng: Đức Mẹ Sầu Bi, kính ngày 15/09. Vị Giám tỉnh tiên khởi là Linh mục Gioakim Nguyễn Văn Liêm (từ tháng 6/2015  đến nay là cha Giuse Nguyễn Đức Hoà).

  • Biến cố 30/04/1975 đã tạo thêm một thực thể của Dòng Đa Minh tại hải ngoại : Phụ Tỉnh Vinh Sơn Liêm, trụ sở tại Calgary (Canada).

  • Ngày 22/05/1999, Bề trên Tổng quyền Timothy Radcliffe ký nghị định hợp nhất Tỉnh Dòng Nữ Vương Các Thánh Tử Đạo, Việt Nam và Phụ Tỉnh Pháp tại Việt Nam.

2. Các Hoạt Động

Về công tác đào tạo thần học, năm 1967, Dòng khánh thành Học viện Đa Minh Thủ Đức để đào tạo Linh mục tương lai cho Dòng. Đến năm 1971, Học viện được chọn làm Học viện Liên Dòng. Khi Học viện bị tiếp quản (1978), công tác này vẫn được tiếp tục, tuy âm thầm hơn. Hiện nay Trung tâm Học vấn Đa Minh, Gò Vấp, sau khi sát nhập với đại học thánh Tôma, Manila, đã được quyền cấp văn bằng Cử nhân Thần học.

Bên cạnh đó, các tu sĩ Đa Minh cũng góp phần cho việc khai sinh và phát triển các Học viện Thần học Liên Dòng nam và nữ ; giảng dạy tại các Đại chủng viện Hà Nội, Sài Gòn, Xuân Lộc ; biên soạn các giáo trình, tài liệu thần học, dịch thuật Kinh Thánh và các văn kiện Tòa Thánh, v.v. ; biên tập Nội san “Chia Sẻ” của Liên tu sĩ thành phố Hồ Chí Minh và Tập san “Thời sự Thần học.”

Về mục vụ, hiện nay các tu viện tại thành phố đều gắn liền với các hoạt động mục vụ của giáo xứ do tu viện đảm trách. Tại Hố Nai, đền thánh Máctinô là trung tâm hành hương cho nhiều tín hữu với các hoạt động mục vụ thánh lễ, giải tội, học hỏi giáo lý, bác ái v.v.. Tỉnh Dòng cũng tiếp tục phục vụ tại các giáo xứ gốc di cư như Ngọc Đồng, Thánh Tâm (Hố Nai), Lạc Lâm (Đơn Dương), Cao Xá (Tây Ninh).

Đặc biệt, một công việc mục vụ khác cũng chiếm khá nhiều nhân lực của Tỉnh Dòng là tổ chức và huấn luyện cho các Huynh đoàn Giáo dân Đa Minh với con số gần 100.000 đoàn viên tại 16 Giáo phận. Ngoài ra, còn có nhiều tu sĩ dấn thân mục vụ cho các nhóm giáo chức, sinh viên, di dân, khuyết tật, H.I.V., v.v..

Về sứ vụ truyền giáo, nhờ gia tăng số tu sĩ, gần đây Tỉnh Dòng mở rộng cộng tác truyền giáo tại nhiều Giáo phận như : Hưng Hóa, Lạng Sơn, Bắc Ninh, Hải Phòng, Bùi Chu, Thái Bình, Vinh, Đà Nẵng, Kontum, Ban Mê Thuột và Cần Thơ. Anh em Đa Minh Việt Nam cũng đang thử nghiệm hiện diện tại Hàn Quốc, Đài Loan, Thái Lan và một số quốc gia trong khu vực.

d

3. Các Cộng Đoàn

Không kể Tu viện – Học viện thánh Đa Minh, Thủ Đức và Tu viện – Tập viện thánh Tôma, Vũng Tàu hiện Nhà Nước vẫn đang quản lý, Tỉnh Dòng có các cộng đoàn sau đây :

  • Cộng đoàn Trụ sở Tỉnh Dòng, quận 3, thành phố Hồ Chí Minh.

  • Tu viện thánh Anbetô Cả, Phú Nhuận, thành phố Hồ Chí Minh.

  • Tu viện Rất thánh Mân Côi, Gò Vấp, thành phố Hồ Chí Minh.

  • Tu viện Mai Khôi, quận 3, thành phố Hồ Chí Minh.

  • Tu viện thánh Máctinô Porét, thành phố Biên Hòa, Đồng Nai.

  • Tu viện thánh Vinh Sơn Liêm, Dĩ An, Bình Dương.

  • Tu xá thánh Đa Minh, Đà Lạt.

  • Tu xá thánh Gia Thịnh, Hòa Hội, Châu Thành, Tây Ninh.

  • Tu xá Cát Đàm, Đông Hòa, Thái Bình.

  • Tu xá thánh Tôma Aquinô, Bangkok, Thái Lan.

Tại Việt Nam, 29 giáo xứ, giáo họ được trao cho các tu sĩ Dòng coi sóc : 5 tại Giáo phận thành phố Hồ Chí Minh, 4 tại Giáo phận Xuân Lộc, 5 tại Giáo phận Hưng Hóa, 3 tại Giáo phận Phú Cường, 3 tại Giáo phận Vinh, 1 tại các Giáo phận Đà Lạt, Kontum, Bà Rịa, Đà Nẵng, Bắc Ninh, Bùi Chu, Lạng Sơn, Thái Bình và Hải Phòng. Ngoài ra, các tu sĩ của Dòng còn hiện diện với tư cách phó xứ tại Giáo phận Ban Mê Thuột và Hà Nội.

Ở hải ngoại, ngày 09/11/1980, Bề trên Tổng quyền Vincent de Couesnongle ký quyết định bổ nhiệm cha Giuse Nguyễn Công Lý làm bề trên phụ tỉnh tiên khởi của Phụ Tỉnh thánh Vinh Sơn Liêm, Calgary, Alberta, Canada (Prot. 37b/80/1532).

Ngày 29/04/2009, Bề trên Giám tỉnh tuyên bố nâng Phụ Tỉnh thành Miền Dòng (Prot. 01/2009/TL). Hiện nay Miền Dòng có 1 tu viện, 2 tu xá. Ngoài ra, anh em còn coi sóc 5 giáo xứ tại Hoa Kỳ và 4 giáo xứ tại Canada.

Trong ranh giới Tỉnh Dòng còn có : Đan viện Đức Maria Chúa Thánh Linh, Ngũ Phúc, Trảng Bom, Đồng Nai, Giáo phận Xuân Lộc.

III. Sinh Viên Theo Học Tại Trung Tâm Học Vấn

Sau giai đoạn 2 năm thỉnh viện và 1 năm tập viện, Dòng bắt đầu gởi anh em theo ơn gọi Linh mục học tại Trung tâm Học vấn Đa Minh. Hiện nay,  số anh em đang theo học là 77 ; trong đó, khoa Triết học : 28 anh em, khoa Thần học: 49 anh em.

Tại Giáo phận Lạng Sơn Cao Bằng, dòng hiện diện từ rất sớm. Giáo phận được thiết lập Phủ Doãn Tông Toà năm 1913, Toà Thánh trao Lạng Sơn Cao Bằng cho các cha dòng Đaminh Lyon coi sóc.

Hiện nay, Dòng Đaminh phục vụ tại Giáo xứ Lộc BÌnh và huyện Đình Lập với hai Linh mục là Giuse Trần Văn Diệu và Giuse Nguyễn Tiến Đức. Hàng năm cũng thường xuyên có các tu sỹ ra giúp mục vụ.

 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Đăng ký nhận tin
Nhập email để nhận được những tin tức mới nhất từ chúng tôi.
Thống kê truy cập
  • Đang truy cập74
  • Máy chủ tìm kiếm15
  • Khách viếng thăm59
  • Hôm nay10,697
  • Tháng hiện tại151,788
  • Tổng lượt truy cập355,417
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây