www.giaophanlangson.org

Lược sử Giáo Phận Lạng Sơn - Cao Bằng (2): Thời kỳ phủ doãn tông tòa

Thứ ba - 23/03/2010 02:46
Theo Sắc lệnh Tông toà ngày 30-12-1913, Phủ doãn Tông toà Lạng Sơn gồm hai tỉnh Cao Bằng - Lạng Sơn và một phần đất tỉnh Hà Giang (phía Đông sông Lô).

(Xem phần 1)

  (Préfecture Apostolique) 1913-1939

 

  Theo Sắc lệnh Tông toà ngày 30-12-1913, Phủ doãn Tông toà Lạng Sơn gồm hai tỉnh Cao Bằng - Lạng Sơn và một phần đất tỉnh Hà Giang (phía Đông sông Lô).

 

  Phủ doãn tiên khởi: Đức ông Bertrand Cothonay Chiểu, O.P. (1913-1939)

 

  Ngày 5-6-1914, Đức ông Cothonay Chiểu tiếp nhận phủ doãn tông toà Lạng Sơn với cơ sở vật chất, nhân sự rất khiêm tốn. Khu Văn Miếu, Cửa Nam, thị xã Lạng Sơn, có một căn nhà ba gian và một nhà nguyện nhỏ. Cách thị xã Lạng Sơn 30km có cơ sở thứ hai là nhà nguyện Bản Quấn với vài chục giáo dân. Về nhân sự, ngoài cha De Bellaing ở Bản Quấn, có thêm các cha: Brébion Uý, cha Larmurier Khang, cha Bardol Cảnh và 16 chú (tiểu chủng sinh) cùng đi với các cha lên địa phận.

 

  Sau trận lụt to ngày 14-7-1914 gây thiệt hại lớn cho cơ sở Văn Miếu cũ và khu nhà lá mới dựng thêm, Đức ông đã mua lại khách sạn Hầm Mỏ (Hotel des Mines) ở gần ga Lạng Sơn làm toà giám mục, nhà xứ, nơi đào tạo chủng sinh và thầy giảng. Năm 1923 bắt đầu xây nhà thờ chính toà. Tiếp đó, Đức ông mua thêm khu đồn điền Landrieu, cách toà giám mục 2km, để lập giáo xứ Mỹ Sơn, chiêu mộ giáo dân từ miền xuôi lên và lập tiểu chủng viện tại đó. Đầu năm 1922, chủng viện đã có 11 chú (tiểu chủng sinh) và 7 thầy (đại chủng sinh).

 

  Trong năm 1915, Đức ông Cothonay Chiểu mở thêm các xứ Tà Lùng và Thất Khê

 

  Đến năm 1919, chỉ còn lại 6 vị truyền giáo tại chỗ nên Đức ông đã yêu cầu Bắc Ninh tăng cường cho 4 vị là cha Nguyễn Đức Linh, cha Nguyễn Đình Lương, cha Đoán, cha Nghĩa. Họ Vĩnh Rật (ngoại vi Đồng Đăng) do cha Savina Vị thuộc Hội Thừa sai Paris phụ trách.

 

  Đại chiến I (1914-1918) vừa kết thúc thì giáo phận đón nhận thêm 5 vị thừa sai: Maillet Bính, Craven Dự, Trouvé, Hameleers Hạnh và Fabien Moos.

 

  Năm 1920, cha Brébion Uý, sau khi đi thăm Cao Bằng về, đã mua ruộng đất để các nhà xứ có nguồn lương thực tại chỗ.

 

  Cuối năm 1921, sau khi đã xây xong nhà thờ và khu nhà xứ Cao Bình khang trang, cha Brébion Uý trở về Lạng Sơn để xây nhà thờ Bản Lìm.

 

  Năm 1922, giáo phận phong chức cho 2 linh mục tiên khởi là cha Hào và cha Thao. Vì sức khoẻ yếu kém, Đức ông xin từ chức và ngày 31-3-1925, Thánh Bộ Truyền giáo có sắc dụ cử cha Maillet Bính làm phủ doãn thứ hai giáo phận Lạng Sơn.

 

  Đức ông Cothonay Chiểu qua đời ngày 27-5-1926 và được an táng tại khuôn viên nhà thờ Mỹ Sơn. Ngài là người có công đầu tập hợp nhân sự, thiết lập các xứ truyền giáo tuyến biên giới Việt - Trung.

 

  Phủ doãn thứ hai: Đức ông Marie Dominique Maillet Bính, O.P. (1925-1929).

 

  Đức ông Maillet Bính là người ưa hoạt động và nhìn xa trông rộng. Vừa nhận nhiệm vụ, ngài đã xây dựng Tiểu chủng viện Thánh Têrêxa Hài Đồng Giêsu trên sườn đồi Mỹ Sơn.

 

  Đầu năm 1926, có thêm 3 cha tới giáo phận: cha Robert Tế, cha Hedde Minh và cha Fabien Moos. Sau đó, Đức ông mời các nữ tu dòng Đức Bà Truyền Giáo (Notre Dame de Missions) đến giúp. Dòng đặt trụ sở tại Khu Văn Miếu.

 

  Tháng 2-1927, cha Hameleers Hạnh được cử đi lập xứ Tinh Túc, nơi có mỏ Vonfram và thiếc, cách Cao Bằng 70km.

 

  Đức ông đi Pháp vào tháng 9-1928. Ngày 10-6-1929, bề trên giám tỉnh thông báo: Đức ông Maillet Bính đã xin từ chức phủ doãn và được Thánh Bộ Truyền giáo chấp thuận.

 

  Phủ doãn thứ ba: Đức ông Félix Maurice Hedde Minh, O.P. (1929-1939).

 

  Đức ông Hedde Minh sinh tại Brest, ngày 30-3-1879, trong một gia đình sùng đạo. Học xong tiểu chủng viện, ngài xin gia nhập dòng Đa Minh, rồi qua học tại Rosary Hill (New York, USA) và sau đó sang tu viện Saint Etienne tại Jerusalem (Israel). Ngài thụ phong linh mục tại đó ngày 24-5-1902. Năm 1926, ngài được cử sang Bắc Việt, được giao phụ trách giáo xứ Tà Lùng (Cao Bằng) năm 1927. Ngày 14-7-1929, Thánh Bộ Truyền giáo đã ra sắc lệnh cử ngài làm giám quản tông toà miền Lạng Sơn - Cao Bằng.

 

  Giai đoạn giám quản tông toà (1929-1931)

 

  Đức ông Hedde Minh đề nghị Tỉnh dòng gửi thêm nhân sự. Tháng 11-1929, các linh mục Ange Willigers Huy, Ambroise Gagneux Đạt và Feffro Thể tới Lạng Sơn. Nhờ có ba cha mới sang phụ lực, cha Larmurier Khang được đổi về Bản Lìm để hoàn thành cuốn Giáo Lý Cơ Bản bằng tiếng Tày và thiết lập hệ thống “Nhà Đức Chúa Trời” (Nhà Chung). Trong năm 1929, Đức ông cho xây một nhà nguyện nhỏ cho trại phong ở Cao Bằng. Ngày 21-12, thầy Ngọc là người thứ ba của giáo phận được chịu chức linh mục.

 

  Giai đoạn phủ doãn tông toà (1931-1939)

 

  Thấy công việc của Đức ông Hedde Minh tốt đẹp, Toà Thánh đã bổ nhiệm ngài làm phủ doãn tông toà theo Tông sắc ngày 8-1-1931. Nhân dịp này, cha Maillet Bính tình nguyện trở về giáo phận phục vụ dưới quyền bề trên mới.

 

  Năm 1931, Đức ông Hedde Minh gửi thư yêu cầu tỉnh dòng cho thêm người đến Lạng Sơn, nhưng Thánh Bộ Truyền giáo khuyến khích việc đào tạo nhân sự tại chỗ.

 

  Năm 1934, cha Wiligers Huy bỏ xứ Vĩnh Rật để mở xứ Đồng Đăng là nơi có trục giao thông đường sắt, đường bộ. Nhà thờ Đồng Đăng được khánh thành vào dịp lễ Phục Sinh năm đó.

 

  Ngày 25-4-1936, Đức cha Hồ Ngọc Cẩn lên Lạng Sơn giảng phòng và truyền chức cho 4 tân linh mục: cha Thu, cha Lộc, cha Khái, cha Quyền. Lần đầu tiên giáo phận được chứng kiến một thánh lễ trọng thể như vậy. Sau đó cha Phê xuống lập xứ Đồng Mỏ nơi có trục giao thông đường sắt, đường bộ đi qua. Cùng năm, cha Wiligers Huy khởi công xây dựng nhà thờ thị xã Cao Bằng.

 

  Năm 1937, cha Ngọc lên lập xứ Nậm Loát.

 

  Cuối năm 1937, giáo phận đón nhận hai vị thượng khách: Đức Khâm sứ Toà Thánh tại Đông Dương và cha Gillet, Bề trên Cả dòng Đa Minh.

 

  Tháng 2-1938, mở thêm địa điểm truyền giáo Quảng Uyên, là một làng đông người Nùng, nằm giữa Cao Bằng và Tà Lùng. Tháng 3-1938, thiết lập họ Pò Mã (Thất Khê) do cha B. Desgouts Đề phụ trách. Tháng 4-1938, xây dựng nhà thờ Na Sầm. Ngày 18-12-1938, cha Jacques Mỹ lập xứ Nguyên Bình và phụ trách thêm giáo dân mỏ Tinh Túc. Hằng ngày cha đi ngựa xuống các bản làng thăm hỏi, phát thuốc cho các dân bản.

 

  Từ 1919-1939, công việc truyền giáo tại giáo phận Lạng Sơn đã phát triển đáng khích lệ. Vào thời điểm năm 1939, không kể Đức ông Hedde Minh là giám mục tiên khởi, Lạng Sơn có 30 linh mục (16 người Pháp, 14 người Việt), 8 đại chủng sinh (trong đó có 4 người đang du học tại Pháp), tiểu chủng viện có 40 chú. Giáo phận có tất cả 18 nhà thờ hay nhà nguyện. Các xứ mới mở thêm: xứ Trung tâm Cao Bằng, Nguyên Bình, Quảng Uyên, Đồng Đăng (thay Vĩnh Rật), Na Sầm, Bó Tờ, Pò Mã, Nậm Loát và Đông Khê.

 

 

 


Xem tiếp

 



Phần 1: thời kỳ khai phá

Phần 2: Phủ doãn tông tòa

Phần 3: Thời kỳ đại diện tông tòa

Phần 4: Thời kỳ chính tòa

 

 

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn