www.giaophanlangson.org

Lược sử Giáo Phận Lạng Sơn - Cao Bằng (3):Thời kỳ đại diện tông toà 1939-1960

Thứ ba - 23/03/2010 02:50
Đức ông Hedde Minh được đặt lên chức giám mục đại diện tông toà năm 1939, Đức Khâm sứ Toà Thánh Drapier làm lễ tấn phong ngày 30-11-1939. Khẩu hiệu: “Cứ ra khơi”.

Đức ông Hedde Minh được đặt lên chức giám mục đại diện tông toà năm 1939, Đức Khâm sứ Toà Thánh Drapier làm lễ tấn phong ngày 30-11-1939. Khẩu hiệu: “Cứ ra khơi”. Ngài nhận chức trong bối cảnh có nhiều biến chuyển trong và ngoài nước: thế chiến II bắt đầu, phong trào yêu nước do mặt trận Việt Minh phát động ngày một phát triển.

 

  Ngày 26-8-1939, máy bay Nhật từ Trung Quốc tới bỏ bom chợ Thất Khê, rồi quân Nhật kéo vào Lạng Sơn. Cùng với quân Nhật, có những quân phiến loạn lợi dụng thời cơ cướp phá. Nhưng tháng 11-1940, quân Pháp đã trở lại ổn định trật tự. Năm 1941, cha Guibert Hiền đi mở xứ Bình Gia. Năm 1942, cha Paul Mongin mở xứ Chợ Bãi.

 

  Mặc dầu cuộc thế chiến II (1939-1945) đã gây ra nhiều đổ nát tại nhiều nước bên châu Âu, nhưng nhìn chung, tình hình giáo phận vẫn tương đối ổn định. Số giáo dân đã lên tới 5.000 người. Số người Nùng xin nhập đạo đông hơn người Tày. Tại hầu hết các thị trấn, thị tứ trong giáo phận đã có cơ sở truyền giáo cho người địa phương. Có nơi số bổn đạo lên tới 300 hay 500. Có nơi ở rải rác từ 50-100 người. Sự cộng tác giữa vị chủ chăn và giáo dân ngày thêm chặt chẽ, gắn bó như các xứ đạo kỳ cựu.

 

  Giáo phận Lạng Sơn dưới thời Đức cha Jacques Mỹ, giám mục phó với quyền kế vị (1948-1960)

 

  André Réginal Jacques Mỹ sinh ngày 9-11-1905 tại Sèvres, gần Paris, khấn dòng Đa Minh tại Angers ngày 15-8-1927, chịu chức linh mục 22-7-1934. Cha Jacques tới Lạng Sơn ngày 26-12-1936, từng phục vụ tại giáo xứ thị xã Cao Bằng và Nguyên Bình (1938-1945). Ngày 6-6-1946 ngài về Pháp chữa bệnh. Ngày 22-1-1948, cha Jacques Mỹ và cha Haag Xuân trở lại Việt Nam, tới Lạng Sơn và có cha Lorry Lộ đi cùng.

 

  Ngày 6-7-1948, toà khâm sứ Huế điện tín cho biết: cha Jacques Mỹ được cử làm giám mục phó với quyền kế vị. Toà vị Cerasa (Sardes). Khẩu hiệu: “Hiến mạng sống mình cho anh em”.

 

  Ngày 30-9-1949, Đức cha Hedde Minh giao quyền cho Đức cha phó. Đây là một thời gian đầy biến động. Ngày 3-10-1950, quân Pháp rút khỏi Cao Bằng và ngày 17-10-1950, thị xã Lạng Sơn được giải phóng. Trong tháng 10-1950, giáo phận có nhiều thay đổi: 7 cha Pháp sơ tán về Hà Nội (các cha Guillo, Haag Xuân, Mongin, Bardol Cảnh, Lorry Lộ, Dreyer Tân). Ở lại Lạng Sơn chỉ còn hai đức cha, cha Guibert Hiền vẫn ở xứ Thất Khê và cha Nerdeux Lý bị bắt làm tù binh mới được tha. Trước khi rút khỏi Lạng Sơn, quân Pháp thúc ép hai giám mục và giáo dân cùng đi nhưng các ngài nhất định ở lại.

 

  Cuộc di cư năm 1954 đã gây nhiều tổn thất cho giáo phận Lạng Sơn. Phần lớn giáo dân (khoảng 2.500 người) và linh mục, tu sĩ bỏ đi Nam. Ở lại giáo phận còn hai đức cha Hedde Minh và Jacques Mỹ; hai cha Pháp Nerdeux Lý, Guibert Hiền; bốn cha Việt Nam: cha Khái, cha Dụ, cha Đức, cha Thu. Số giáo dân ở lại 2.500 (di cư 50%). Trước năm 1954, có 26 giáo xứ và 26 nhà thờ. Sau chỉ còn 11 giáo xứ và 14 nhà thờ.

 

  Năm 1958, Đức cha Jacques Mỹ và hai cha Pháp còn lại phải rời giáo phận và sau đó các ngài sang Lào truyền giáo. Ngày 4-5-1960, sau khi Đức cha Hedde Minh qua đời, giáo phận chỉ còn 4 linh mục Việt Nam.

 

 


 

Phần 1: thời kỳ khai phá

Phần 2: Phủ doãn tông tòa

Phần 3: Thời kỳ đại diện tông tòa

Phần 4: Thời kỳ chính tòa

 

 

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn