Ngày 15/10: Thánh Têrêsa Avila Đồng Trinh, Tiến Sĩ Hội Thánh (1515-1585)

Thứ tư - 14/10/2020 11:47 53 0
Ngài được tuyên thánh năm 1628 và ngày 27 tháng 9 năm 1970, Đức giáo hoàng Phaolô VI đã đặt Ngài làm tiến sĩ Hội Thánh .
Ngày 15/10: Thánh Têrêsa Avila Đồng Trinh, Tiến Sĩ Hội Thánh (1515-1585)

Sinh ngày 28 tháng 3 năm 1515, Têrêxa là một trong 12 người con của ông Anphong Cpêda, lớn lên tại Avila, vương quốc Castille, miền đất của mộng mơ và của các thánh ". Ngài ham thích đọc các sách dạy sống khổ hạnh và suy gẫm cuộc đời các thánh. Với lòng nhiệt thành, Ngài ngây ngất vì hạnh phúc vĩnh cửu ân thưởng cho những đau khổ của các thánh, cũng như kính sợ những khốn khổ của hoả ngục tồn tại mãi mãi. Ngài đã nói trong run sợ: - Ai có thể chịu nổi cái ý nghĩ như vậy được ?

Mong mỏi được tử đạo, một ngày kia, Ngài lén dẫn cậu em Rodrigue đi về miền dân dữ tợn đang hành hạ các Kitô hữu này. Nhưng mới đi được nửa dặm đường thì ông cậu bắt được và dẫn đưa về nhà. Không tử đạo được, các em sẽ trở thành những nhà ẩn tu. Các em làm những cái hầm và cầu nguyện lâu giờ tại đó. Nhưng rồi một ngày kia, những bức tường nhỏ bằng đá bị sập. Các em nhỏ thánh thiện này thường nhịn ăn để làm việc bác ái.

Năm 13 tuổi, tức năm 1528, Têrêxa mất mẹ, Ngài khấn nài Mẹ Maria là Mẹ. Chuỗi Mân Côi trở thành vịệc sùng kính đặc biệt của Ngài.

Têrêxa có một bản chất ngay thẳng, nhiệt hành và tha thiết mến Chúa. Khoảng 15 tuổi, Ngài lén đọc các truyện kiếm hiệp làm cho Ngài ra mơ mộng, lúc này, Ngài muốn mặc đẹp, xức dầu thơm, lo trang sức và thích được ve vãn. Chị em cho Ngài xinh đẹp. Một cô em họ ngây ngất không muốn rời xa Ngài. Họ nói truyện phiếm với nhau hàng giờ. Têrêxa nói: - Tôi được cứu thoát, chính là vì kính sợ Chúa, điều mà tôi không bao giờ bỏ mất, và vì sợ mất danh dự.

Ngài còn nói : - Tôi đã rất ghê tởm những điều bất lương.

Dầu vậy cha Ngài cũng lo âu và quyết định gởi Ngài học nội trú ở nơi các nữ tu dòng thánh Augustinô. Têrêxa không thích thú gì, nhất là đã không hề muốn rằng sau này mình sẽ là nữ tu. Nhưng Ngài phải vâng lời. Và Ngài sắp tìm lại được lòng đạo đức nhiệt thành của tuổi thơ khi sống gần các bậc thầy này. Hơn khi nào, Ngài khao khát những của cải đời đời. Nhưng đời sống khắc khổ trong tu viện làm Ngài run sợ.

Têrêxa ngã bệnh. Ngài trở về nhà cha và nghe ông cậu nhắc lại rằng mọi sự đời này chỉ là phù vân và sẽ qua mau như chớp. Sau cùng Ngài hiểu rằng: ơn gọi của mình là sống đời tu sĩ. Nhưng những chống đối dữ dội nổi lên trong lòng. Hơn nữa, Ngài phải coi thường những chối từ của cha Ngài. Năm 1536, Ngài vào dòng kín Camelô, sau khi phải chịu đựng cuộc chiến đấu kinh khủng với chính mình : để giã từ nhà cha, Ngài khổ sở đến độ xương cốt như rã rời và tan nát con tim. Nhưng rồi Ngài đã mạnh mẽ thắng vượt mọi cám dỗ đau khổ.

Têrêxa đã trải qua 27 năm tại tu viện Nhập Thể, là nơi luật lệ được châm chước cho phép giải trí và tiếp khách, Ngài còn phải qua một bước dài trước khi dấn mình vào con đường cực nhọc để xây dựng và cải sửa các dòng tu. Trước hết, sức khỏe của Ngài xem ra không chịu đựng nổi. Bệnh tật, Ngài trở về nhà, các bác sĩ tuyên bố là bất trị, Ngài tín thác vào thánh Giuse và khỏi bệnh sau một cơn ngất trí. Trở lại tu viện, Ngài được chị em yêu mến.

Cách nói chuyện hấp dẫn của Ngài lôi kéo nhiều cuộc viếng thăm. Ngài kể lại:

- Một đàng Chúa gọi tôi, đang khác thì thế gian lôi kéo. Cuộc chiến nội tâm xâu xé tôi.

Ngày kia trong một câu chuyện trần tục, Ngài đã được thị kiến thấy Chúa Giêsu đầy thương tích. Têrêxa thấy đau lòng, nhưng Ngài còn phải chiến đấu nhiều để đạt tới chỗ chỉ yêu các tạo vật trong Chúa và vì Chúa. Trong nhiều năm, Ngài đã trải qua sự khô khan, qua cơn sợ hãi hỏa ngục. Trong vòng 20 năm Ngài đã không tìm ra cha giải tội hiểu được Ngài và muốn bàn về việc thị kiến. Thánh Phanxicô Borgia đã trấn an Ngài.

Sau cùng, các cha giải tội buộc Ngài ghi lại điều đã xảy ra trong tâm hồn. Và thánh nữ, một con người ít học, đã viết nên được những tác phẩm có giá trị, đến nỗi Ngài đã đáng được danh hiệu là Tiến Sĩ Hội Thánh.

Nếu trước hết, sự sợ hãi các khổ cực đời đời đã dẫn Têrêxa vào đường hẹp đưa tới chỗ cứu rỗi thì bây giờ tình yêu Chúa xâm chiếm Ngài như cơn hỏa hào. Các cuộc xuất thần tăng thêm. Ba Ngôi, Đức Trinh nữ, các thiên thần và các thánh hiện ra với Ngài. Ngài được nâng lên khỏi mặt đất và ở nguyên như vậy khi cầu nguyện. Vào tuổi 43, thánh nữ thường thấy Đấng cứu thế và nghe Người nói: - Cha không muốn con nói chuyện với loài người, nhưng với các thiên thần.

Một thiên thần dùng giáo đâm thủng tim Ngài và Chúa Giêsu gọi Ngài là hiền thê. Cho tới cuối đời, Ngài đã hiệp nhất với đấng cứu chuộc bị đóng đinh và đã ước được chịu khổ vì Người đến nỗi người ta thường nghe Ngài kêu lên: - Lạy Chúa, hoặc là chết, hoặc là đau khổ.

Ngài tự ràng buộc bởi lời khấn anh hùng này, là luôn làm điều thiện hảo hơn, nhưng lại chẳng tỏ ra nhiệm nhặt chút nào, trái lại còn nhanh nhẹn vui tươi duyên dáng tới độ gõ sênh mua vui cho các nữ tu dòng kín Camêlô. Vị nữ tu chiêm niệm này còn tỏ lộ một sự hiểu biết tích cực, một tinh thần thực tiễn sẽ đưa Ngài tới cuộc cải đổi dòng Camelô.

Định mệnh đặc biệt sắp đưa Ngài qua mọi chặng đường để thiết lập các tu viện. Trước hết năm 1562, khép mình ở Avila nhưng một nhà mang danh thánh Giuse, là nơi các nữ tu sống trong thinh lặng, nghèo khó, cầu nguyện, chay tịnh, đi chân không trong mọi mùa, Têrêxa ra khỏi nơi này và không ngừng thiết lập, tổ chức những tu viện mới. Hầu như luôn luôn bệnh hoạn, Ngài theo đuổi những cuộc hành trình mệt lả trước sự nóng nung, làm mồi cho các côn trùng tấn công hay những đêm lạnh lẽo mùa đông đã giữ Ngài lại trong những đoạn đường không tên không có nơi trú ẩn. Những cuộc bắt bớ tấn công Ngài. Ngài viết cho một ân nhân: - Cho tiền bạc chẳng là gì, nhưng khi chúng tôi như đến lúc bị ném đá, thì công việc lại trôi chảy.

Và khi mẹ đã vượt thắng mọi ngăn trở và thiết lập các tu viện mới, cơn đau đớn nhức nhối lại đợi chờ Ngài vì phải giã từ con cái yêu dấu để ra đi xây dựng tu viện ở nơi khác. Đây là : - Nỗi thống khổ đớn đau nhất. Tim tôi tan nát đau khổ nghĩ rằng: sẽ không còn gặp lại họ nữa.

Thánh Gioan thánh giá trợ lực, Ngài trải rộng việc canh tân tới các cha dòng Carmes mà Ngài muốn tái lập sự nghiêm ngặt ban đầu, điều gây nên cho Ngài nhiều xôn xao và dường như làm cho Ngài bị cầm tù. Nhà vua và đức giáo hoàng bảo vệ Ngài. Ngài đã thiết lập hơn 30 tu viện. Hoạt động chưa từng nghe thấy của Ngài, những việc thiết lập, những cuộc du hành, những khó khăn vô số... đã không ngăn cản Ngài vui hưởng sự hiện diện của Chúa, kiên trì cầu nguyện, và thường xuất thần, Ngài nói : - Tôi không hiểu tại sao người ta bảo tôi là nhà sáng lập, chính Chúa sáng lập chứ không phải tôi.

Người ta còn nói lại những phép lạ của Ngài, như tăng thêm đống bột để nuôi cả cộng đoàn. Khi đi qua đồng quê, nhiều gia đình lũ lượt xin Ngài ban phép lành.

Giữa các hoạt động lạ lùng, Têrêxa vẫn viết về đời mình mà Ngài gọi là sách các kỳ công của Chúa, và "Lâu Đài Nội Tâm" là nơi tâm hồn Ngài, từng phòng một vươn tới uy linh Chúa. Với sự linh hoạt, Ngài biết dùng vài lời tóm gọn tất cả sự thánh thiện :

- Phải can đảm để trở thành phụ nữ của vua trên trời.

- Đừng lo suy nghĩ nhiều, nhưng là yêu nhiều.

- Ta nhân đức hơn khi liên kết với nhân đức của Chúa, hơn là dính chặt với phận bụi đất của ta.

- Nỗ lực của ta là bắt chước con tằm, xây tổ của ta bằng cách tẩy trừ ích kỷ và thực hiện những việc xám hối cầu nguyện, hy sinh, vâng lời. Thiên Chúa sẽ biến ta thành bướm trắng khi Ngài muốn.

- Quan trọng là biết yêu mến và kính sợ, hai nhân đức vĩ đại.

- Khi bị đau khổ bên ngoài cần chăm lo làm việc bác ái và biết hy vọng vào lòng thương xót của Chúa.

Ngài có chút hài hước trong sự thánh thiện, như lời hóm hỉnh được biết đến nhiều, khi Ngài bị thương ở chân : - Lạy Chúa, sau bao nhiêu phiền muộn lại đến chuyện đó nữa, Cha đối xử với bạn hữu của cha như thế đó…. Vâng lạy Chúa của con, không lạ gì mà Chúa ít bạn.

Lòng Ngài rảo khắp thế giới : - Những người Ấn độ nghèo khổ này làm tôi đổ bao nhiêu là nước mắt.

Têrêxa qua đời tại miền quê ở Albe de Tormès ngày 04 tháng 10 năm 1583. Chính tình yêu quá mức hơn là con bệnh đã đưa tới cái chết của Ngài. Khi đưa Thánh Thể vào phòng, Ngài đã ngăn cho Ngài khỏi tung ra khỏi giường. Ngài đã la to: "Lạy Chúa, đến lúc chúng ta gặp nhau rồi". Và đời đời, Têrêxa đã hiệp nhất với tình yêu.

Ngài được tuyên thánh năm 1628 và ngày 27 tháng 9 năm 1970, Đức giáo hoàng Phaolô VI đã đặt Ngài làm tiến sĩ Hội Thánh .
 


Lễ nhớ buộc

 

I. Ghi nhận lịch sử - phụng vụ

Thánh nữ Têrêxa Avila qua đời tại Alba de Tormes, Tây Ban Nha, ngày 5 (theo lịch cũ Julien) hay ngày 15 tháng 10 năm 1582, ngày bắt đầu lịch mới Grégoire. Ngài được Đức Giáo Hoàng Grégoire XV phong thánh năm 1622, và được Đức Giáo Hoàng Phaolô VI tuyên dương là tiến sĩ Hội Thánh năm 1970.

Têrêxa Giêsu, gọi là Avila (tên Tây Ban Nha là Teresa de Ahumada y Cepeda), sinh ngày 28 tháng 3 năm 1515 ở Avila (Tây Ban Nha), trong một gia đình quí tộc gồm 8 cậu con trai và 3 cô con gái. Được thấm nhiễm những câu truyện và những bài đọc đạo đức, lúc 8 tuổi, cô bé trốn nhà đến sống “giữa người Maures”  với hi vọng được tử đạo để “thấy Thiên Chúa”.Sau khi bị bắt về nhà, cô đã sống những năm hạnh phúc trong gia đình. Rất xinh đẹp và có duyên, cô cũng phần nào thích làm đỏm và vướng vào một chuyện rắc rối ngây thơ với một người anh họ. Bấy giờ – cô khoảng 16 tuổi – cha cô phải gửi cô đến ở nhà dòng thánh Augustine ở Avila; tại đây cô đã có quyết định trở thành nữ tu. Vì thế, sau khi trở về nhà, cô bị cha chống đối ơn gọi, nên cô đã trốn nhà để đi vào dòng Carmel Chúa Nhập Thể ở Avila ngày 2 tháng 11 năm 1537. Tại đây cô đã tuyên khấn trọng thể ngày 3 tháng 11 năm 1537, lúc 22 tuổi.

Tư chất thông minh nhưng sức khoẻ lại yếu kém, chị Têrêxa Giêsu gặp nhiều thử thách nghiêm trọng về sức khỏe; sau này chị nói với cha Diego: “Thưa cha, con nghi ngờ không biết có cơ thể sống nào lại chịu nhiều đau khổ hơn con.” Cũng thế, đời sống thiêng liêng của chị, trong khoảng hai mươi năm, cũng chỉ tỏ ra bình thường không có sự sốt sắng đặc biệt nào, cho tới mùa chay 1554, khi chị đọc quyển Tuyên Xưng (Confessions) của thánh Augustinô và suy ngắm trước hình Chúa chịu đánh đòn, chị đã hoán cải để bước vào một đời sống sốt mến nồng cháy. Từ đó, tình yêu Thiên Chúa của chị sẽ trở thành một “ngọn lửa thiêu đốt”. Sáu năm sau, “thị kiến” hoả ngục làm chị hiểu được giá trị của các linh hồn và mối nguy mất linh hồn. Lúc ấy chị quyết định làm mọi sự để cứu rỗi các linh hồn. Thế là bắt đầu thời kỳ thứ hai của cuộc đời Têrêxa Giêsu. Lúc ấy chị 40 tuổi.

Khao khát sống theo Tin Mừng hơn, và nhận thấy sự lỏng lẻo về kỷ luật tu trì trong tu viện của chị cũng như trong các tu viện khác của dòng Carmel, chị quyết định hiến mình cho việc cải cách Dòng. Được thánh Phêrô Alcantara và thánh Phanxicô Borgia nâng đỡ, năm 1562, chị Têrêxa lập tu viện cải cách đầu tiên của các chị dòng Carmel “đi chân không”, tu viện Thánh Giuse ở Avila. Tại đây, các nữ tu nghiêm ngặt tuân giữ bộ Luật Dòng Carmel nguyên thuỷ. Các ơn gọi tăng nhanh và sự sốt sáng của các chị em thật cao vời. Vài năm sau, năm 1567, chị được phép của Bề trên tổng quyền Carmel thiết lập thêm những tu viện cải cách khác. Thế là chị Têrêxa Giêsu bắt đầu một đời sống kỳ diệu, hầu như luôn luôn hành trình trong sự thiếu tiện nghi và nguy hiểm. Năm 1571, chị trở về làm bề trên tu viện Chúa Nhập Thể ở Avila (1571-1574) và tổ chức công cuộc cải cách ở đây, với sự trợ giúp của thánh Gioan Thánh Giá. Sau đó chị lại tiếp tục các cuộc hành trình để mở những tu viện mới. Năm 1567, bề trên tổng quyền dòng Carmel cho phép chị Têrêxa Giêsu lập những tu viện cải cách cho nam giới; chị trao nhiệm vụ này cho thánh Gioan Thánh Giá, cha giải tội của chị từ 1572 đến 1577. Như thế, đến khi chị mất năm 1582, chị đã lập được 16 tu viện nữ và 14 tu viện nam.

Thánh Têrêxa Avila đã để lại cho chúng ta một kho văn chương vô cùng phong phú, có giá trị tuyệt vời. Các tác phẩm của thánh nữ được xếp theo trình tự thời gian gồm: Sách cuộc đời (tiểu sử tự thuật); Con đường hoàn thiện; Các tư tưởng về Tình yêu Thiên Chúa; Các lời cảm thán; Hiến pháp Dòng; Lập các tu viện; Cách thức kinh lý tu viện; Lâu đài nội tâm hay Bảy nơi cư trú của linh hồn (hành trình của ân sủng trong bảy nơi cư trú của linh hồn); Các lời khuyên; Các tư tưởng và các bản văn ngắn khác; Các vần thơ; Thư từ (khoảng 650 lá thư). Tính cách của thánh Têrêxa Avila được phản ánh trong các tác phẩm của ngài mà ngày nay vẫn còn sức hấp dẫn đối với các tín hữu và người ngoại đạo. Những tác phẩm nay tạo cho thánh Têrêxa Giêsu một chỗ đứng độc đáo, không những trong lãnh vực tôn giáo, mà cả trong lãnh vực văn chương miền Castille và thế giới.

II. Thông điệp và tính thời sự

Những bản văn phụng vụ làm nổi bật những đặc điểm khoa linh đạo của thánh nữ Têrêxa.

Lời Nguyện của ngày gợi ra “con đường hoàn thiện” mà thánh nữ đã vạch ra cho Hội Thánh qua những tác phẩm và gương sáng của ngài, cũng như “học thuyết thiêng liêng của ngài” khiến ngài nhận được danh hiệu “tiến sĩ Hội Thánh”.

Theo thánh Têrêxa, thực sự Thiên Chúa là tất cả, nhưng loài người trong sự hư vô của mình không thể nào đạt tới Thiên Chúa nếu không có Chúa Kitô, “Đấng ban mọi điều lành cho chúng ta.” Chỉ mình ngài làm chúng ta nhận biết Thiên Chúa và chỉ mình Người cho chúng ta gặp được Thiên Chúa. Nếu Thiên Chúa là tình yêu, thì Chúa Giêsu là “Người bạn và Người lãnh đạo tốt lành”, “Người bạn chân thực”. “Hãy nhìn ngắm cuộc đời Người, đó là mẫu mực hoàn hảo nhất.” “Thiên Chúa muốn chúng ta nhận được mọi sự nhờ bản tính nhân-thần này . . . và chúng ta phải vào qua cửa này nếu chúng ta muốn Thiên Chúa uy linh mạc khải những bí nhiệm vĩ đại của Người.” (Tiểu sử).

Nếu Thiên Chúa là viên đá chóp đỉnh của học thuyết thiêng liêng của thánh Têrêxa Giêsu, thì kinh nguyện là từ chủ chốt. Thánh nữ mô tả kinh nguyện như “một mối quan hệ tình bạn thân thiết nhờ đó một mình nói chuyện với Thiên Chúa mà chúng ta biết mình được Người yêu thương” (Tiểu sử). Lời cầu nguyện lấy chất liệu từ trong Tin Mừng, và theo thánh nhân nói, “những lời Tin Mừng luôn làm tâm hồn tôi lắng đọng hơn mọi cuốn sách tuyệt nhất” (Con Đường . . . ), và kinh nguyện cũng đòi hỏi những điều kiện thích hợp: thanh vắng, thinh lặng, nghèo khó, v. v... Tuy nhiên, nếu chúng ta muốn kết hợp với Thiên Chúa trong thanh vắng và qua kinh nguyện, thì không phải vì một mục đích ích kỷ, mà phải vì vinh quang Thiên Chúa, vì muốn đem Chúa đến cho người khác, nói với Chúa về người khác. Mối quan tâm đến các linh hồn luôn hiện diện trong tâm trí thánh Têrêxa, khiến thánh nữ từng nói sẵn sàng hy sinh cả ngàn lần đời mình–nếu ngài có–để cứu dù chỉ một linh hồn. Chính vì thế thánh nữ đã viết, các nữ tu Carmel đi chân không của tư tưởng viện thánh Giuse đã “khấn hứa cầu nguyện cho các vị bảo vệ Hội Thánh, các nhà giảng thuyết và các nhà thần học.” (Con đường): “Kinh nguyện của những người phụng sự Thiên Chúa có tác động rất lớn” (Tiểu sử).

Lời Nguyện trên lễ vật bộc lộ rõ “quả tim hoàn toàn dâng hiến (cho Thiên Chúa)”của thánh Têrêxa. Không ngừng trò chuyện với Thiên Chúa, thánh nhân thường xuyên được lôi cuốn vào trạng thái xuất thần. Thậm chí ngài còn được in năm dấu thánh, như ngài kể trong Tiểu sử (29, 13) và đã được nhà điêu khắc Bernin tạc thành tác phẩm tuyệt vời bằng đá cẩm thạch (Thánh đường Đức Mẹ Chiến Thắng, Rôma). Tuy nhiên, thánh Têrêxa Giêsu không bao giờ cho rằng sự thánh thiện hệ tại những hiện tượng phi thường. Bản thân ngài “hoàn toàn cháy lửa mến Chúa nồng nàn”, thánh nữ khuyên dạy các chị em tu sĩ của mình đâu là điều cốt yếu của sự thánh thiện: “Ai có Thiên Chúa thì không thiếu sự gì: Thiên Chúa là đủ cho họ. Mọi của cải của chúng ta là ở việc chu toàn thánh ý Chúa ... Là con người thiêng liêng đích thực, các chị em có hiểu điều đó nghĩa là gì không ? Đó là làm những nữ tỳ của Thiên Chúa.

Với Lời Nguyện sau hiệp lễ, chúng ta cầu xin Chúa cho chúng ta có thể ca hát tình thương Chúa đến muôn đời, giống như thánh nữ Têrêxa Avila.

Cả cuộc đời, nhất là sau “cuộc hoán cải”, thánh nữ giống như bị thiêu đốt vì lòng khao khát Thiên Chúa. Ca Nhập lễ (Như con nai khao khát nước sự sống . . . ), và thánh thi của Giờ Kinh Sách diễn tả niềm khao khát vĩnh cửu: “Chết vì không được chết / luôn luôn đeo đuổi ngài / đến nơi ở thứ bảy / tâm điểm của linh hồn / và ngài đến loan báo / Tình yêu gọi chúng ta.

Trên giường hấp hối, thánh nữ Têrêxa bộc lộ niềm khao khát Thiên Chúa bằng những lời đầy cảm hứng và nồng cháy: “Lạy Chúa và Hôn phu của con, giờ mong đợi đã đến. Đây là lúc chúng ta hội ngộ. Người Yêu của con, Chúa của con, đã đến giờ ra đi. Giờ đã đến. Xin cho ý Chúa thể hiện. Vâng, đã đến giờ con từ bỏ cõi lưu đày này và là giờ hồn con vui hưởng Chúa, Đấng con hằng khao khát.”

Thánh nữ Têrêxa ra đi về nhà Hôn phu, “khuôn mặt bừng cháy như mặt trời”. Ngài đã linh cảm được giây phút này và tả lại nó trong một tác phẩm của mình: “Con bướm vàng bé nhỏ đã chết trong niềm vui mênh mang là tìm thấy nơi an nghỉ, và Chúa Kitô sống trong nó . . . Nguyện cho Người được mọi tạo vật chúc tụng và tán dương đến muôn đời.” (Lâu Đài . . .  VIII Dem. 3, 1 và 15).

 Enzo Lodi




 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Đăng ký nhận bản tin
Nhập email để nhận được những tin tức mới nhất từ chúng tôi.
Thống kê truy cập
  • Đang truy cập26
  • Máy chủ tìm kiếm2
  • Khách viếng thăm24
  • Hôm nay7,929
  • Tháng hiện tại330,521
  • Tổng lượt truy cập7,724,608
Đánh giá website

Quý vị đánh giá website GPLS thế nào?

Thư của HĐGM.Việt Nam
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây