www.giaophanlangson.org

Lược sử Giáo Phận Lạng Sơn - Cao Bằng (1): Thời kỳ khai phá

Thứ hai - 22/03/2010 15:43
Phần đất giáo phận Lạng Sơn ngày nay thuộc giáo phận Đàng Ngoài (1659-1679). Sau đó, Đàng Ngoài được chia thành Tây và Đông vào năm 1679, giáo phận Lạng Sơn thuộc về Đông Đàng Ngoài.

Đến năm 1848, Đông Đàng Ngoài được chia thành Đông và Trung. Năm 1883, giáo phận Đông Đàng Ngoài lại được chia thành Đông và Bắc. Đông sau này thành giáo phận Hải Phòng (1924), còn Bắc sau được chia thành hai: Bắc Ninh (1924) và Lạng Sơn (1939). Các giáo phận Đông, Trung, Bắc được giao cho các linh mục dòng Đa Minh Tây Ban Nha, thuộc tỉnh dòng Manila, coi sóc ngay từ năm 1679.

 

  Nhà Nguyễn thành lập tỉnh Lạng Sơn - Cao Bằng vào năm 1831. Trong suốt 300 năm truyền giáo từ thế kỷ XVII - XIX, chưa thấy có dấu chân các vị thừa sai trên phần đất của giáo phận Lạng Sơn. Để có thể đẩy mạnh công cuộc truyền giáo ở vùng đất này, cuối năm 1913, phần đất của giáo phận Lạng Sơn ngày nay được tách khỏi giáo phận Bắc Đàng Ngoài để làm thành Phủ doãn Tông toà Lạng Sơn (Préfecture Apostolique de Lạng Sơn) và được giao cho các tu sĩ Đa Minh người Pháp thuộc tỉnh dòng Lyon. Ngày 11-7-1939, Phủ doãn Tông toà Lạng Sơn được nâng lên thành Đại diện Tông toà Lạng Sơn. Ngày 24-11-1960, Lạng Sơn trở thành giáo phận chính toà thuộc giáo tỉnh Hà Nội.

 

  Ta có thể tóm tắt một vài giai đoạn chính trong dòng lịch sử giáo phận như sau:

 

1.     Thời kỳ khai phá - các cha Đa Minh tới Bắc Việt

 

  Vào thời kỳ khai phá gieo Tin Mừng, dân cư miền rừng núi Cao Bằng - Lạng Sơn chưa hề biết tới Đạo Thiên Chúa. Có lẽ người giáo dân đầu tiên tới đây là ông phó Nhậm (phó lý trưởng), con của Thánh Antôn Nguyễn Đích. Ông phó Nhậm bị đày đi xa (phát lưu) lên Cao Bằng vào năm 1858 thời vua Tự Đức. Cũng khoảng năm này, một đại chủng sinh bị phát lưu lên Lạng Sơn tên là Trần Triêm, tức Cụ Sáu Trần Lục.

 

  Vào năm 1876, tại Cao Bằng có chừng 300 giáo hữu, phần lớn là những người bị triều đình Huế phát vãng lên đây.

 

  Ngày 13-6-1881, một phái đoàn gồm 2 linh mục và 3 thầy giảng do cha Fuentes Phê, thừa sai Đa Minh Tây Ban Nha, hướng dẫn, đi từ Thiết Nha lên thám hiểm miền Lạng Sơn và Cao Bằng. Trước khi về, phái đoàn để lại một thầy giảng ở Cao Bằng và một linh mục ở Lạng Sơn. Sau khi thiết lập nhiều đồn bót trên tuyến biên giới Việt - Trung, quân đội Pháp cần có các vị tuyên uý. Đáp ứng nguyện vọng trên, tháng 3-1895, toà giám mục Bắc Ninh đã cử một linh mục lên Lạng Sơn. Ngài đến lập nhà nguyện tại khu Văn Miếu, Cửa Nam, thị xã Lạng Sơn. Tại đây đã có chừng 50 giáo dân miền xuôi lên lập nghiệp.

 

  Vào các năm 1902-1905, mối quan hệ giữa chính quyền bảo hộ Pháp và các cha Tây Ban Nha trở nên căng thẳng, các cha Đa Minh Tây Ban Nha đề nghị các cha Đa Minh Pháp (Tỉnh dòng Lyon) tới giúp. Ngày 9-2-1902, ba thừa sai Đa Minh Pháp đầu tiên tới Hải Phòng là các cha B. Cothonay Chiểu 48 tuổi, cha Bardol Cảnh 26 tuổi và cha Brébion 35 tuổi. Tháng 9-1903, có thêm ba cha Đa Minh Pháp tới Việt Nam là các cha: Robert, Fraisse và Hedde Minh. Đợt thứ ba, các cha Đa Minh Pháp vào Việt Nam cuối năm 1906 là ba cha: Larmurier, Mazelaigue và De Bellaing.

 

  Vì các cha Đa Minh Pháp muốn có vùng đất riêng để hoạt động, Đức cha Velasco khuyến khích các ngài lên tìm hiểu hai tỉnh Lạng Sơn, Cao Bằng. Năm 1908, cha De Bellaing đã tới lập trụ sở đầu tiên tại Bản Quấn, dưới chân núi Mẫu Sơn. Tiếp đó, đầu năm 1909, cha Fraisse lên Cao Bằng lập cơ sở đầu tiên tại Vườn Cam, thị xã Cao Bằng. Năm 1910, cha Bardol Cảnh lập họ đạo Cao Bình (km 9) gần sông Bằng Giang, nơi đây chưa có giáo dân nào.

 

Ngày 30-12-1913, Thánh Bộ Truyền giáo chính thức ra sắc dụ trao cho Tỉnh dòng Đa Minh Lyon coi sóc vùng Lạng Sơn - Cao Bằng. Tình hình dân số Lạng Sơn - Cao Bằng khi đó có 12.000 người Kinh, 6.000 người Hoa ở những nơi buôn bán, 270.000 người Tày và Nùng, 15.000 người H’mông (Mèo) và người Dao (Mán). Tổng số 300.000 người.

 



Phần 1: thời kỳ khai phá

Phần 2: Phủ doãn tông tòa

Phần 3: Thời kỳ đại diện tông tòa

Phần 4: Thời kỳ chính tòa

 

 

Những tin mới hơn