www.giaophanlangson.org

Giáo Hội Công Giáo với chữ Quốc ngữ (1)

Thứ sáu - 01/12/2017 12:44
Ngoài những hoạt động tín ngưỡng được điều chỉnh bởi một văn bản quy phạm pháp luật có giá trị pháp lý cao, trên đất nước Việt Nam hiện nay có 15 tổ chức tôn giáo đã được Nhà nước thừa nhận, trong số này có Giáo hội Công giáo[1].
Cha Đắc Lộ và Chữ Quốc ngữ trong Phép giảng Tám ngày

enter site Cha Đắc Lộ và Chữ Quốc ngữ trong Phép giảng Tám ngày

go site Đạo Công giáo bắt đầu “chính thức” được truyền giảng ở Việt Nam đầu thế kỷ 17. Thời ấy và sau này ở nước ta quen gọi Tam giáo để chỉ cho Phật giáo, Khổng giáo và Lão giáo là ba đạo đã ăn sâu vào xã hội, ảnh hưởng rộng lớn, sâu xa trong đất nước Con Rồng Cháu Tiên, dù ba đạo trên đều có nguồn gốc từ hai nước châu Á: Trung Quốc và Ấn Độ; còn Tin Lành, Cao đài, Hoà Hảo chưa có mặt ở Việt Nam thời kỳ ấy.

click here Đạo Công giáo cũng có nguồn gốc từ châu Á, nhưng trong thực tế đã mặc lấy văn hóa Âu châu rồi; cho nên vào thế kỷ 17 lúc khởi sự “chính thức” truyền đạo vào Việt Nam do những người Âu châu, đạo này bị nhiều người coi là “đạo Tây” hay ít ra cũng bị coi là “đạo nước ngoài”, hơn nữa “tà giáo”. Tuy gặp biết bao khó khăn do “Tây với Ta” mới gặp gỡ nhau, hai bên chưa hiểu nhau, nhưng số người Việt theo đạo này cũng không phải là quá ít, nhất là ở Đàng Ngoài năm 1659 đã có 240 nhà thánh tức là nhà thờ[2] và sau 36 năm truyền giáo (1627-1663), đã có tới 350.000 người tòng giáo.

Các tôn giáo cũng như nhiều hoạt.động tín ngưỡng ở Việt Nam, nhìn chung, đem lại nhiều lợi ích cho dân tộc. Thực ra, nhiều người tùy theo trình độ hiểu biết của mình, nhận định khác nhau về rất nhiều mặt của các tín ngưỡng, tôn giáo; hơn nữa, cũng còn tùy theo thời kỳ lịch sử của đất nước mà một tôn giáo, hay họat động tín ngưỡng được đề cao hoặc bị đánh giá rất thấp, thậm chí đáng phải triệt hạ.

Đạo Công giáo được giới thiệu với xã hội và dân tộc Việt Nam không thuận lợi và dễ dàng như tại nhiều nước khác. Nhưng dù ở trong nhiều hoàn cảnh văn hoá, xã hội, chính trị khó khăn, Giáo hội Công giáo vẫn kiên trì theo đuổi con đường đã được vạch ra từ 2000 năm nay.

Trong số những công việc của Giáo hội Công giáo, thì xem ra việc sáng tao chữ Quốc ngữ được hầu hết dân tộc ta đánh giá cao nhất. Hiện nay ai đó có thể thiếu thiện cảm với Công giáo, hơn nữa không tán thành việc sử dụng chữ Quốc ngữ trong cả nước, nhưng vẫn phải dùng chữ Quốc ngữ khi giao lưu với đồng bào mình; vì chữ Quốc ngữ đã ra đời từ gần bốn trăm năm nay và từ lâu đã trở thành chữ viết chính thức của cả dân tộc Việt Nam. Chúng ta hãy cùng nhau nhìn lai cách tổng quát chữ Quốc ngữ từ xưa đến nay.

Ở đây chúng tôi nói đến chữ Quốc ngữ abc do các nhà truyền giáo Tây phương sáng tạo, chứ không nói đến chữ Nôm cũng là chữ Quốc ngữ của Việt Nam xưa mà chúng ta biết là do ông Hàn Thuyên lập ra.

Những năm đầu sáng tạo chữ Quốc ngữ

Nhờ nhiều tư liệu chính xác về thời kỳ sáng tạo chữ Quốc ngữ cách nay gần 400 năm, chúng ta đều biết được những ai, trong hoàn cảnh nào và bằng phương thức nào, đã sáng tạo chữ Quốc ngữ. về những điểm này chúng ta có thể tìm thấy ở nhiều sách báo ngày nay. Tuy nhiên, chúng tôi cũng xin phép nhắc lại đôi ba dòng sau đây:

Nhóm người đầu tiên sáng tạo chữ Quốc ngữ là các giáo sĩ Dòng Tên đến truyền giáo tại Đàng Trong (từ 18-1- 1615) và Đàng Ngoài (từ 19-3-1627). Họ là những người thuộc quốc tịch Bồ Đào Nha, Ý, Nhật, Trung Quốc và Toà thánh .v.v… (nên nhớ từ 11-2-1929 mới chính thức gọi là Toà thánh Vatican), đa số là người Bồ Đào Nha.

Giáo sĩ thành thạo tiếng Việt nhất trong nhóm này là Francisco de Pina (1585-1625)[3]người Bồ Đào Nha. Ông đến Đàng Trong năm 1617, thế mà năm 1620 đã soạn ra được một tập giáo lý bằng ngôn ngữ bản địa Đàng Trong (lingoa da terra, Cocincinensi idiomate) và ông đã dạy giáo lý mà không cần thông dịch viên, khác với tất cả giáo sĩ khác đến đây từ năm 1615. Vào năm 1623, Pina viết một báo cáo bằng tiếng Bồ Đào Nha gửi về bề trên ở Áo Môn (Macau, Macao): “Tôi đã soạn một tập nhỏ về chính tả và các dấu thinh của tiếng này [Việt] và tôi đang bắt tay vào việc soạn cuốn ngữ pháp”[4]. Hồi giáo sĩ Đắc Lộ (Alexandre de Rhodes) bắt đầu đến Đàng Trong vào đầu tháng 2-1625, cũng đã trở thành học trò của Pina về tiếng Việt.

Còn giáo sĩ thứ hai trong nhóm này thành thạo tiếng Việt là Gaspar d’Amaral cũng là người Bồ Đào Nha. Ông ở Thăng Long từ 1629-1630 và 1631-1638. Nhưng ngay từ cuối tháng 12-1632, trình độ chữ Quốc ngữ của ông lúc ấy hơn cả Đắc Lộ vào năm 1636[5]. Chính Amaral đã soạn cuốn từ điển Việt-Bồ mà Đắc Lộ nhắc đến trong từ điển của ông.

Một nhân vật khác rất quen thuộc với chúng ta là giáo sĩ Đắc Lộ[6], người đã có công hoàn thành chữ Quốíc ngữ, đặc biệt hơn hết đó là người đầu tiên đã cho in 3 sách chữ Quốc ngữ tại Roma năm 1651 1. Dictionarium annamiticum, lusitanum, et latinum; 2. Linguae annamiticae seu Tunchinensis brevis declaratio (Ngữ pháp tiếng Việt)[7]; 3. Cathechismus – Phép giảng tám ngày cho kẻ muốn chiụ phép rứa tội, muốn biết đạo thánh đức Chúa blời.

Từ đó trở đi, chữ Quốc ngữ vẫn được một số rất ít người sử dụng. Có thể nói, từ giai đoạn Giám mục Bá Đa Lộc (Pigneau de Béhaine, 1741-1799) viết cuốn từ điển Dictionarium anamitico-latinum vào năm 1772-1773 cho tới ngày nay tức là sau 232 năm, cách ký âm chữ Quốc ngữ hầu như giống nhau hoàn toàn. Xưa nay có nhiều người đề ra một số cải cách chữ Quốc ngữ, nhưng xem ra không được đại đa số tán thành.

Tại sao có chữ Quốc ngữ?

Khi các nhà truyền giáo bước chân vào VN từ đầu thê kỷ 17, VN có hai loại chữ viết: chữ Hán và chữ Nôm. Chữ Hán là văn tự chính thức trong việc giáo dục, học hành, thi cử và mọi lãnh vực khác suốt từ triều đình vua Lê, chúa Trịnh, Nguyễn cho đến làng xã; nhưng trong giao tiếp hàng ngày, từ vua chúa đến người dân đều dùng ngôn ngữ Việt. Còn chữ Nôm là thứ chữ VN vay mượn nhiều hình thức chữ Hán để lập ra một thứ chữ riêng của VN, không được trọng dụng và phổ biến, lại còn bị đa số người Việt khinh thường. Chữ Hán thì khó học, phải ròng rã 10 năm cũng chẳng đọc hết được mọi chữ, vì có tới 60.000-80.000 chữ, mặc dù chỉ cần thuộc lòng 3.000-4.000 chữ là đủ dùng; đến chữ Nôm cũng chẳng dễ dàng tí nào. Bao nhiêu năm đèn sách, dùi mài kinh sử mới đạt được kết quả ! Chính vì muốn có một thứ chữ viết dễ dàng hơn, không lệ thuộc vào dạng Hán tự (khó nhớ), nên các nhà truyền giáo với sự cộng tác của một số người Việt trong tu hội Thầy giảng, như thầy Phanxicô Đức, thầy I Nhã, thầy Bento Thiện, các ông đã dần dần hoàn thành chữ Quốc ngữ. Đúng ra là các nhà truyền giáo đầu tiên có sáng kiến này, còn những người Việt mình chỉ là cộng tác viên trực tiếp hay gián tiếp.

Xem ra các giáo sĩ Dòng Tên truyền giáo ở nước ta từ đầu thế kỷ 17 muốn bắt chước các nhà truyền giáo Dòng Tên ở Nhật Bản để sáng tạo chữ viết theo mẫu tự La tinh. Thời kỳ đó, bên Nhật đã xuất bản vài cuốn sách ngữ vựng và ngữ pháp dạng mẫu tự abc[8].

Mục đích chính và thực tế của việc sáng tạo chữ Quốc ngữ là để các nhà truyền giáo nước ngoài học tiếng Việt dễ dàng hơn (qua mẫu tự abc) cho sứ vụ truyền giáo, đồng thời để một số rất ít người Việt cũng qua mẫu tư abc trong chữ Quốc ngữ, làm quen với tiếng Bồ Đào Nha, La tinh, nhất là La tinh[9] văn tự chính thức của Giáo hội Công giáo toàn cầu, vẫn còn được sử dụng trong các Đại học nổi tiếng ở châu Âu thời đó, như Cọmbra, Salamanca, Paris, Kưln, Bologna, Oxford.

Theo chúng tôi biết, căn cứ vào những sử liệu hiện còn lưu trữ ở Lisbõa, Roma, Madrid, Paris, khi sáng tạo chữ Quốc ngữ, các thừa sai không dám có cao vọng dùng chữ Quốc ngữ thay thế cho chữ Hán, Nôm đã được sử dụng từ lâu đời ở VN. Các ông chỉ muốn coi đó là dụng cụ cho việc truyền đạo.
 

Chữ Quốc ngữ được sử dụng trong nội bộ Giáo hội

Một số người Việt đầu tiên biết chữ Quốc ngữ, có lẽ thuộc Tu hội Thầy giảng (được thành lập tại kinh đô Thăng Long 27-4-1630 và tại Hội An 31-3-1643). Đến năm 1659 thầy giảng Bento Thiện và Igesico Văn Tín đã viết thư bằng chữ Quốc ngữ gửi về Áo Môn cho linh mục Filippo Marini (truyền giáo tại Đàng Ngoài từ 1647-1658); đặc biệt là Bento Thiện theo lời yêu cầu của Marini, còn viết một tập Lịch sử nước Annam (mà chúng tôi đã cho in lại nguyên bản gốc trong cuốn Lịch sử chữ Quốc ngữ 1620- 1659, để Marini sử dụng cho cuốn sách của ông viết về Đàng Ngoài và sẽ được ấn hành tại Roma năm 1663[10]. Tập Lịch sử này viết bằng chữ Quốc ngữ với lời văn khá trôi chảy, hơn nữa còn được viết bằng phương pháp rất mới đối với xã hội ta thời quân chủ độc tài.

Thật ra, trong mấy chục năm đầu các Thầy giảng chưa phải học thứ chữ mới mẻ này. Trái lại, các thầy có luật buộc phải học chữ Hán, vì chữ Hán là văn tự chính thức của cả nước gồm hai xứ Đàng Trong và Đàng Ngoài. Ba thầy giảng đầu tiên ở Đàng Ngoài đều thạo chữ Hán, vì các thầy đã được thụ huấn trong nhà chùa, nhất là thầy Phanxicô Đức, còn ở Đàng Trong thì thầy I Nhã đã có bằng cấp chữ Hán, thuộc loại “sinh đồ, tú tài”. Trong tập luật ngắn gọn của các Thầy giảng Đàng Ngoài do Gaspar d’Amaral soạn lúc ông ở Thăng Long, rồi được ông viết trong bản tường trình gửi về Áo Môn năm 1637, đã ghi rõ là các thầy phải học giáo lý và chữ Hán, không thấy nói tới việc học chữ Quốc ngữ[11].

Nói chung thì cho đến cuối thế kỷ 19, chữ Quốc ngữ hầu như chỉ được sử dụng trong nội bộ Giáo hội và dùng vào lãnh vực tôn giáo. Việc linh mục Philiphê Bỉnh (1759- 1832) trong thời gian ở Lisbõa từ 1796 đến khi qua đời tại đây năm 1832, đã viết 21 cuốn sách bằng Quốc ngữ (hiện còn được lưu trữ trong Thư viện Toà thánh Vatican) là một sự kiện lớn của lịch sử văn học Quốc ngữ. Trường hợp Petrus Trương Vĩnh Ký, Paulus Huỳnh Tịnh Của và rất ít người ở Nam kỳ thời đó đã viết sách Quốc ngữ quả là hiếm hoi, đằng khác hai vị trên đây đều xuất thân từ Đại chủng viện hoặc từ “nhà Đức Chúa Trời” mà ra, nghĩa là đã học chữ này trong thời gian tu trì.

Văn tự chính thức của nước ta vẫn là chữ Hán, ngoài ra còn có chữ Nôm. Cho nên tính đến khoảng giữa thế kỷ 19, trừ một số rất ít người Công giáo ra, không biết có mấy nhà trí thức, quan lại biết chữ Quốc ngữ? Tài liệu nào cho chúng ta hay đại văn hào Nguyễn Du, Nguyễn Đình Chiểu và cả đến nhà bác học Lê Quý Đôn biết và sử dụng chữ Quốc ngữ?

Ngay trong nội bộ Giáo hội cũng chỉ sử dụng chữ Quốc ngữ phần nào. Xem ra cho tới cuối thế kỷ 19, các sách đjo đa phần bằng chữ Nôm, còn một số bằng Quốc ngữ và Hán tự?

Chúng ta có thể dựa vào một số chứng cớ sau đây đầu thế kỷ 17 đến giữa thế kỷ 18, cho biết thời đó “nhà đạo” còn chính thức dùng Hán-Nôm thay vì Quốc ngữ:

–    Tháng 5-1630, Bổn đạo ở kinh đô Thăng Long đệ lên Đức thánh Cha Urbanô VIII một tờ biểu gồm 205 chữ Hán và cùng dịp đó nhóm này gửi sang Bề trên Cả Dòng Tên Mutio Vitelleschi ở Roma một thư cũng bàng chữ Hán gồm 183 chữ[12];

–   Ngày 15-7-1640 ba vị đại diện bổn đạo Đàng Trong viết một tờ biểu tại Thành Chiêm (Thanh Chiêm, Kecham, Cacham) bằng chữ Hán đệ lên Đức thánh cha Urbanô VIII, được Đắc Lộ dịch sang La tinh[13];

–     Ngày 15-11-1673 thầy giảng Simong Tú ở Đàng Trong gửi một thư bằng chữ Nôm cho nhiều bổn đạo từ Huế tới Phú Yên để bênh vực giáo sĩ Dòng Tên Bartolomeu d’Acosta (sinh tại Áo Môn do cha mẹ gốc là người Nhật, truyền giáo ở Đàng Trong) đang bị một số người cũng là bổn đạo Đàng Trong, tố cáo về việc ông không vâng phục Đức cha Pierre Lambert de la Motte, Giám mục Đại diện tông toà Đàng Trong[14];

–     Ngày 25-12-1676 ba linh mục cùng với 100 kẻ giảng, trùm trưởng, biện, câu đương, tất cả là người Đàng

Trong, đệ lên Đức thánh Cha Clemens X tờ biểu bằng chữ Nôm, tố cáo “các thầy Dòng ông thánh Inaxu chẳng vâng phép Đức Thầy Cả Vêtôrô [Pedro: Pierre Lambert de la Motte] cùng cãi nhiều lẽ trái”[15];

–    Năm 1670 Lữ-y Đoan, linh mục Giáo phận Đàng Trong đã viết bộ sấm-truyền ca (Kinh thánh phần Cựu ước) bằng chữ Nôm[16];

–     Ngày 16-8-1750 linh mục Phanchicô Than (?) ở Giáo phận Tây Đàng Ngoài, đặt tay trên sách Phúc âm và trước mặt Giám mục Bản quyền Giáo phận là Đức cha Louis Néez (1680-1764, được tấn phong Giám mục 1739) thề theo bản đã viết bằng chữ Nôm, theo Hiến chế Ex quo singulari 11-7-1742 về “lễ phép nước Ngô.

Thực tế chữ Nôm trong mấy thế kỷ đó là văn tự được dùng nhiều nhất cho các sách “nhà đạo”. Chính vì vậy mà trong từ điển Dictionarium anamitico-latinum do Giám mục Đàng Trong là Đức cha Bá Đa Lộc viết năm 1772-1773 vừa có Quốc ngữ, vừa có Nôm; sau này vào năm 1838, Đức cha Jean-Louis Taberd (Từ) cho xuất bản chính thức cuốn từ điển của Bá Đa Lộc tại Serampore (Ân Độ) có thêm phần ngữ pháp, thi văn, thực vật ở Đàng Trong, các bộ Hán tự…. , đó là cuốn Dictionarium anamitico-latinum, Nam Việt Dương hiệp tự vị cũng có chữ Nôm.

Như chúng ta biết, một số nhà truyền giáo Dòng Tên sáng tạo ra chữ Quốc ngữ, nhưng cũng chính mấy nhà truyền giáo Dòng Tên là những người đầu tiên đã nghiên cứu, học hỏi và viết sách đạo bằng chữ Nôm, như Girolamo Majorica người Ý (1591-1656), Filippo Marini người Ý (1608-1682), Onofre Borgès người Thụy Sĩ (1608-1664)… Trong số này, phải kể Majorica là người sáng tác và phiên dịch nhiều nhất, tới 48 cuốn sách Nôm, như người đồng thời với ông ở Đàng Ngoài là Marini đã ghi nhận[17]. Majorica, với sự cộng tác của một vị Tiến sĩ là Thầy Phanchicô thành Phao (nguyên là quan triều đình, từ quan đi tu chùa trở thành vị Hoà thượng Thành Phao, rồi theo đạo Công giáo)[18] đã viết những sách trên trong thời gian ông ở Đàng Ngoài từ 1632 đến khi qua đời ngày 27-1-1656. Có lẽ đây là bộ sách Nôm cổ đồ sộ nhất hiện nay còn giữ được (lưu trữ trong thư viện quốc gia Paris và Hội thừa sai Paris).

Đến mấv chuc năm đầu thế kỷ 20. trong các Giáo phận ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ dùng sách đạo môt phần bằng chữ Nôm phần kia bằng Quốc ngữ; đó là nói về những linh mục, tu sĩ, chủng sinh; còn phía giáo dân có lẽ dùng sách đạo bằng chữ Nôm nhiều hơn Quốc ngữ. Trong những năm 1903, 1920, 1922, 1926, 1927, các nhà in Công giáo (Nazareth Hongkong, Kẻ Sặt, Kẻ Sở, Trung Hoà thiện bản Hà Nội, Phú Nhai, Qui Nhơn, Tân Định) chẳng những in sách đạo mà còn in cả sách khoa học, văn chương, như Toán học, Thực vật, Động vật, Địa lý, Sử học,Triết học, Thiên văn, Văn chương, Ngôn ngữ … bằng chữ Quốc ngữ, Nôm, Hán, La tinh, Pháp.

Còn nữa.

go to site Tác giả bài viết: Đỗ Quang Chính,SJ

follow Nguồn tin: SJVN

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn