Tinh thần Lạng Sơn Cao Bằng

Trăm năm nhìn lại, Lạng sơn – Cao bằng vẫn là một giáo phận truyền giáo. Nếu không truyền giáo giáo phận chẳng còn ý nghĩa gì. Nếu truyền giáo, thì tinh thần gia đình và tinh thần đơn sơ khó nghèo của các bậc tiền bối truyền lại vẫn là một khí cụ hữu hiệu.

Tinh thần Lạng Sơn Cao Bằng

Từ khi còn nhỏ, tôi đã thấy Lạng sơn – Cao bằng thật thân quen, gần gũi. Vì những người di cư gốc Lạng sơn – Cao bằng thường tụ tập tại nhà tôi chuyện trò. Câu chuyện luôn hướng về Lạng sơn – Cao bằng với những con người, phong cảnh và sự kiện đã diễn ra tại miền đất địa đầu vừa đẹp đẽ thơ mộng, vừa nhiều biến động này. Điều làm tôi ấn tượng nhất là tình thân thương giữa những người đã từng sống ở Lạng sơn. Khi còn nhỏ, tôi được bố mẹ dạy cho biết gọi người này là Bác Huấn, người kia là anh Đoàn, anh Toan, anh Biển, anh Quế, hai ông người Tày là chú Ỷ và chú Ninh. Một người tuy ở xa nhưng đối với gia đình tôi lại rất gần gũi mà tôi gọi là cậu Cần. Khi còn bé tôi cứ tưởng những người này đều là họ hàng ruột thịt. Nhưng lớn lên tôi mới khám phá ra chỉ có một số người có họ. Còn tất cả là họ hàng kết nghĩa. Phân biệt đó chỉ có trong lý luận thôi. Còn trong thực tế thì tình cảm đối xử thân tình như nhau cả.

Khi đến tuổi giúp lễ cho cha Cố Toàn, tôi được biết một tình nghĩa Lạng sơn – Cao bằng rộng lớn hơn. Biết bao người ở xa mỗi lần đến thăm cha Cố đều rất thân tình, tự nhiên và vui tươi như gặp người thân yêu ruột thịt sau bao ngày xa cách. Nay thầy giáo Phẩm ghé thăm. Mai ông Đông Lai đến gửi con cho cha Cố nuôi dạy. Rồi thiếu tá Lũy, thiếu tá Cẩm, những người bạn xưa cùng học với cha Cố. Một lần tôi rất ấn tượng khi thấy một linh mục từ xa đến bằng thuyền. Khi thuyền gần đến nhà xứ, ngài đứng trên thuyền và hô lớn: Toàn Quyền đây, Toàn Quyền đây. Hóa ra đó là cha Quyền một người anh em linh tông của cha Cố từ Kontum xuống thăm. Tôi không bao giờ quên được thái độ vui tươi hồn nhiên như trẻ thơ của ngài, khi sắp được gặp người anh em linh tông của mình.

Khi phục vụ tòa giám mục, tôi càng thấy mối thân tình Lạng sơn – Cao bằng mở rộng hơn. Đức Cha Ngữ tỏ ra biết rõ mọi người gốc Lạng sơn – Cao bằng. Và mỗi khi ngài có dịp về Sài gòn, tất cả những người Lạng sơn – Cao bằng biết tin đều tụ tập đến thăm hỏi ngài. Vui như ngày hội. Cha con gặp nhau thăm hỏi và chuyện trò tưởng không thể dứt được. Bầu khí thân tình như trong gia đình đó thật cuốn hút. Tôi tự nhiên thấy hạnh phúc vì mình cũng được hít thở bầu khí thương yêu bác ái ấy.

Sau này khi ra Lạng sơn làm việc tôi càng ngạc nhiên hơn nữa. Thì ra người các xứ đều biết nhau và coi nhau như anh em. Người Lạng sơn biết rõ từng gia đình ở Cao bằng. Người Cao bằng biết rõ từng gia đình ở Lạng sơn, biết con cháu, biết hoàn cảnh, sức khỏe, công ăn việc làm. Không chỉ biết nhau, nhưng còn chia vui sẻ buồn với nhau. Và tận tình giúp nhau trong những lúc khó khăn, việc chung cũng như việc riêng. Câu chuyện làm nhà thờ Bó Tờ thật vui. Sau chiến tranh biên giới, nhà thờ Bó Tờ bị thiêu rụi. Đây là một xứ đạo toàn tòng người Nùng. Hiền lành, chất phác, không biết làm sao xây dựng lại ngôi nhà thờ. Khó khăn bên trong, khó khăn bên ngoài chồng chất. Thấy thế, các xứ khác, đặc biệt xứ Thất khê đã túm lại giúp đỡ. Để cho chủ nhà khỏi lo lắng, những người đến giúp tự động mang theo gạo nước, rau cỏ. Điều quan trọng nhất là tinh thần. Được mọi người kéo đến, tinh thần giáo xứ lên cao. Và mọi người xây dựng thành công ngôi nhà thờ đơn sơ, bất chấp những đe dọa cấm đoán của chính quyền. Bù lại người dân bản xứ đãi khách món canh khoai sọ Lệ Phố thật ngon. Nên người đi làm nhà thờ Bó Tờ truyền miệng câu ca:

Đi thì nhớ vợ cùng con
Về thì nhớ củ khoai môn Bó Tờ

Sau này có dịp gặp Đức Cha Phaolô Lê đắc Trọng. Ngài kể chuyện xưa kia học ở chủng viện thật vui. Mỗi khi có bề trên các giáo phận đến, anh em rất vui, nhưng chỉ khép nép đứng xa, không ai dám đến gần, càng không dám thăm hỏi. Chỉ riêng bề trên giáo phận Lạng sơn – Cao bằng đến thì khác hẳn. Các ngài gọi các chủng sinh giáo phận đến, hỏi han, xoa đầu, bẹo má rất thân tình. Anh em khác thấy vậy cũng túm lại hỏi han và được các ngài thân tình vui vẻ trò chuyện khiến ai cũng ấn tượng và nhớ mãi.

Nghe câu chuyện đó, tôi hiểu rằng từ khi thành lập giáo phận, các vị bề trên đã ra sức xây dựng một tinh thần gia đình. Chính các ngài sống thân tình với mọi người. Và các ngài đào tạo cho mọi người sống thân tình với nhau. Khuyến khích đi lại thăm viếng nhau. Khuyến khích lập gia đình giữa người Công giáo. Khuyến khích giúp đỡ lẫn nhau. Với thời gian, đã hình thành một tinh thần gia đình chan hòa yêu thương. Mọi người hiểu biết nhau, yêu thương nhau và giúp đỡ lẫn nhau. Phải chăng đó là tinh thần của cộng đoàn tín hữu sơ khai thời các thánh Tông đồ? Thật lý tưởng và đáng mơ ước.

Một đặc điểm khác tôi thấy nơi các vị chủ chăn xuất thân từ Lạng sơn – Cao bằng, đó là đời sống đơn sơ khó nghèo. Khó nghèo không phải vì các ngài không thể tìm được tiền bạc, nhưng là một tinh thần siêu thoát của cải và tự nguyện sống chan hòa với người dân nghèo.

Khi còn ở với cha Cố Toàn tôi đã chứng kiến cuộc sống đơn sơ khó nghèo của ngài. Đi du học Tây Tầu về, nhưng nếp sống của ngài thật đơn sơ. Buổi sáng ngài thích điểm tâm bằng cháo trắng. Khi còn nhỏ, tôi hơi xấu hổ với bạn bè khi họ về thăm nhà xứ. Sáng sớm mỗi người một tô cháo trắng, thấy nghèo nàn làm sao. Nhưng sau này tôi lại thấy tự hào vì cha Cố có đời sống siêu thoát như thế.

Sống đơn sơ, ngài rất yêu thương dân chúng. Thương dân di cư hai bàn tay trắng, nên ngài không bao giờ đòi hỏi tiển bạc. Có những người quá nghèo đến xin lễ, ngài không chịu nhận bổng lễ và bảo: cha làm lễ cho, cầm tiền về mà mua gạo cho con.

Khi du học bên Pháp, ngài có một số người thân quen. Họ vẫn gửi quà cho ngài. Nhưng khi cuộc di cư ổn định, ngài đã bảo họ: Đừng gửi tiền cho tôi nữa, vì bây giờ tôi giầu hơn ông bà rồi.

Khi mới di cư, ngài được cấp một ô tô. Nhưng ngài đã tự động bỏ đi. Trong miền quê ngài di chuyển bằng xe đạp. Ngày mưa, ngài tự tay lái thuyền máy. Không phải phiền đến ai. Sáng sớm, ngài tự tay quay máy điện, mở cửa nhà thờ và dọn lễ. Còn chúng tôi cứ ngủ ngon cho đến khi ngài gọi dậy đi lễ.

Khi về chủng viện tôi lại được chứng kiến đời sống đơn sơ khó nghèo của đức cha Lãng, cha giáo Tường, và đặc biệt của Đức cha Ngữ, những vị gốc Lạng sơn – Cao bằng.

Cha giáo Thân văn Tường, một nhà thần học lỗi lạc với những tư tưởng thâm sâu và sáng sủa. Nhưng ngài ăn mặc thật đơn sơ. Quanh năm suốt tháng chỉ áo sơ mi trẵng hơi cũ kỹ và chiếc quần bà ba đen không mới. Có lần chúng tôi vui miệng hỏi. Sao không thấy cha mặc áo mới bao giờ. Ngài dí dỏm trả lời: Người không trang điểm gì là người trang điểm có tính toán nhất.

Đức cha Lãng bấy giờ vừa là Chưởng ấn Tòa giám mục, vừa là Hiệu trưởng trường trung học công giáo lớn. Nhưng ăn mặc cũng đơn sơ. Và đặc biệt thái độ gần gũi bình dân của ngài khiến chúng tôi vô cùng cảm phục.

Còn đời sống đơn sơ của Đức Cha Micae Nguyễn khắc Ngữ thì không giấy bút nào tả xiết.

Y phục của ngài rất đơn sơ. Chỉ vài bộ đủ thay đổi. Và từ khi làm linh mục, giám mục, cho đến khi sức khỏe còn cho phép, ngài tự giặt giũ lấy quần áo của mình. Năm Đại chủng viện Long xuyên mới khai giảng niên khóa đầu tiên, chúng tôi hăng hái muốn cho Đại chủng viện này trở thành hiện đại nhất, nên đã đề nghị mua máy giặt. Nhưng khi ngài nói rằng chính ngài tự giặt quần áo, không ai dám đề nghị gì nữa.

Đò dùng của ngài có thể nói là nghèo nàn. Trước kia chúng tôi không chú ý lắm. Nhưng vào khoảng năm 1980, có ông thứ trưởng công an từ bộ cùng với công an tỉnh vào khám xét tòa giám mục. Để bất ngờ họ vào khoảng 10g tối khi mọi người đã đi ngủ. Họ vào phòng Đức Cha Ngữ. Thấy ngài nằm trên chiếc giường sắt chiều ngang rộng 80cm, không có đệm. Bản thân ngài mặc quần đùi và áo may ô, đắp một chăn mỏng. Họ tìm kiếm trong căn phòng rộng khoảng 12m2 không thấy có TV, tủ lạnh. Trên bàn có một chiếc máy đánh chữ cũ kỹ khoảng 40 năm tuổi. Thất vọng và ngạc nhiên, khi ra cửa tôi nghe họ nói với nhau: ông này làm giám mục mấy chục năm mà đồ đạc chỉ có thế thôi sao?

Ngài nổi tiếng với những chiếc phong bì làm bằng giấy xi măng. Ngài lấy bao xi măng lau sạch, cắt ra và làm thành những chiếc phong bì, để sử dụng trong nội bộ. Phong bì loại này nổi tiếng trong các linh mục giáo phận. Vì khi có bổng lễ tốt, ngài cho vào phong bì giấy xi măng và trao cho các cha vùng xa. Giấy nháp của ngài là những tờ giấy xưa kia nhà in đã dùng rôi, in một mặt. Ngài viết trên mặt còn lại. Ngài dùng thời giờ rảnh rỗi làm tăm cho mọi người dùng, bằng cách lấy những que hương đã dùng, còn lại chân hương, ngài vót đi làm tăm.

Cuộc đời ngài đã làm biết bao công việc lớn lao. Từ một giáo phận mới thành lập chưa có gì, ngài đã xây dựng Long xuyên thành một giáo phận tương đối vững mạnh. Nhưng bản thân ngài luôn sống đơn sơ khó nghèo.

Như vậy có thể thấy những nét chung của các vị chủ chăn làm nên tinh thần giáo phận Lạng sơn – Cao bằng. Đó là tinh thần gia đình và tinh thần đơn sơ khó nghèo. Vì yêu thương nên sống tình thân thương gần gũi với giáo dân, coi mọi người là người thân trong gia đình mình. Vì yêu thương nên sống đơn sơ khó nghèo để chia sẻ với giáo dân, để hòa mình vào cảnh sống người dân sơn cước nghèo khổ. Tinh thần đó phải được xây dựng trên nền tảng Lời Chúa, từ bỏ gia đình riêng, để nhận gia đình Chúa làm gia đình mình. Đó là tinh thần truyền giáo của các vị thừa sai, đến đâu thì yêu thương mảnh đất và con người ở đấy, trở nên gia đình thân thiết với người ở đấy, sống gắn bó chan hòa với phong tục địa phương nơi ấy.

Thật trùng hợp, hôm nay tinh thần ấy trở nên trong sáng, trở nên khuôn mẫu với Đức Thánh Cha Phanxicô. Được bầu làm giáo hoàng mới được 100 ngày, ngài đã hấp dẫn toàn thế giới nhờ tinh thần đơn sơ khó nghèo và gần gũi thân dân của ngài.

Người ta đua nhau truyền tụng và học tập gương sống khó nghèo của ngài. Từ khi còn làm giám mục, đã không ở tòa giám mục, nhưng ở chung cư. Đã không có xe riêng nhưng dùng xe buýt. Khi làm giáo hoàng, không chịu ở trong điện Vatican, nhưng ở nhà khách Martha để chia sẻ với những vị khách khác. Mới đây khi đến Brazil với ngày đại hội giới trẻ, ngài đã sử dụng chiếc ô tô đơn sơ cũ kỹ của ngài.

Còn về thân dân. Ngài gặp gỡ từng người. Ôm hôn những người tàn tật. Chúc phúc cho trẻ em. Thăm người bị nạn đắm tầu. Rửa chân cho những tội phạm, trong đó có những phụ nữ Hồi giáo.

Ngài đang được cả thế giới mến mộ. Ngài đang đem đến cho Giáo hội và thế giới một luồng sinh khí mới. Ngài đang làm cho Tin mừng trở nên sống động, cụ thể và hấp dẫn.

Lạ lùng thay đó chính là tinh thần của các vị tiền bối Lạng sơn – Cao bằng. Phải chăng từ khi thành lập giáo phận, các vị tiền bối của giáo phận đã nhìn thấy con đường truyền giáo phải là con đường yêu thương và từ bỏ. Yêu thương nên coi giáo phận là gia đình mình. Mọi người dân trong giáo phận là thân nhân mình. Yêu thương nên sống đơn sơ khó nghèo để gần gũi dân, để chia sẻ với dân. Và nhất là để làm sáng lên Tin mừng Nước Trời.

Trăm năm nhìn lại, Lạng sơn – Cao bằng vẫn là một giáo phận truyền giáo. Nếu không truyền giáo giáo phận chẳng còn ý nghĩa gì. Nếu truyền giáo, thì tinh thần gia đình và tinh thần đơn sơ khó nghèo của các bậc tiền bối truyền lại vẫn là một khí cụ hữu hiệu. Hơn nữa lại phù hợp với chủ trương của Đức Thánh Cha Phanxicô. Chủ trương ấy đang đem lại những hoa trái mới cho Giáo hội. Chắc chắn với tinh thần gia đình và tinh thần đơn sơ khó nghèo, Lạng sơn – Cao bằng sẽ khởi đầu bách chu niên mới với nhiều khởi sắc. Sẽ được các bậc tiền bối phù trì. Và được Thiên Chúa chúc phúc.

+Tổng GIám mục Giuse Ngô quang Kiệt
Nguyên Giám mục Lạng sơn – Cao bằng

  Ý kiến bạn đọc

Mã bảo mật   
Đăng ký nhận tin
Nhập email để nhận được những tin tức mới nhất từ chúng tôi.
Thống kê truy cập
  • Đang truy cập16
  • Máy chủ tìm kiếm1
  • Khách viếng thăm15
  • Hôm nay4,026
  • Tháng hiện tại77,491
  • Tổng lượt truy cập956,359
Đánh giá website

Quý vị đánh giá website GPLS thế nào?

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây