www.giaophanlangson.org

Lược Sử GIáo Phận Lạng Sơn Cao Bằng

Thứ sáu - 03/11/2017 21:04
Lịch sử của Giáo phận Lạng Sơn Cao Bằng có thể chia làm 3 thời kỳ: - Thời kỳ khai phá: từ đầu đến năm1913. - Thời kỳ Phủ doãn Tông Tòa và Đại diện Tông Tòa: 1913-1960. - Thời kỳ Giám mục Chính Tòa: 1960 đến nay.

Diện tích cánh đồng mục vụ truyền giáo của Giáo phận Lạng Sơn-Cao Bằng rộng khoảng 15.000 km2, nằm trong 03 tỉnh Lạng Sơn, Cao Bằng và ½ tỉnh Hà Giang, lấy Sông Lô làm ranh giới. Trên 3/4 diện tích là núi rừng, với gần 1,9 triệu dân, trong đó,2 dân tộc Nùng và Tày chiếm 80% dân cư, người Kinh khoảng 15% và 5% thuộc các dân tộc Dao, Hoa, Sán Chay, H’Mông...Toàn địa bàn có 03 thành phố trùng tên với 3 tỉnh là TP Lạng Sơn, TP Cao Bằng và TP Hà Giang, với 27 huyện, chia thành 505 xã và thị trấn. Hệ thông giao thông tương đối được cải thiện trong những năm qua, tuy chưa đồng đều. Kinh tế đang phát triển, đời sống văn hóa xã hội còn nhiều hạn chế khó khăn do địa hình phức tạp.
 
 

 
Lịch sử của Giáo phận Lạng Sơn Cao Bằng có thể chia làm 3 thời kỳ:

- Thời kỳ khai phá: từ đầu đến năm1913.
- Thời kỳ Phủ doãn Tông Tòa và Đại diện Tông Tòa: 1913-1960.
- Thời kỳ Giám mục Chính Tòa: 1960 đến nay.

http://www.dekart.com/?business-plan-writers-in-delaware business plan writers in delaware I. THỜI KỲ KHAI PHÁ:

1. Hình thành Giáo phận Lạng Sơn ngày nay.

Phần đất Giáo phận Lạng Sơn-Cao Bằng ngày nay thuộc giáo phận Ðàng Ngoài (1659-1679). Sau đó, Ðàng Ngoài được chia thành Tây và Ðông vào năm 1679, Giáo phận Lạng Sơn-Cao Bằng  thuộc về Ðông Ðàng Ngoài.

Ðến năm 1848, Ðông Ðàng Ngoài được chia thành Ðông và Trung. Năm 1883, giáo phận Ðông Ðàng Ngoài lại được chia thành Ðông và Bắc. Ðông sau này thành giáo phận Hải Phòng (1924), còn Bắc sau được chia thành hai: Bắc Ninh (1924) và Lạng Sơn (1939). Các giáo phận Ðông, Trung, Bắc được giao cho các linh mục dòng Ða Minh Tây Ban Nha, thuộc tỉnh dòng Manila, coi sóc ngày từ năm 1679.

Nhà Nguyễn thành lập tỉnh Lạng Sơn - Cao Bằng vào ngày 1831. Trong suốt 300 năm truyền giáo từ thế kỷ XVII-XIX, chưa thấy có dấu chân các vị thừa sai trên phần đất của Giáo phận Lạng Sơn-Cao Bằng. Ðể có thể đẩy mạnh công cuộc truyền giáo ở vùng đất này, cuối năm 1913, phần đất của giáo phận Lạng Sơn ngày nay được tách khỏi giáo phận Bắc Ðàng Ngoài để làm thành Phủ doãn Tông tòa Lạng Sơn. Ngày 11/7/1939, Phủ doãn Tông tòa Lạng Sơn được nâng lên thành Ðại diện Tông tòa Lạng Sơn. Ngày 24/11/1960, Lạng Sơn trở thành Giáo phận Chính tòa thuợc Giáo tỉnh Hà Nội.

2. Những tín hữu đầu tiên.

Vào thời kỳ khai phá gieo Tin Mừng, dân cư miền núi Cao Bằng - Lạng Sơn chưa hề biết tới Ðạo Thiên Chúa. Có lẽ người giáo dân đầu tiên tới đây là ông phó Nhậm (phó lý trưởng), con của Thánh Antôn Nguyễn Ðích. Ông phó Nhậm bị phát lưu lên Cao Bằng vào năm 1858 thời vua Tự Ðức. Cũng khoảng năm này, một đại chủng sinh bị phát lưu lên Lạng Sơn tên là Trần Triêm, tức cụ sáu Trần Lục.

Vào năm 1876, tại Cao Bằng có chừng 300 giáo hữu, phần lớn là những người bị triều đình Huế phát vãng lên đây.

click 3. Các Cha Dòng Đa-minh, những nhà truyền giáo đầu tiên.

Ngày 13/6/1881, một phái đoàn gồm 2 linh mục và 3 thầygiảng do cha Fuentes Phê, thừa sai Ða Minh Tây Ban Nha, hướng dẫn, đi từ Thiết Nha lên thám hiểm miền Lạng Sơn và Cao Bằng. Trước khi về, phái đoàn để lại một thầy giảng ở Cao Bằng và một linh mục ở Lạng Sơn. Sau khi thiết lập nhiều đồn bót trên tuyến biên giới Việt-Trung, quân đội Pháp cần có các vị tuyên úy. Ðáp ứng nguyện vọng trên, tháng 3-1895, Tòa Giám mục Bắc Ninh đã cử một linh mục lên Lạng Sơn. Ngài đến lập nhà nguyện tại khu Văn Miếu, Cửa Nam, thị xã Lạng Sơn. Tại đây đã có chừng 50 giáo dân miền xuôi lên lập nghiệp.

Vào các năm 1902-1905, mối quan hệ giữa chính quyền bảo hộ Pháp và các cha Tây Ban Nha trở nên căng thẳng, các cha Ða Minh Tây Ban Nha đề nghị các cha Ða Minh Pháp (Tỉnh dòng Lyon) tới giúp. Ngày 09/02/1902, ba thừa sai Ða Minh Pháp đầu tiên tới Hải Phòng là các cha B. Cothonay Chiểu, 48 tuổi, cha Bardol Cảnh, 26 tuổi và cha Brébion, 35 tuổi. Tháng 9-1903, có thêm ba cha Ða Minh Pháp tới Việt Nam là các cha: Robert, Fraisse và Hedde Minh. Ðợt thứ ba, các cha Ða Minh Pháp vào Việt Nam cuối năm 1906 là ba cha: Larmurier, Mazelaigue và De Bellaing.

Vì các cha Ða Minh Pháp có vùng đất riêng để hoạt động, Ðức cha Velasco khuyến khích các ngài lên tìm hiểu hai tỉnh Lạng Sơn, Cao Bằng. Năm 1908, cha De Bellaing đã tới lập trụ sở đầu tiên tại Bản Quấn, dưới chân núi Mẫu Sơn. Tiếp đó, đầu năm 1909, cha Fraisse lên Cao Bằng lập cơ sở đầu tiên tại Vườn Cam, thị xã Cao Bằng. Năm 1910, cha Bardol Cảnh lập họ đạo Cao Bình (km 9) gần sông Bằng Giang, nơi đây chưa có giáo dân.

Ngày 30/12/1913, Thánh Bộ Truyền Giáo chính thức ra sắc dụ trao cho tỉnh dòng Ða Minh Lyon coi sóc vùng Lạng Sơn - Cao Bằng. Tình hình dân số Lạng Sơn - Cao Bằng khi đó có 12.000 người Kinh, 6.000 người Hoa ở những nơi buôn bán, 270.000 người Tày và Nùng, 15.000 người H'mông (Mèo) và người Dao (Mán). Tổng số 300.000 người.

II. THỜI KỲ PHỦ DOÃN TÔNG TÒA VÀ ĐẠI DIỆN TÔNG TÒA.

Theo Sắc lệnh thành lập của Tòa Thánh ngày 30/12/1913, Phủ doãn Tông tòa Lạng Sơn gồm hai tỉnh Cao Bằng - Lạng Sơn và một phần đất tỉnh Hà Giang (phía Ðông sông Lô).

1. http://www.hidrarel.com/grueneau-whitson-1993/ Phủ doãn tiên khởi: Ðức ông Bertrand Cothonay Chiểu, O.P. (1913-1939).

Ðức Ông Cothonay- có tên Việt là Chiểu, sinh năm 1854, quốc tịch Pháp, là một trong ba linh mục thừa sai Dòng Đa-minh Pháp đầu tiên tới Bắc Việt. Ngày 30/12/1913, Tòa Thánh ký sắc thành lập Giáo phận Phủ doãn Tông Tòa Lạng Sơn-Cao Bằng, đồng thời bổ nhiệm Linh mục Cothonay Chiểu làm Phủ doãn Tông Tòa Lạng Sơn-Cao Bằng.

Ngày 05/6/1914, Đức Ông Cothonay tiếp nhận Phủ doãn Tông tòa Lạng Sơn với cơ sở vật chất, nhân sự rất khiêm tốn. Khu Văn Miếu, Cửa Nam, thị xã Lạng Sơn, có một căn nhà ba gian và một nhà nguyện nhỏ. Cách thị xã Lạng Sơn 30km có cơ sở thứ hai là nhà nguyện Bản Quấn với vài chục giáo dân. Về nhân sự, ngoài cha De Bellaing ở Bản Quấn, có thêm các cha: Brébion Úy, cha Larmurier Khang, cha Bardol Cảnh và 16 chú (tiểu chủng sinh) cùng đi với các cha lên Giáo phận.

Trận lụt to ngày 14/7/1914 gây thiệt hại lớn cho cơ sở Văn Miếu cũ và khu nhà lá mới dựng thêm, Ðức Ông đã mua lại khách sạn Hầm Mỏ ở gần ga Lạng Sơn làm Tòa Giám mục, nhà xứ, nơi đào tạo chủng sinh và thầy giảng. Năm 1923 bắt đầu xây Nhà thờ Chính tòa. Tiếp đó, Ðức Ông mua thêm khu đồn điền Landrieu, cách Tòa Giám mục 2km, để lập giáo xứ Mỹ Sơn, chiêu mộ giáo dân từ miền xuôi lên và lập Tiểu chủng viện tại đó. Ðầu năm 1922, chủng viện đã có 11 chú (tiểu chủng sinh) và 7 thầy (đại chủng sinh).

Trong năm 1915, Ðức Ông Cothonay Chiểu mở thêm các xứ Tà Lùng và Thất Khê.

Ðến năm 1919, chỉ còn lại 6 vị truyền giáo tại chỗ nên Ðức Ông đã yêu cầu Giáo phận Bắc Ninh tăng cường cho 4 vị là cha Nguyễn Ðức Linh, cha Nguyễn Ðình Lương, cha Ðoán, cha Nghĩa. Họ Vĩnh Rật (ngoạivi Ðồng Ðăng) do cha Savina Vị, thuộc Hội Thừa Sai Paris phụ trách.

Ðại chiến I (1914-1918) vừa kết thúc thì giáo phận đón nhận thêm 5 vị thừa sai: Cha Maillet Bính, Cha Craven Dự, Cha Trouvé Hameleers Hạnh và Cha Fabien Mố.

Năm 1920, Cha Brébion Úy, sau khi đi thăm Cao Bằng về, đã mua ruộng đất để các nhà xứ có nguồn lương thực tại chỗ.

Cuối năm 1921, sau khi đã xây xong nhà thờ và khu nhà xứ Cao Bình khang trang, Cha Brébion Úy trở về Lạng Sơn để xây nhà thờ Bản Lìm.

Năm 1922, giáo phận phong chức cho 2 linh mục tiên khởi là cha Hào và cha Thao.Vì sức khỏe yếu kém, Ðức Ông xin từ chức.Ngày 31/3/1925, Thánh Bộ Truyền Giáo có sắc dụ cử Cha Maillet Bính làm Phủ doãn Tông Tòa thứ hai của Giáo phận Lạng Sơn-Cao Bằng.

Ðức Ông Cothonay Chiểu qua đời ngày 27/5/1926 và được an táng tại khuôn viên nhà thờ Mỹ Sơn. Ngài là người có công đầu tập hợp nhân sự, thiết lập các xứ truyền giáo tuyến biên giới Việt-Trung. Ngày 14/11/2006, mộ Ngài được cải tang về khuôn viên Tòa Giám mục.

Business Plan Pro Customer Service 2. Phủ doãn Tông tòa thứ hai: Ðức ông Marie Dominique Maillet Bính, O.P. (1925-1929).

Ðức Ông Dominique Maillet, có tên Việt Nam là Bính,sinh năm 1884 tại Pháp, linh mục Dòng Đa-minh Tỉnh Lyon, tới Việt Nam năm 1919.  Ngày 31/3/1925, Tòa Thánh bổ nhiệm Ngài thay thế Đức Ông Cothonay Chiểu làm Phủ doãn Tông Tòa Lạng Sơn-Cao Bằng. Ngài là người ưa hoạt động và nhìn xa trông rộng. Vừa nhận nhiệm vụ, ngài đã xây dựng kiên cố Tiểu Chủng viện Thánh Têrêxa Hài Ðồng Giêsu trên sườn đồi Mỹ Sơn. Ngài cũng xây dựng các cơ sở giáo dục và từ thiện, mời các nữ tu Dòng Đức Bà Truyền Giáo lo vấn đề giáo dục, và các nũ tu Dòng Thánh Phaolô thành Chartres phụ trách nhà dưỡng lão cạnh Chủng viện Mỹ Sơn.

Ðầu năm 1926, có thêm 3 cha tới giáo phận: Cha Robert Tế, Cha Hedde Minh và Cha Fabien Mố. Tháng 2 năm 1927, cha Hameleers Hạnh được cử đi lập xứ Tinh Túc, nơi có mỏ Vonfram và thiếc, cách Cao Bằng 70km.

Năm 1928, Ðức Ông về Pháp, mang theo hai chủng sinh Việt Nam là Nguyễn Văn Đề và Nguyễn Khắc Ngữ sang học tại Chủng viện Lucon, quê hương Ngài. Năm 1929, Ðức Ông Maillet Bính đã xin từ chức Phủ doãn Tông Tòa, và trở lại Lạng Sơn làm việc dưới quyền Bề trên mới như một linh mục thừa sai. Ngài bỏ xác tại Quảng Uyên, Cao Bằng giữa cơn binh biến năm 1947.

3. Phủ doãn thứ ba: Ðức Ông Félix Maurice Hedde Minh, O.P. (1929-1939).

Ðức Ông Hedde, tên Việt là Minh, sinh tại Brest, Pháp, ngày 30/3/1879, trong một gia đình sùng đạo. Học xong tiểu chủng viện, ngài xin gia nhập dòng Ða Minh, rồi qua học tại Rosary Hill (New York, USA) và sau đó sang tu viện Saint Etienne tại Jerusalem. Ngài thụ phong linh mục tại đó ngày 24/5/1902. Năm 1926, ngài được cử sang Bắc Việt, được giao phụ trách giáo xứ Tà Lùng (Cao Bằng) năm 1927. Ngày 14/7/1929, Thánh Bộ Truyền Giáo đã bổ nhiệm ngài làm Giám quản Tông Tòa miền Lạng Sơn - Cao Bằng.

Ðức Ông Hedde Minh đề nghị Tỉnh dòng gửi thêm nhân sự. Tháng 11 năm 1929, các Cha Ange Willigers Huy, Ambroise Gagneux Ðạt và Jeffro Thể tới Lạng Sơn. Nhờ có ba cha mới sang phụ lực, cha Larmurier Khang được đổi về Bản Lìm để hoàn thành cuốn Giáo Lý Cơ Bản bằng tiếng Tày và thiết lập hệ thống "Nhà Ðức Chúa trời" (Nhà Chung). Trong năm 1929, Ðức Ông cho xây một nhà nguyện nhỏ cho trại phong ở Cao Bằng. Ngày 21/12/1929, thầy Ngọc là người thứ ba của giáo phận được chịu chức linh mục.

Năm 1931, Ðức Ông Hedde Minh được Tòa Thánh bổ nhiệm làm Phủ doãn Tông Tòa. Ngài gửi thư yêu cầu tỉnh dòng cho thêm người đến Lạng Sơn, nhưng Thánh Bộ truyền Giáo khuyến khích việc đào tạo nhân sự tại chỗ.

Năm 1934, cha Wiligers Huy bỏ xứ Vĩnh Rật để mở xứ Ðồng Ðăng là nơi có trục giao thông đường sắt, đường bộ. Nhà thờ Ðồng Ðăng được khánh thành vào dịp lễ Phục Sinh năm đó.

Ngày 25/4/1936, Ðức cha Hồ Ngọc Cẩn lên Lạng Sơn giảng phòng và truyền chức cho 4 tân linh mục: cha Thu, cha Lộc, cha Khải, cha Quyền. Lần đầu tiên giáo phận được chứng kiến một thánh lễ trọng thể như vậy.Sau đó cha Phê xuống lập xứ Ðồng Mỏ nơi có trục giao thông đường sắt, đường bộ đi qua.Cùng năm, cha Wiligers Huy khởi công xây dựng nhà thờ thị xã Cao Bằng.Năm 1937, cha Ngọc lên lập xứ Nậm Loát.

Cuối năm 1937, giáo phận đón nhận hai vị thượng khách: Ðức Khâm Sứ Tòa Thánh tại Ðông Dương và cha Gillet, Bề Trên Cả dòng Ða Minh.

Tháng 2 năm 1938, mở thêm địa điểm truyền giáo Quảng Uyên, là một làng đông người Nùng, nằm giữa Cao Bằng và Tà Lùng. Tháng 3 năm 1938, thiết lập họ Pò Mã (Thết Khê) do cha B. Desgouts Ðề phụ trách. Tháng 4 năm 1938, xây dựng nhà thờ Na Sầm. Ngày 18/12/1938, cha Jacques Mỹ lập xứ Nguyên Bình và phụ trách thêm giáo dân mỏ Tinh Túc.Hằng ngày cha đi ngựa xuống các bản làng thăm hỏi, phát thuốc cho các dân bản.

Ðức Ông Hedde Minh được đặt lên chức Giám mục làm Đại diện Tông Tòa vào năm 1939, Ðức Khâm Sứ Tòa Thánh Drapier làm lễ tấn phong ngày 30/11/1939, khẩu hiệu: "Cứ ra khơi". Ngài nhận chức trong bối cảnh có nhiều biến chuyển trong và ngoài nước: thế chiến II bắt đầu, phong trào yêu nước do mặt trận Việt Minh phát động ngày một phát triển.

Vào thời điểm năm 1939, không kể Ðức Cha Hedde Minh là Giám mục tiên khởi, Lạng Sơn có 30 linh mục (16 người Pháp, 14 người Việt), 8 đại chủng sinh (trong đó có 4 người đang du học tại Pháp), tiểu chủng viện có 40 chú. Giáo phận có tất cả 18 nhà thờ hay nhà nguyện. Các xứ mới mở thêm: xứ Cao Bằng, Nguyên Bình, Quảng Uyên, Ðồng Ðăng (thay Vĩnh Rật), Na Sầm, Bó Tờ, Pò Mã, Nậm Loát và Ðông Khê.

Ngày 26/8/1939, máy bay Nhật từ Trung Quốc tới bỏ bom chợ Thất Khê, rồi quân Nhật kéo vào Lạng Sơn. Cùng với quân Nhật, có những quân phiến loạn lợi dụng thời cơ cướp phá. Nhưng tháng 11 năm 1940, quân Pháp đã trở lại ổn định trật tự.Năm 1941, cha Guibert Hiền đi mở xứ Bình Gia Năm 1942, cha Paul Mongin mở xứ Chợ Bãi.

Mặc dầu cuộc thế chiến II (1939-1945) đã gây ra nhiều đổ nát tại nhiều nước bên châu Âu, nhưng nhìn chung, tình hình giáo phận vẫn tương đối ổn định. Số giáo dân đã lên tới 5,000 người.Số người Nùng xin nhập đạo đông hơn người Tày.Tại hầu hết các thị trấn, thị tứ trong giáo phận đã có cơ sở truyền giáo cho người địa phương. Có nơi số bổn đạo lên tới 300 hay 500. Có nơi ở rải rác từ 50-100 và giáo dân ngày thêm chặt chẽ, gắn bó như các xứ đạo kỳ cựu.

4.Giáo phận Lạng Sơn dưới thời Ðức cha Jacques Mỹ, Giám mục phó với quyền kế vị (1948-1960)

Cha André Réginal Jacques, tên Việt Nam là Mỹ, sinh ngày 09/11/1905 tại Sèvres, gần Paris, khấn dòng Ða Minh tại Angers ngày 15/8/1927, chịu chức linh mục ngày 22/7/1234.Cha Jacques tới Lạng Sơn ngày 26/12/1936, từng phục vụ tại giáo xứ thị xã Cao Bằng và Nguyên Bình (1938-1945).Ngày 06/6/1946 ngài về Pháp chữa bệnh.Ngày 22/01/1948, cha Jacques Mỹ và cha Haang Xuân trở lại Việt Nam, tới Lạng Sơn và có cha Lorry Lộ đi cùng.

Ngày 6-7-1948, Cha Jacques Mỹ được Tòa Thánh bổ nhiệm làm Giám mục phó với quyền kế vị, hiệu tòa Cerasa, khẩu hiệu: "Hiến mạng sống mình cho anh em".

Ngày 30-9-1949, Ðức cha Hedde Minh giao quyền cho Ðức cha phó.Ðây là một thời gian đầy biến động.Ngày 03/10/1950, quân Pháp rút khỏi Cao Bằng và ngày 17-10-1950, thị xã Lạng Sơn được giải phóng. Trong tháng 10 năm 1950, giáo phận có nhiều thay đổi: 7 cha Pháp sơ tán về Hà Nội (các cha Guillo, Haang Xuân, Mongin, Bardol Cảnh, Lorry Lộ, Dreyer Tân). Ở lại Lạng Sơn chỉ còn hai đức cha, cha Guibert Hiền vẫn ở xứ Thất Khê và cha Nerdeux Lý bị bắt làm tù binh mới được tha. Trước khi rút khỏi Lạng Sơn, quân Pháp khuyên hai giám mục và giáo dân cùng đi nhưng các ngài nhất định ở lại.

Cuộc di cư năm 1954 đã gây nhiều tổn thất cho giáo phận Lạng Sơn. Phần lớn giáo dân (khoảng 2,500 người) và linh mục, tu sĩ di cư vào Nam. Ở lại giáo phận còn hai đức cha Hedde Minh và Jacques Mỹ; hai cha Pháp Nerdeux Lý, Guibert Hiền; bốn cha Việt Nam: cha Khái, cha Dụ, cha Ðức, cha Thu. Số giáo dân ở lại 2,500 (di cư 50%).Trước năm 1954, có 26 giáo xứ và 26 nhà thờ.Sau chỉ còn 11 giáo xứ và 14 nhà thờ.

Năm 1958, Ðức cha Jacques Mỹ và hai cha Pháp còn lại phải rời giáo phận và sau đó các ngài sang Lào truyền giáo. Ngày 04/5/1960, sau khi Ðức cha Hedde Minh qua đời, Giáo phận chỉ còn 4 linh mục Việt Nam.
 
III. THỜI KỲ GIÁM MỤC CHÍNH TÒA.

    1. Ðức cha Vinh Sơn Phaolô Phạm Văn Dụ, Giám mục Chính tòa tiên khởi Lạng Sơn-Cao Bằng (1960-1998)

Ðức cha Phạm Văn Dụ sinh ngày 14/10/1922, trong một gia đình trung lưu và sùng đạo tại Phát Diệm (Ninh Bình), chịu chức linh mục ngày 08/9/1948. Năm 1954, ngài tình nguyện ở lại phục vụ giáo phận.Năm 1959, Tòa Thánh đặt ngài lên chức Giám quản giáo phận.Ngay sau đó, ngài được lệnh lên coi xứ Thất Khê thay cha Guibert Hiền từ ngày 29/5/1959.

Ngày 5-3-1960, Tòa Thánh đặt cha Dụ lên chức Giám mục hiệu tòa Boseta và ngày 24/11/1960, Ðức cha Phạm Văn Dụ trở thành Giám mục Chính tòa Lạng Sơn. Nhưng mãi đến ngày 01/5/1979, gần 20 năm sau, Ngài mới được Ðức cha Phaolô Giuse Phạm Ðình Tụng, Giám mục Bắc Ninh, tấn phong giám mục tại Tòa Giám mục Bắc Ninh.

Ngoài Ðức cha Dụ, nhân sự Giáo phận bấy giờ chỉ còn 3 linh mục: cha Thu ở Cao Bằng, cha Khái ở Mỹ Sơn và cha Ðức ở Lộc Bình. Không đào tạo thêm được linh mục, trong khi các linh mục lớn tuổi lần lượt qua đời.Năm 1973, cha Thu qua đời tại Cao Bằng. Năm 1990, cha Ðức qua đời khi vào Nam chữa bệnh.Chỉ còn lại duy nhất cha Hoàng Trọng Quỳnh được truyền chức năm 1979, khi đã 70 tuổi.

Trong chiến tranh, các cơ sở dần dần bị tàn phá: Nhà thờ Chính tòa Lạng Sơn đã bị bom san bằng ngày 15/8/1969, Tòa Giám mục và khu Văn Miếu bị hư hỏng nặng, nhà thờ Ðồng Ðăng nằm cạnh nhà ga cũng bị bom phá hủy chỉ còn lại bức tường mặt tiền. Năm 1979, nhà thờ Tà Lùng và nhà nguyện khu Văn Miếu bị tiêu hủy trong cuộc chiến tranh biên giới.

Năm 1990, Ðức cha Vinh Sơn Phạm Văn Dụ về Tòa Giám mục tại Lạng Sơn sau 31 năm ẩn dật tại Thất Khê. Tòa Giám mục được tạm thời đặt tại khu Văn Miếu, Cửa Nam.

Mãi đến Tháng 1/1991, Ðức cha Vinh Sơn mới vào miền Nam chữa bệnh và thăm giáo xứ Lạng Sơn ở Xóm Mới. Tháng 8-1991, Ðức cha sang thăm Tòa Thánh Rôma. Ở Rôma về, ngài bắt tay vào xây dựng cơ sở. Năm 1993, khởi công xây Tòa Giám mục.Ngài dự định sẽ xây tiếp Nhà thờ Chính tòa nhưng ý định không thành.Năm 1995, khởi công xây dựng nhà thờ Thanh Sơn, Cao Bằng; năm 1996, xây nhà thờ Cao Bình. Sang năm 1997, sức khỏe của Ðức cha ngày một giảm sút, nên ngày 9/3/1998, Tòa Thánh phê chuẩn đơn xin nghỉ hưu của Ðức cha. Bệnh tình ngày càng trầm trọng, ngài đã qua đời lúc 0giờ45 ngày 02/9/1998, sau 38 năm phục vụ Nước Trời trong lặng lẽ với những khó khăn chất chồng, nhưng luôn trung kiên nhiệt thành trong chức vụ giám mục của mình.Ngài được an táng ngay tại sân Tòa Giám mục.

Ngày 03/9/1998, Ðức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã bổ nhiệm Ðức Hồng Y Phaolô Giuse Phạm Ðình Tụng, Tổng Giám mục Hà Nội, làm Giám quản Tông tòa Giáo phận Lạng Sơn-Cao Bằng. Dù tuổi cao sức yếu, giao thông khó khăn, Ngài đã vâng lời và chuyên chăm thi hành sứ vụ mục tử của mình với đàn chiên nhỏ bé mồ côi và xa xôi cách trở này.

2. Giám mục Chính tòa thứ 2 :Đức Cha Giuse Ngô Quang Kiệt.

Ngày 18-6-1999, Ðức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã bổ nhiệm linh mục Giuse Ngô Quang Kiệt, 47 tuổi, Thư ký Tòa Giám mục Long Xuyên, làm Giám mục Chính tòa Giáo phận Lạng Sơn-Cao Bằng. Ngày 29/6/1999, ngài được Ðức cha G.B. Bùi Tuần tấn phong giám mục. tại Long Xuyên và về nhận giáo phận vào ngày 11/7/1999.

Đức Tân Giám mục Lạng Sơn-Cao Bằng sinh ngày 04/9/1952 tại Giáo xứ Mỹ Sơn, Lạng Sơn. Được bổ nhiệm làm Giám mục Giáo phận Lạng Sơn-Cao Bằng, nhưng Ngài như người con được trở về phục vụ quê cha đất tổ mà Ngài hết mực yêu thương. Vì thế, Ngài chon khẩu hiệu giám mục là “Chạnh Lòng Thương” (Lc 9,36).

Đức Cha Giuse tiếp nhận Giáo phận khi nhân sự chính thức của Lạng Sơn lúc bấy giờ chỉ còn vỏn vẹn một linh mục đã 96 tuổi và một nữ tu trên 100 tuổi, nên Ngài phải cán đáng hết mọi công việc lớn nhỏ hằng ngày. Nói về thời gian này, Ngài đã chia sẻ: “Tôi thật sự hụt hẫng như người không biết bơi mà bị rơi xuống chỗ nước sâu!”. Nhưng rồi với nhiệt tình tuổi trẻ, niềm cậy trông phó thác và tấm lòng mục tử bao la, Ngài đã bắt tay ngay vào việc, đặt nền móng cho thời kỳ hồi sinh và phát triển.

Chỉ sau một thời gian ngắn, Đức Cha đã đào tạo và phong chức cho 7 linh mục, mời các dòng tu nam nữ về cộng tác mục vụ, xây dựng Nhà thờ Chính Tòa, hoàn thiện cơ sở Tòa Giám mục, trùng tu và xây mới nhà thờ Bản Lìm, Thanh Sơn, Cao Bình, Thất Khê, Bó Tờ… Nhưng quan trọng nhất là xây dựng đời sống nội tâm, tình hiệp nhất yêu thương trong các thành phần trong gia đình Giáo phận.Như một lễ Hiện Xuống mới, sức sống đạo đức làm phấn khởi và nức lòng đàn chiên vốn đã chịu quá nhiều thiệt thòimất mác.

Biểu tượng quan trọng nhất là ngôi Nhà thờ Chính Tòa.Ngày 01/01/2001 Đức Cha Giuse đặt viên đá đầu tiên xây dựng Nhà thờ Chính Tòa, được thiết kế đậm nét hội nhập văn hóa địa phương rất ấn tượng.Nhà thờ có diện tích 700 m2, rộng 25 mét và dài 20 mét, kiến trúc theo nét văn hóa Á Ðông và mô phỏng đền làng và nhà ngang của dân tộc, được tô điểm bằng những hoa văn mang dáng dấp và màu sắc hoa Hồi là biểu tượng địa phương và theo văn hóa dân tộc Tày, Nùng, Dao, phỏng theo những sinh hoạt đời sống của người dân vùng Lạng Sơn.Nhà thờ được cung hiến cách trọng thể ngày 02/10/2004, với sự hiện diện của đông đảo các Hồng y, Giám mục và linh mục từ khắp nơi trong và ngoài nước, như khoảnh khắc “phục sinh” của một Giáo phận vừa trải qua một thời gian dài “thập tử nhất sinh” theo dòng lịch sử.

Nhưng rồi, ngày 26/4/2003, Ðức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã đặt Ðức cha Giuse Ngô Quang Kiệt kiêm nhiệm chức Giám quản Tông tòa Tổng Giáo phận Hà Nội. Hai năm sau, vào ngày 19/02/2005, Ðức cha Giuse Ngô Quang Kiệt được bổ nhiệm làm Tổng Giám mục Tổng Giáo Phận Hà Nội, kiêm Giám quản Tông tòa Giáo phận Lạng Sơn-Cao Bằng. Như một con thoi trên đường Lạng Sơn – Hà Nội – Lạng Sơn: đường là nhà; xe là phòng, cho đến ngày Ngài đặt tay tấn phong cho một Giám mục mới do Tòa Thánh bổ nhiệm.

3. Giám mục Chỉnh tòa thứ 3 : Đức Cha Giuse Đặng Đức Ngân.

Đức Cha Giuse Đặng Đức Ngân sinh ngày 16/6/1957 tại Hà Nội thuộc linh mục đoàn Giáo phận Hà Nội. Khi Đức Cha Giuse rời lạng Sơn về Hà Nội, Cha Giuse Đặng Đức Ngân được Ngài đặt làm Tổng Đại diện Tổng Giáo phận Hà Nội. Ngày 12/10/2007, Đức Thánh Cha Benêđitô XVI bổ nhiệm Ngài làm Tân Giám mục Giáo phận Lạng Sơn-Cao Bằng. Ngài được tấn phong ngày 03/12/2007 tại Nhà thờ Chính Tòa Lạng Sơn. Nhận lãnh trách nhiệm một Giáo phận truyền giáo, Ngài chọn khẩu hiệu Giám mục là “Đền Với Muôn Dân”.

Tiếp nối công việc của Đức Cha tiền nhiệm, Đức Cha Giuse đã hăng say nhập cuộc tại vùng đất truyền giáo này. Ngài đã cung hiến Nhà thờ Thất Khê, nhà thờ Bó Tờ, tu sửa và cung hiến nhà thờ Mỹ Sơn, khai móng xây dựng và hoàn thành cung hiến các nhà thờ Đồng Đăng, Tà Lùng rồi Thánh Tâm (Hà Giang), thiết lập thêm 2 giáo xứ mới là Ngạn Sơn năm 2011 và Vũ Lễ vào năm 2015.

Dưới thời Đức Cha Giuse Đặng Đức Ngân, Giáo phận Lạng Sơn-Cao Bằng đăng cai tổ chức Đại Hội Giới Trẻ hằng năm của Giáo Tỉnh Hà Nội. Trên 6.000 bạn trẻ từ 10 Giáo phận thuộc Giáo Tỉnh Hà Nội đã tuôn về Nhà thờ Chính Tòa và Tòa Giám mục Lạng Sơn trong ngày hội lớn này.

Đức Cha Giuse cũng là người đưa đoàn chiên Lạng Sơn-Cao Bằng đi qua thời gian ân sủng là các Năm Thánh của Giáo Hội. Năm Thánh kỷ niệm 350 năm thành lập hai Giáo phận Tông Tòa đầu tiên của Hội Thánh Việt Nam (2010-2011), Năm Đức Tin (2011-2012), và nhất là Năm Thánh của riêng Giáo phận Lạng Sơn-Cao Bằng nhân kỷ niệm Bách Chu Niên thành lập Phủ doãn Tông Tòa Lạng Sơn-Cao Bằng (1913-2013). Trước khi rời Giáo phận Lạng Sơn-Cao Bằng đi nhận giáo vụ mới, Đức Cha Giuse cũng là người khai mạc và mở Cửa Năm Thánh Lòng Thương Xót vào ngày 13/12/2015.

Sau 9 năm phục vụ tại Lạng Sơn-Cao Bằng, ngày 12/3/2016, Tòa Thánh đã chuyển Đức Cha Giuse đi nhận nhiệm vụ mới là Giám mục Giáo phận Đà Nẵng.

5.Giám mục Chính tòa thứ 4 : Đức Cha Giuse Châu Ngọc Tri.

 

Đức Cha Giuse Châu Ngọc Tri là Giám mục Chính Tòa thứ 4 của Giáo phận Lạng Sơn-Cao Bằng. Ngài sinh ngày 12/9/1956 tại Quảng Nam-Đà Nẵng. Đức Thánh Cha Benêđitô XVI đã bổ nhiệm Ngài làm Giám mục Giáo phận Đà Nẵng ngày 13/5/2006. Thánh lễ tấn phong và nhiệm chức được cử hành ngày 04/8/2006 tại Nhà thờ Chính Tòa Đà Nẵng với khẩu hiệu Giám mục là “Trời Mới Đất Mới”.Sau 10 năm làm Giám mục Đà Nẵng, Ngài được Đức Thánh Cha Phanxicô bổ nhiệm làm Giám mục Lạng Sơn-Cao Bằng ngày 12/3/2016 và ngày 09/4/2016 Ngài đã về nhận Giáo phận.

Về đảm nhận giáo vụ ở một giáo phận truyền giáo vùng núi biên cương cực Bắc ở tuổi 60, ai cũng ái ngại cho Đức Tân Giám mục. Nhưng Đức Cha Giuse cho thấy Ngài rất mau mắn sẵn sàng, và còn cảm thấy hạnh phúc khi được sai “đi ra vùng ngoại biên” không quá trễ, để có thể tiếp nối tâm tình và sứ vụ của các Giám mục tiền nhiệm tại vùng đất “đáng thương” và cũng rất “đáng yêu” này.

 

 
Hiện tình Giáo phận Lạng Sơn-Cao Bằng cho đến năm phụng vụ mới 2017 này được tổng kết như sau. Con số giáo dân ước tính trên dưới 6.000 người, sinh hoạt trong 13 giáo xứ. Về nhân sự, Giáo phận được 25 linh mục chăm lo mục vụ, trong đó có 8 linh mục là tu sĩ các dòng: Chúa Cứu Thế, Don Bosco, Đaminh, Phanxicô, Tu hội Vinh Sơn. Giáo phận cũng được sự cộng tác của 40 nữ tu thuộc các dòng: Đaminh Lạng Sơn, Phaolô thành Chartres, Mến Thánh Giá Thủ Thiêm, Nữ tử Bác ái. Giáo phận hiện có 19 Đại Chủng sinh hiện đang theo học tại Hà Nội, Bùi Chu, Xuân Lộc, Seoul. Tiền Chủng viện có 20 chú, 8 chú đang tìm hiểu tại các giáo xứ và 12 chú chia thành 2 lớp Dự bị 1 và Dự bị 2 đang được đào tạo tại Giáo phận, chuẩn bị để gửi vào các Đại Chủng viện. Về phía giáo dân, ngoài Hội đồng Mục vụ Giáo xứ, hiện có 6 đoàn thể đang sinh hoạt : Legio Mariae, Caritas, Gia Trưởng, Hiền Mẫu, Đồng Tâm và Linh hoạt viên. Ban Phụng vụ tại các giáo xứ gồm Lễ sinh, Ca đoàn, đội Kim nhạc, trống phách. Các lớp giáo lý thiếu nhi thường được tổ chức vào mùa hè. Giáo phận đang cần xây dựng một đội ngũ giáo lý viên, để cộng tác với hàng giáo sĩ, tu sĩ chăm lo đời sống đức tin và phong hóa cho  giới trẻ và các cháu thiếu nhi.

 (Bài viết dựa theo Kỷ Yếu 100 Năm Giáo phận Lạng Sơn-Cao Bằng (1913-2013)
do Nhà Xuất Bản Tôn Giáo phát hành năm 2013
và Niên Giám 2005 của Giáo Hội Công Giáo Việt Nam).

Tác giả bài viết: Văn phòng Tòa GIám mục Lạng Sơn

Những tin mới hơn